Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

THƠ HOÀNG LỘC


xin được nghỉ ngơi

nghỉ ngơi thôi, hỡi gã làm thơ già
núi đã tàn rồi - kìa, biển cũng cạn
chữ nghĩa một đời, một đời hoạn nạn
cứ nổi chìm hoài theo mỗi câu thơ

hãy nghỉ ngơi thôi, cha mẹ chết rồi
cố xứ gọi về, (bạn bè cũng gọi)
bệnh hoạn bao năm hết còn nhớ rượu
lại nhớ những điều rất đỗi không nên

yêu ta một thời em vẫn là em
áo một thời bay, tóc một thời chảy
là mây là sông chưa từng ở lại
(ta vẫn một đời chỉ đứng ngó theo)

nghỉ ngơi được rồi hỡi gã làm thơ
đĩa dầu đã hao đêm còn gió nổi
kiếm một chỗ nằm nghe mình hối lỗi
về một chữ tình đáng lẽ không nên....
2010

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2010

CÂY NHANG TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT(*)


Tục đốt nhang (hay còn gọi là thắp hương, dâng hương) đã có ở nước ta từ lâu đời. Nó đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Dù là ngày Tết, ngày giỗ chạp hay ngày thường, người ta đều đốt nhang.
Nghề làm nhang rất phổ biến tại Việt Nam - Ảnh: wikipedia
Đặc biệt trong những ngày Tết, nhang càng được đốt nhiều hơn. Vì ngày Tết có nhiều việc cúng kiếng: nào cúng đất trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này.
Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng.
Theo các nguồn tài liệu, cây nhang có nguồn gốc từ bán đảo Ả-Rập, được các lái buôn người Hy Lạp chuyên chở sang bán tại các nước châu Á, khoảng từ thế kỷ thứ 11. Cây nhang này có mùi thơm dịu, được chiết xuất từ một giống cây mọc ở miền Nam bán đảo Ả-Rập.
Còn theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, cây nhang có nguồn gốc từ Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách.
Khi xưa, tục Tàu tế tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời Vũ đế nhà Hán, vua sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây vực, thuộc Ấn Độ). Vua nước ấy đầu hàng, dâng một tượng thần bằng vàng cho vua Vũ đế đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần ấy, không phải dùng đến trâu, bò mà chỉ đốt hương lễ bái mà thôi. Từ đó, Tàu mới có tục đốt hương.
Sách xưa còn chép rằng: Thứ sử Giao Châu - Trương Tân thường đốt hương ở Cát Lập tịnh xá để đọc đạo thư. Tục đốt nhang ở ta có lẽ bắt đầu từ đó. Rồi cùng với quá trình phát triển của đạo Phật, tập tục đốt nhang du nhập vào nước ta ngày càng phổ biến.
Nhang có nhiều loại, nhiều kiểu: nhang thường, nhang ướp hương, nhang tròn, nhang khoanh… tất cả đều có chung một công dụng: đốt lên cho ấm cửa ấm nhà, đốt lên bàn thờ tổ tiên ông bà, bàn thờ Phật vào hai buổi sáng - chiều như gửi một lời chào đến các vị bề trên, nhằm báo cho các vị biết lúc nào chúng tôi cũng nhớ đến các vị.

Tiểu Khang
*HTTV truy cập từ TNO như một tài liệu tham khảo

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

THƠ TRẦN THỊ TIÊN HÀI


Bên hồ Thuỷ Trúc

Gót hài dẫm lối cỏ xanh
Chợt nghe trong nắng nghiêng buồn thơ anh
Hồ Thuỷ Trúc một dòng xanh
Tiếng thơ em gọi,chông chênh nỗi sầu
Chim rừng hỡi bay về đâu
Để tim em nhuốm một màu khói sương
Đã đi qua vạn dặm đường
Bây giờ mới gặp người thương bẽ bàng?

Em về mgâm khúc tình ca
Yêu anh thật đấy...nhưng là mơ thôi

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

CAO HUY KHANH - VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN (KỲ 5)


CAO HUY KHANH
VIỆT NAM
HỒ SƠ HẬU CHIẾN
1975 - 2010
NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Kỳ Năm

48/ Cao Thị Quế Hương
TRONG SUỐT PHA LÊ
Cán bộ hưu trí sinh tại miền Trung khoảng năm 1943. Sống ở Đà Lạt (2010).
Trước 75 tốt nghiệp ĐH Sư phạm Sài Gòn ra đi dạy nhưng cùng lúc tham gia phong trào đấu tranh chống chế đội Thiệu – Kỳ, trở thành một thủ lĩnh giáo chức và sinh viên tranh đấu nổi tiếng nhiều lần bị bắt và đưa ra toà án chế độ cũ. Bị tra tấn khốc liệt tới mức có khi phải ra tòa trên cáng bệnh nhân nhưng vẫn dũng cảm kiên cường chống đối tới cùng. Cả người chồng chưa cưới – bí thư Thành đoàn thời đó –cũng bị sát hại trong thời gian bị bắt.
Tiếp tục bị giam giữ đày ải tới ngày Giải phóng mới được giải thoát.
Một tấm gương trí thức chiến đấu quả cảm, nổi tiếng trong giới trẻ và người yêu nước thành thị nhưng sau 75 chỉ nhận nhiệm vụ khiêm tốn ở Hội Trí thức TPHCM nhằm giúp đỡ giới này “làm quen” với Cách mạng. Còn trực tiếp lên nông trường Thái Mỹ ở Củ Chi sát cánh với giới trí thức tham gia lao động sản xuất, sống và làm việc cực kỳ gương mẫu.
Năm 1979 chấp nhận từ bỏ tất cả chức vị – cả “hào quang” – ở Sài Gòn cũ để xin chuyển về Đà Lạt làm công tác tại Hội Phụ nữ Lâm Đồng chỉ với mục đích phụng dưỡng mẹ già tuổi già neo đơn. Rồi lặng lẽ về hưu với hai bàn tay trắng, chưa hề tham gia chính quyền mà chỉ hoạt động trong đoàn thể. Từ chối mọi bổng lộc ưu ái, không nhận nhà đất cấp cho nại lý do… đã có nhà của cha mẹ để lại rồi!
Cùng mẹ già trồng chè, làm vườn, đan lát để có thêm thu nhập qua ngày. Tận tình chăm sóc mẹ già mấy năm nằm liệt giuờng sau đó cho đến ngày mẹ qua đời. Còn lại một mình không chồng con vẫn tìm niềm vui giúp đỡ lớp sinh viên đàn cháu. Hàng năm vẫn về TPHCM làm giỗ người chồng - chưa sống chung ngày nào – liệt sĩ Thành đoàn.
Một tấm gương trong suốt người Cộng sản chân chính hiếm còn thấy lại - một “Paven nữ”!

49/ Đỗ Ngọc Yến
SÁNG LẬP BÁO “NGƯỜI VIỆT”
Nhà báo ở Mỹ sinh 1941 tại Nam Định – Mất 2006 ở Mỹ (66 tuổi).
Trước 75 hoạt động trong phong trào văn nghệ trẻ và báo chí Sài Gòn.
Di tản đến Mỹ sau 30.4.75, bắt tay vào việc xuất bản báo “Người Việt” năm 1978 ở California với vốn liếng 4.000 USD dành dụm, ban đầu là tuần báo 4 trang in đen trắng hàng tuần với ít người làm tại toà soạn đặt ngay trong nhà để xe, in xong tự tay đem đi phát báo ngoài đường.
Nay là tờ nhật báo tiếng Việt đầu tiên lâu năm và có số phát hành cao nhất ở hải ngoại (số đầu tiên 2.000 bản, hiện tại khoảng 18.000 bản/ngày).
Là một con người nho nhã, chừng mực nên từng bị phê phán là có lập trường hơi “ôn hòa” đối với chế độ VN hiện tại, được xem là “tiếng nói của giới trí thức Little Sai Gon” chủ trương một tiếng nói “khá ôn hoà” giữa cộng đồng hải ngoại bị sức ép của các phe nhóm thế lực chống Cộng. Nhưng vẫn giữ quan điểm “Tôi không thích tuyên truyền và chủ nghĩa giật gân trong báo chí. Tôi chỉ muốn trình bày các sự kiện mà không muốn tô điểm gì thêm. Từ gốc xuất thân, tôi là người chống tuyên truyền trong báo chí và xuất bản.”
Vì vậy có lúc bị đưa vào danh sách “đen” thân Cộng bên đó, đòi phải từ chức.
Cuối đời mắc bệnh thận phải lọc máu hàng ngày.

50/ Đỗ Thị Kim Ngân
17 NĂM ĐI TÌM TRẢ LẠI TÊN CHA TRÊN MỘ
Công chức sinh 1961 tại Ninh Bình. Sống ở Hà Nội (2009).
Khi mới 13 tuổi thì cha đã hy sinh trên chiến miền Nam năm 1974 nhưng không rõ tông tích, mộ chí hay hài cốt ở đâu. Cho nên lớn lên có một tâm nguyện không đổi dời là quyết chí đi tìm cha.
Từ năm 1992 bắt đầu cuộc hành trình gian nan 17 năm truy tìm tin tức của người cha liệt sĩ qua nhiều tỉnh thành, đơn vị cha từng sống và chiến đấu. Cuối cùng nhờ sự giúp đỡ chí tình của nhiều người cũng tìm được ngay trên quê hương Tuy Hòa (Phú Yên) của ông, đã được quy tập về Nghĩa trang Đông Tác song vẫn nằm trong khu vực mộ vô danh. Từ nay ngôi mộ đó đã có tên nhờ công lao con gái sau 43 năm mất tên.
Đi kèm với cuộc hành trình tìm kiếm nhiều khi tưởng đã vô vọng là cuốn “Nhật ký tìm cha” hơn 200 trang con gái ghi lại, cả nỗi đau, tuyệt vọng lẫn vui mừng khôn xiết kể ngày “đoàn tụ” mỗi người một cõi: “Lần đầu tiên tôi cầm bút viết nhiều và liên tục như thế này. Tôi chỉ muốn ghi lại những thôi thúc, những chặng đường và tri ân những tấm lòng xa gần trên bước đường tôi lần về tìm lại dấu chân hy sinh của cha mình…”

51/ Đỗ Thị Là
KHÔNG CHỒNG CÓ CON CŨNG KHÔNG SỐNG ĐƯỢC
Thường dân sinh 1946 tại Thái Bình. Sống ở Thái Bình (2006).
Cựu thanh niên xung phong thời chống Mỹ, năm 1977 mới trở về quê không chồng nhưng có bồng theo một bé gái mới 8 tháng tuổi xem như niềm an ủi cho đời gái lỡ thì. Đây là tình trạng phổ biến của giới nữ thanh niên xung phong thời đó, có người muốn “xin” con – chấp nhận có “con hoang” – để có người đỡ đần tuổi già đơn thân nhưng vẫn bị dư luận chống đối, bài bác, khinh bỉ.
Nhưng than ôi, bé bị bệnh bại não bẩm sinh – hậu quả CĐDC - sống èo uột đến năm 17 tuổi thì qua đời. Vậy nhưng nhà cửa quá tả tơi không lập nổi một bàn thờ đàng hoàng cho con mà phải bỏ qua sống nhờ nhà bà con.
Nỗi lòng đau xót không kể xiết: Ăn rau dại, uống sương rừng, chịu đói chịu rét… đời tôi đã qua tất cả những mong con cái mình sẽ được ấm no hạnh phúc. Vậy mà cả đến khi xấu số thiệt phận, cháu vẫn chưa có nơi tử tế để đi về…”

52/ Đỗ Thông Minh
TỪ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ QUA VĂN HÓA
Nhà hoạt động văn hóa sinh 1950 tại Nam Định. Sống ở Nhật Bản (2006).
Vào thời điểm 30.4.75 đang là du học sinh miền Nam tại Nhật Bản.
Sau 75 có một thời gian ngắn qua Mỹ hoạt động chính trị chống Cộng nhưng rốt cuộc thấy chẳng đi đến đâu nên cuối cùng quay về lại Nhật năm 1983.
Từ đó chuyển hẳn qua hoạt động văn hóa nhắm mục tiêu phục hồi nền văn hóa dân tộc, giúp văn hóa nước nhà sớm thoát cảnh tụt hậu bằng nhiều hoạt động đa dạng như tổ chức kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du, 100 năm phong trào Duy Tân, lập kế hoạch 10 năm du thuyết văn hóa VN, soạn các bộ từ điển Hán – Việt, Anh – Việt, Pháp – Việt, Đức – Việt, Nhật – Việt, từ điển tin học, lập cơ sở Mekong ở Nhật…
Hoạt động không ngưng nghỉ đi về như con thoi giữa các nước dù mắc bệnh hư thận với trong người hiện có một quả thận do vợ hiến cho từ năm 1990.

53/ Đồng Văn Khuyên
ÔNG TƯỚNG ĐI TU
Tu sĩ Phật giáo sinh 1926 tại Gò Công. Sống ở Mỹ (2005).
Nguyên trung tuớng Bộ Tổng tham mưu chế độ cũ nổi tiếng thanh liêm trong sạch, là chỉ huy quân đội cao cấp vào hàng thứ hai của quân đội Sài Gòn vào thời điểm 30.4. Di tản qua Mỹ ngay sau đó.
Đến gần cuối đời đã xuất gia đi tu chùa gần nhà với pháp danh Chúc Thành.
Tu nghiêm túc thực thụ, đêm trải đệm nằm dưới chân thầy trụ trì tuy chỉ bằng tuổi con mình. Chấp hành nhiệm vụ quen thuộc thường xuyên là… quét lá sân chùa: Hễ thấy lá rụng sân chùa – bất cứ chùa nào - là cầm chổi quét mải miết!
Mà vẫn hồn nhiên tự tại với bạn bè đệ tử cũ rằng “Tập trung suy nghĩ, nhập vào một chữ Thiền thôi.”

54/ Giản Chi
HỌC GIẢ SỐNG THỌ NHẤT
Học giả tên thật Nguyễn Hữu Văn sinh 1903 tại Hà Nội – Mất 2005 ở TPHCM (102 tuổi).
Thuộc lớp trí thức, học giả thời Tiền chiến di cư vào Nam năm 54.
Nhưng không quan tâm đến thế sự chính trị mà chỉ chuyên tâm vào dạy học văn học cổ, thầy của nhiều thế hệ nhà giáo dạy văn từ ĐH Sư phạm và ĐH Văn khoa Sài Gòn. Đồng thời nghiên cứu văn học – văn hóa phương Đông với vốn kiến thức tự học bao la chứ không có bằng cấp chuyên môn mà chỉ là công chức ngành bưu điện. Từ đó cộng tác với Nguyễn Hiến Lê thực hiện nhiều công trình biên soạn, dịch thuật đồ sộ giá trị về văn học, triết học Đông phương, Trung Quốc.
Bên cạnh đó luôn luôn giữ một thái độ “trung lập” về chính trị, cùng cụ Nguyễn đã từ chối nhận giải thưởng văn hóa của chế độ cũ.
Sau 75 có tham gia một số hoạt động văn hóa dân tộc và vẫn ở lại một mình không theo con cháu ra nước ngoài dù đã đến trăm tuổi xưa nay hiếm.
Một tấm gương “đạt đạo” cả đạo Nho lẫn đạo Lão mà ông thấm nhuần suốt đời và sự nghiệp mình. Hình như biết bao thế sự thăng trầm vẫn không mảy may “đụng” được tới ông – dù một hạt bụi! - như hình ảnh cốt cách của một tiên ông tiên phong đạo cốt! Điều đó có thể tìm thấy trong tập thơ duy nhất in năm 1993 mang tựa đề “Tấc lòng”:
“Ô hay! Cuộc sống như vầy hả?
Ngó trước trông sau bóng hỏi hình.
Một kiếp phù du vờ ấy xác
Trăm khoang huyễn hoặc giả là danh.
Được thua đi ở âu phần mệnh
Phú quý công danh lọ giật giành…”

55/ Hanmoi Nguyễn
VƯỢT BIÊN ĐẾN… ISRAEL
Công nhân nhà hàng ở Tel Aviv sinh tại VN. Sống ở Israel (2006).
Vượt biên năm 1977 được một tàu Israel vớt chở về Israel được nhập quốc tịch luôn. Làm công nhân một nhà hàng ở Thủ đô Tel Aviv cùng vợ nuôi 5 con.
Con cái hòa nhập nhanh, nói tiếng Hebrew giỏi hơn tiếng Việt, thậm chí con gái lớn còn tình nguyện gia nhập quân đội Israel đánh Palestine. Nhưng bản thân buổi tối vẫn còn giữ thói quen làm thơ tiếng Việt và ngâm nga “nhạc vàng” ngày xưa.
Đã cùng con gái về thăm quê hương cũ và mô tả quê hương mới của mình rằng “Xứ họ có một cái hồ lớn lắm và họ ăn uống đồ ăn… lạ lùng lắm!”
Nhưng kẻ di dân hiếm có này cũng đã trở thành nhân vật chính của một bộ phim do đạo diễn Israel thực hiện mang tựa đề “Cuộc phiêu lưu của Vân Nguyễn” – bộ phim Israel cũng rất hiếm có nói tiếng Việt bên cạnh tiếng Hebrew (tiếng Anh chỉ phụ đề).

56/ Hoa Hướng Dương
NHÀ THƠ NỮ MÙ HẢI NGOẠI
Nhà thơ nữ tên thật Nguyễn Ngọc Minh sinh tại Phú Quốc. Sống ở Mỹ (2008).
Trước 75 là giáo viên từng sáng tác, viết báo ở miền Nam. Sau 75 qua Mỹ sớm ngoài công việc kiếm sống vẫn tiếp tục niềm đam mê văn học.
Đến năm 1997 mắc bệnh bị mù cả 2 mắt song vẫn không từ bỏ nghiệp sáng tác bằng cách chuyển qua đánh trên máy vi tính (có cài phần mềm đặc biệt dành cho người khiếm thị), xong nhờ chồng đọc lại ghi vào băng cassette để tự mình nghe mà sửa chữa, bổ sung. Cứ như thế đã cho ra mắt 3 đĩa CD ngâm thơ trong đó có 10 bài được phổ nhạc.
Gần đây nhất năm 2007 tiếp tục trình làng truyện dài “Qua biển” 230 trang viết về chuyện tình trước 75 ở Phú Quốc và thêm tập thơ 500 trang mang tựa đề “Gọi hồn dân tộc”. Năm 2008 thêm 3 đĩa CD thơ nữa với nhiều nỗi niềm tâm sự đời người “Gãy cánh kiêu sa” và “Mùa xuân đã mất”. Trong đó có không ít nỗi nhớ gửi về quê mẹ Phú Quốc:
“Gió từ An Thới đến Dương Đông
Gió lướt qua trên vạn cánh hồng
Gió tạt vào rừng mai Cửa Cạn
Hỏi nàng hoa nhỏ có chờ mong…”

57/ Hòa Vang
“HẠT BỤI BAY NGƯỢC”
Nhà văn tên thật Nguyễn Mạnh Hùng sinh 1946 tại Hà Tây – Mất 2006 ở Hà Nội (61 tuổi).
Bộ đội chống Mỹ trên chiến trường miền Trung (bút danh Hòa Vang lấy tên một quận của Đà Nẵng kỷ niệm thời chiến đấu tại đây). Sau 75 xuất ngũ trở về đi dạy học, làm công chức rồi bỏ đi làm nhà văn tự do từ năm 1990 sống cuộc đời văn nghệ lang bạc phóng túng.
Là một trong 2 người cùng bạn văn Nguyễn Lương Ngọc từng tổ chức cuộc đi bộ xuyên Việt đầu tiên chào mừng đất nước thống nhất một cõi từ Hà Nội vào TPHCM vào khoảng giữa những năm 80 thế kỷ trước. Cho đến nay đây vẫn là cuộc đi bộ tham quan quê hương dài nhất lịch sử VN.
Rất mê văn chương – ban đầu là văn sau chuyển qua thơ - và suốt quãng đời còn lại đã lận đận, vất vả khốn cùng vì món nợ văn chương đó hành hạ. Đã vậy, ấy lại là một hướng văn chương được mô tả là chuyên “làm chuyện ngược đời” như bản chất một người “thích gây sự” trước những chuyện phi lý cuộc đời – sau này gọi là chuyện “tiêu cực” - đúng như nhan đề một tác phẩm của mình “Hạt bụi người bay ngược”. Trước khi mất thậm chí còn tự biên tập… điếu văn cho mình!
Cuối cùng bệnh ung thư gan vì rượu đã chận đường bay của “hạt bụi nổi loạn” một cách phũ phàng. Khi Lương Ngọc mất, đã viết bài tưởng niệm “Người đồng hành vượt trước” thì chỉ không lâu sau đó anh đã vội vàng “bắt kịp”!

58/ Hoài Điệp Tử
NHÀ BÁO BỊ ÁM SÁT
Nhà văn, nhà báo tên thật Phạm Văn Tập sinh 1943 tại Bạc Liêu – Mất 1987 ở Mỹ (45 tuổi).
Trước 75 thuộc nhóm nhà văn Nam bộ viết báo – gồm Dương Trữ La, Trương Đạm Thủy… - chuyên sáng tác loại “tiểu thuyết diễm tình” lãng mạng ướt át khá phổ biến trong giới độc giả bình dân miền Nam.
Sau 75 vượt biên qua Mỹ sáng lập tuần báo Mai năm 1991 và tiếp tục làm thơ, viết tiểu thuyết tình cảm như “Đỉnh núi sương mù”, “Còn xanh kỷ niệm”, “Tình biển”…
Vẫn có khuynh hướng chống Cộng (làm thơ nhiều về đề tài vượt biên) nhưng không quá cực đoan và không hiểu có phải vì vậy hay không mà năm 1987 toà soạn báo Mai bị đốt cháy làm ông bị chết thiêu luôn trong đó (nghe nói chỉ vì lý do có đăng một mẩu quảng cáo gửi hàng về VN!).
Đây là một nghi án mà cảnh sát Mỹ hồi đó “làm lơ” không tìm ra thủ phạm tuy dư luận hải ngoại cho rằng ấy là một hành động của các nhóm chống Cộng dữ dằn chủ trương bạo lực thời này. Có thông tin rằng ông đã bị họ nhốt lại trong phòng khóa cửa lại trước khi phóng hỏa!
Một số tiểu thuyết của ông đã được Nxb Long An in lại từ những năm 1990.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

THƠ LÊ THỊ KIM


XA MÀ GẦN

Ấm nóng giọt lệ tình
Đậm hương mà trong vắt
Vẫn giọt lệ nguyên tinh
Không không mà sắc sắc

Làm sao ai biết được
Giọt lệ thuở cài trâm
Đam mê mà tĩnh lặng
Của một thời xa xăm

Anh xa mà gần lắm
Mối tình thưở môi thơm
Chỉ như là chiếc lá
Đủ làm mềm không gian

Ta bao giờ vẫn vậy
Vụt thoát theo năm tháng
Tình yêu theo năm tháng
Vời vợi cùng mông lung

Chỉ cỏ cây mới biết
Mình trú ngụ nơi đâu
Chỉ đất trời mới biết
Tình mình thiên thu sầu.

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

MỘT NGÀY BUỒN BẢ...


Sáng sớm , điện thoại của anh tôi từ Huế gọi vào:Chú Lô đã qua đời 4 giờ sáng nay.Tin không mấy đột ngột vì cách đây gần 3 tháng trong một chuyến về Huế chú đã yếu ,tôi nghĩ chú khó qua khỏi mùa đông này.Chú tôi năm nay đã ở tuổi 80,ra đi trong vòng tay của làng nước quê nhà ,thế là thanh thản.Sở dĩ tôi viết những dòng này là vì có "dính líu"một chút về văn nghệ.Trước năm 1975 chú tôi có một nhà sách ở thành phố Quy Nhơn,số 33 Phan Đình Phùng.Chú rất mến anh em văn nghệ cơ nhở nên nhà sách của chú là tụ điểm của anh em làm thơ viết văn từ Huế vào,Sài Gòn ra,cà phê,thuốc lá,một bữa cơm đạm bạc đỡ đói lòng trong số đó có Thái Ngọc San,Lê văn Ngăn ...Nếu nói ở Nha Trang có nhà sách của Nguyễn Huy Hoàng ở 280 đường Độc Lập là nơi dừng chân của anh em văn nghệ như Trần Vạn Giã,Nguyễn Hoàng Thu,Thế Vũ,Phạm Tấn Hầu thì nhà sách Văn nghệ ở Qui Nhơn là tụ điểm thứ hai.
Bây giờ chú tôi đã rong chơi cõi khác chỉ biết cầu nguyện hương hồn chú thanh thản ra đi...

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

THƠ HOÀNG LỘC

tống khúc

mừng em về chỗ-không-còn
tình, như sợi chỉ treo chuông - đứt rồi
đã không níu nổi tay người
thì gan liều có bằng trời, cũng khinh

mừng em về với riêng mình
dường như cái nghĩa cái tình - ngang nhau
cầm bằng sả một đường dao
vết thương chờ đến kiếp sau, lại lành

chút gì thơ dại trong anh
mừng em lòng vẫn không đành, nhỏ ơi...

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

CAO HUY KHANH - VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN (KỲ 4)


CAO HUY KHANH
VIỆT NAM
HỒ SƠ HẬU CHIẾN

1975 - 2010
NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Kỳ Bốn


36. Đào Mộng Nam
DI CHÚC IN THƠ TIỀN NHÂN
Học giả sinh 1940 tại Nam Định – Mất 2006 ở Mỹ (67 tuổi).
Học giả Hán Nôm – và viết sách dạy học chữ Hán - nổi tiếng ở miền Nam trước 75, di tản qua Mỹ làm chuyên viên ngành này cho ĐH Cornell.
Trên xứ người vẫn cặm cụi làm chuyện mà thậm chí ở trong nước cũng ít ai thèm làm là đã tập trung dịch hơn 3.000 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát thành tập “Cao Chu Thần toàn tập”. Dịch ròng rã trong hai thập niên 80-90 mới xong song đến lúc qua đời vẫn không có điều kiện in. Vì thế đã để lại di chúc cho gia đình cố gắng in sau khi mất.
Nhưng có lẽ đến nay việc này vẫn chưa làm được.

37. Đào Ngọc Lời
THƯƠNG BINH CHỐNG NẠNG ĐI TÌM CON
Thường dân sinh 1946 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2006).
Bộ đội tham gia chiến trận Đường 9 Nam Lào, Quảng Trị, đường mòn Hồ Chí Minh. Sau 13 năm máu lửa bị thương cụt một chân mới phục viên năm 1977.
Lấy vợ cũng là một cựu chiến binh sinh được con trai năm 1979 thì mắc bệnh CĐDC thường xuyên bị co giật và nổi cơn phá phách đồ đạc trong nhà tan hoang. Em còn thêm chứng ngớ ngẩn hay bỏ nhà đi lạc, đi lang thang như kẻ mộng du vô thức hoàn toàn không biết đường về khiến bố bất kể ngày đêm hay mưa gió phải chống nạng đi tìm con khắp phố chợ…

38. Đào Văn Tư
SỬA XE ĐẠP LÀM TỪ THIỆN
Bộ đội về hưu sinh 1934. Sống ở TPHCM (2006).
Cựu bộ đội thông tin về hưu năm 1994 thì ngay năm sau ra đầu ngõ ngồi… sửa xe đạp, vợ con không ai cản được! Nhưng sửa lấy tiền không phải cho mình hay cho gia đình mà gom góp đem đi đóng góp cho các quỹ từ thiện đúng như bảng hiệu ghi trên thùng đóng góp “Sửa xe ủng hộ người nghèo”.
Làm quá có lần ho ra máu phải vào viện nhưng vừa ra viện đã lại có mặt thường trực ở điểm sửa xe đạp quen thuộc. Tuy rằng “Bây giờ xe đạp ít lắm nhưng kệ, một ngày kiếm được ký gạo cho người nghèo là mừng rồi.”


39. Đào Xuân Quý
CHỊU ĐIỀU TIẾNG NUÔI CON NUÔI
Làm doanh nghiệp nhỏ. Sống ở Hải Phòng (2009).
Bộ đội xuất ngũ sau 75 gia đình đã có 5 con hoàn cảnh khó khăn song vẫn nhận nuôi thêm 5 người con nuôi nhà nghèo hậu quả chiến tranh nữa. Bắt đầu từ một Bà mẹ Anh hùng mắc bệnh qua đời do không có tiền chạy chữa để lại một đứa chắt bị hỏng một mắt không nơi nương tựa.
Những đứa con nuôi của ông đem về nuôi từ nhỏ còn có em mất cha mẹ làm nghề đào núi bị đá đè chết, có em bị mẹ đẻ bỏ rơi từ lúc còn bồng ẵm… Nuôi trong cảnh cực nhọc tới mức có lúc phải xé áo may ô lấy làm tã lót cho cháu. Nay thì các em đều đã trưởng thành, có em tình nguyện đi bộ đội nối nghiệp cha nuôi.
Chuyện nuôi nhiều con nuôi như vậy còn gây điều tiếng dị nghị cho gia đình, có người nghi đó hẳn là… con rơi của ông hoặc gia đình ông có ý đồ lợi dụng làm ăn gì gì đó. Nhưng vẫn bất chấp tất cả vì: “Tính mình là thế, có lúc hai bàn tay trắng nhưng thấy người khác khổ không thương không chịu được. Tôi nuôi bọn trẻ không tơ hào gì, cũng không chờ đền đáp. Các cháu sinh ra đã thiệt thòi, chỉ mong sau này chúng lớn lên thành người và đi vào con đường tươi sáng…”

40. Đặng Ngọc Giang
LÀM LẠI CUỘC ĐỜI TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA
Thường dân sinh tại Hà Nội. Sống ở Gia Lai (2007).
Bộ đội đánh Mỹ ở Tây Nguyên, sau 75 xuất ngũ lập gia đình sinh được 4 con đều dính CĐDC nên chán đời bỏ nhà đi đãi vàng sống đời lang thang phiêu bạt khắp chốn không màng đến tương lai.
May sao đến năm 2000 được tin vợ sinh thêm một con trai không còn mắc bệnh CĐDC nữa mới quay về nhà. Bấy giờ quyết chí làm lại cuộc đời bằng cách dẫn vợ con… trở lại chiến trường xưa ở Gia Lai tìm một vùng đất hoang dưới chân đèo Tô Na bắt tay vào khai khẩn sản xuất.
Từ đó trở thành một người tiên phong vận động giúp đỡ người dân tộc Jarai trồng bông, làm lúa nước, giúp đỡ trẻ em mồ côi trong vùng (còn nuôi thêm một đứa con nuôi nguời dân tộc tật nguyền bị bỏ rơi) nên rất được đồng bào dân tộc kính trọng và yêu mến.
Thỉnh thoảng nếu có thấy buồn cuộc đời thì ngậm ngùi ngâm nga mấy câu thơ (tác giả Liên Xô cũ) tự an ủi:
“Hạnh phúc và bất hạnh
Niềm vui và nỗi buồn trong cuộc đời mỗi người
Luôn luôn là sự song hành….”

41. Đặng Ngọc Khoa
NHÀ BÁO CỦA NHỮNG SỐ PHẬN “LÝ LỊCH”
Nhà báo sinh 1957 tại Đà Nẵng – Mất 2009 (53 tuổi).
Trước 75 từng hoạt động trong lực lượng học sinh sinh viên tiến bộ ở Đà Nẵng rồi vào chiến khu theo Cách mạng làm lính đặc công chiến đấu. Nhưng sau 75 bị tổ chức… bỏ rơi do lý lịch gia đình “có vấn đề”!
Nhưng vẫn không mất tinh thần, tình nguyện vào thanh niên xung phong tiếp tục chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Trở về vẫn không được ai nhận vào làm việc đành bỏ lên Tây Nguyên làm rẫy rồi quay về lại Đà Nẵng… làm ruộng! Vào làm hợp tác xã tìm cách phát huy năng lực có sẵn về văn nghệ để làm văn nghệ quần chúng ở cơ sở rất đa năng từ viết kịch, dựng kịch đến làm phát thanh viên, nhạc công, thơ vè, cải biên dân ca…
Một thời gian sau được đồng đội cũ giúp đỡ đưa về làm Sở Văn hóa – Thông tin nhưng được một năm thì bị “đì” lên huyện miền núi ở ba năm đến khi về lại thành phố thì… không cho nhập lại hộ khẩu! Thế là lại thất nghiệp về làng làm việc vặt phụ vợ.
Mãi đến năm 1989 mới lại được đồng chí cũ đưa về làm báo Hội LH Thanh niên ở Đà Nẵng song chỉ được 9 tháng thì báo dẹp tiệm lại trở về thất nghiệp. Hết đường xoay xở, cuối cùng đành chọn con đường “hành phương Nam” đưa vợ con vào Đồng Nai… làm rẫy. Rồi may được bạn bè thương tình giới thiệu cho đi dạy… môn thể dục ở trường cấp 2.
Đến đây xem chừng mới hết vận hạn khi sau đó nhờ ở gần TPHCM nên được báo Thanh Niên “nhớ” gọi về làm phóng viên từ năm 1991.
Về làm báo như cá gặp nước, bắt đầu phát huy mọi tài năng viết phóng sự bám sát thực tiễn cuộc sống trên địa bàn miền Trung quen thuộc. Đặc biệt rất quan tâm tìm hiểu, phát hiện về những số phận bị thành kiến xã hội phân biệt vùi dập oan uổng như trường hợp Nguyễn Mạnh Huy ở Nghĩa Bình cũ đã đậu đại học mà địa phương vẫn không cho phép đi học. Đó là những số phận lao đao, điêu đứng thời Hậu chiến do “di sản” lý lịch gia đình để lại ngoài ý muốn như chính bản thân mình từng trải qua. Bên cạnh đó là những cuộc đời bất hạnh khốn khó của trẻ em nghèo, đồng bào bị thiên tai…
Đang lúc sung sức muốn làm rất nhiều việc giúp đời giúp người hơn nữa như để cố gắng níu kéo lại quãng thời gian đã mất oan uổng thì đột ngột căn bệnh ung thư quái ác đã cướp mất tất cả những gì được anh nâng niu ấp ủ còn sót lại sau một thời thanh xuân đã hết chiến tranh mà vẫn cứ còn bão táp!

42. Đặng Thị Xuân Hợp
“LÀNG VN” Ở PHILIPPINES
Thường dân ở Mỹ sinh 1963 tại Quảng Ngãi. Sống ở Mỹ (2006).
Cùng chồng đều là thợ may đạo Thiên Chúa và người anh vượt biên năm 1989 từ Phan Thiết trên tàu chở 169 người, sau 7 ngày lênh đênh tàu bị hư máy trôi giạt, thức ăn nước uống sắp cạn kiệt thì may gặp được tàu Philippines cứu đưa về trại tỵ nạn Palawan.
Từ đó trải qua 8 năm trong trại chưa được nước nào tiếp nhận trừ người anh từng ở tù VN được đi Mỹ. Tại đây sinh được 4 con, đứa đầu bệnh mất chôn ngay trong trại (sau hỏa thiêu gửi về quê chôn bên làng ngoại).
Năm 1997 giới từ thiện hải ngoại chủ yếu là các soeur đạo Thiên Chúa vận động xây “Làng VN” ở một tỉnh xa để dành cho các thuyền nhân trong trại chưa được đi định cư nước khác. Trại lập theo kiểu như ở làng quê VN (có cả một “con suối VN” do một Việt kiều hảo tâm làm), mỗi gia đình được cấp một căn nhà (ban đầu gồm 150 gia đình), vợ ngày ngày ra ngoài đi bộ bán hàng rong còn chồng ở nhà lo việc nhà và chăm các con ăn học hoặc làm nghề may phụ vì ở đây phụ nữ dễ làm ăn buôn bán hơn. Con cái đi học chung trường Philippines, có em học khá được nhà trường tuyên dương.
Nhưng cuộc sống quá khó khăn, nơi ở lại quá xa thành phố khó kiếm sống nên càng ngày số gia đình thuyền nhân bỏ Làng VN đi chỗ khác càng nhiều, chỉ còn lại vài chục gia đình VN thực sự. Để rốt cuộc dân nghèo Philippines vào thay chỗ dần biến nó thành… Làng Philippines!
Trải qua 8 năm nữa ở Làng VN đến năm 2005 nhân có đợt bổ sung di dân mới qua Mỹ mới được xét duyệt cho cả gia đình lên đường tìm đến với “Giấc mơ Mỹ”. Làng VN tại đây xem như giải thể từ đó.

43. Đặng Văn Tuyến
NGƯỜI QUẢN TRANG TỰ NGUYỆN
Dân thường sinh 1952 tại Nam Định. Sống ở Hà Nội (2009).
Đi bộ đội năm 1970, sau chiến tranh trở về Hà Nội làm công nhân sống ở phường Vĩnh Tuy.
Tại đây mới có dịp biết đến khu di tích “bể xương” ở ngõ 559 đường Kim Ngưu (quận Hoàng Mai) tức là khu di tích chôn cất hàng vạn hài cốt nạn nhân không người thân thích cũng không biết danh tính gốc tích chết trong nạn đói năm 1945. Một khu di tích lịch sử nhưng chưa được chính thức xây dựng thành nghĩa trang đàng hoàng nên cứ hiện diện một cách tự phát như vậy giữa lòng thủ đô mà cũng chẳng ai dám “động” tới!
Thế là năm 2004 vì một thôi thúc nội tâm nào đó bỗng dưng bỏ việc xin với địa phương tự nguyện làm người quản trang “bán chính thức” cho khu di tích này. Hàng ngày sáng chiều đều đặn vào lo việc quét dọn, tưới cây, dâng hương chăm sóc cho bao linh hồn vô thừa nhận. Vì tâm nguyện: “Làm việc nghĩa này, tôi chỉ mong làm cho những vong hồn xấu số vô danh bớt cô đơn, lạnh lẽo…”
Có lẽ do có tâm nguyện như vậy nên trái với người khác “yếu bóng vía” thường lo sợ thêu dệt, ông nói lui tới nơi này cả ngày lẫn đêm chưa bao giờ ông… gặp ma cả!

44. Đinh Thị Tuất
NGƯỜI LƯU GIỮ NHẬT KÝ LIỆT SĨ
Thường dân sinh tại Hà Tĩnh. Sống ở Đà Lạt (2009).
Chị của liệt sĩ Đinh Hữu Hội hy sinh năm 1972 trên chiến trường Tây Nguyên trong 37 năm qua đã lưu giữ cẩn thận, thành kính kỷ vật của em là một cuốn nhật ký viết bằng thơ (26 bài) kể về thời gian chiến đấu của mình ở miền Nam. Một cuốn sổ nhỏ qua thời gian giấy đã ố màu vàng khè, nhiều chỗ không đọc được vì thấm nước mưa mực viết nhoè ra. Nhưng nó đã được xem như một vật báu gia đình.
Tuy nhiên kỷ vật thì có mà tin tức về mộ chôn ở đâu vẫn không có thông tin cho gia đình. Vì thế năm 1984 bà xin chuyển vào công tác ở Lâm Đồng, từ đó bôn ba khắp các tỉnh Tây Nguyên cố truy tìm tông tích, mộ chí của em song vẫn không thấy.
Cuối cùng năm 1995 xảy ra một loạt sự kiện khá lạ lùng giúp bà tìm ra mộ chí em mình đã quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Gia Lai cách đây 6-7 năm. Đầu tiên là bà chị ruột nằm mơ thấy liệt sĩ về báo mộng chỉ dẫn đến đúng nghĩa trang trên, thậm chí còn chỉ rõ vị trí mộ! Sau đó khi đến Gia Lai do quá mệt bà ngất xỉu thì được người cứu giúp, tiếp đó được một người đàn ông lạ mặt chở xe đến tận Bộ Chỉ huy quân sự Gia Lai rồi quay xe bỏ đi không cả lấy tiền xe, không để lại tên họ. Từ đó truy tìm hồ sơ ở Bộ Chỉ huy mới tìm ra mộ chí liệt sĩ em mình.
Lưu lại Gia Lai bốn ngày thì cả bốn ngày đều ngồi bên mộ em đã mất cách đó 23 năm.

45. Đinh Văn Em
NGƯỜI “TRỐN” HÒA BÌNH 13 NĂM
Thường dân sinh 1938 ở Quảng Ngãi. Hiện không biết ở đâu, còn sống hay không.
Người dân tộc Hrê trước đi lính chế độ cũ, sau Giải phóng sợ quá trốn vào rừng rồi… đi lạc khiến suốt 13 năm dài phải sống như “người rừng” ăn cây cỏ và thịt thú rừng để tồn tại. Khi được phát hiện năm 1988 đã hoàn toàn quên hết tiếng Kinh, còn tiếng mẹ đẻ thì phát âm rất khó khăn.
Còn hơn ở Nhật Bản sau Thế chiến II có khá nhiều cựu binh Thiên hoàng bỏ trốn vào rừng (trên các đảo hoang ngoài Thái Bình Dương mà quân Nhật chiếm làm căn cứ) mãi đến 40 – 50 năm sau mới được phát hiện. Tất cả đều không biết chiến tranh đã kết thúc, lùi xa hàng chục năm rồi!

46. Đoàn Minh Phượng
ĐI TÌM CỘI NGUỒN
Nhà văn nữ kiêm đạo diễn điện ảnh sinh khoảng 1956 tại Sài Gòn. Sống ở Đức – VN (2010).
Cùng em trai rời khỏi VN sau 75 nhưng mỗi người một ngả, chị ở lại Đức, em qua Mỹ. Học nhạc ở Đức nửa chừng bỏ qua làm phóng viên đài truyền hình.
Đầu những năm 90 sau khi “Mọi chuyện đã ổn rồi, tôi mới ngồi nghĩ lại, mới chợt nhận ra mình thiếu cả một quê nhà”. Từ đó “Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết” nên quyết định quay trở lại quê hương. Gặp lại người thân trong gia đình cả những người từ “phía bên kia”.
Cảm nhận được nguồn cội mới cùng em bỏ ra 10 năm nghiền ngẫm thực hiện bộ phim truyện nhựa “Hạt mưa rơi bao lâu?” sau đó đoạt giải thưởng ASEAN và một loạt giải quốc tế khác ở Hà Lan, Mỹ, Úc, Scotland. Tiếp theo in cuốn tiểu thuyết đầu tay “Và khi tro bụi” đoạt ngay giải thưởng Hội Nhà văn VN 2007.
Dù làm phim hay viết văn, tác phẩm luôn là kinh nghiệm ám ảnh quá khứ mất gia đình mất quê hương vì chiến tranh như bộ phim trên kể lại hành trình một người con đi tìm tung tích mẹ ruột của mình qua cuộc chiến hoặc cuốn truyện sau nói về nhân vật chính “Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh…”
Trong hành trình truy tìm gốc gác mình đã trở về Hội An cùng gia đình khôi phục xưởng gỗ cũ của ông nội ngày xưa.

47. Đỗ Hòa
SỐNG SÓT TỪ SƠN MỸ
Thường dân còn có tên Đỗ Ba sinh 1959 tại Quảng Ngãi. Sống ở Quảng Ngãi (2010).
Một trong số ít nạn nhân của vụ thảm sát ở Sơn Mỹ, Mỹ Lai năm 1968 còn sống sót đến ngày nay chính là đứa trẻ được 2 lính Mỹ H. Thompson và L. Colburn trên trực thăng cứu sống (cứu sống 9 người tất cả và sau đó đứng ra tố cáo tội ác này). Nhờ lúc đó mới 9 tuổi nằm dưới các xác chết, máu me đầy mặt nên sau đó được lính Mỹ cho trực thăng đưa về bệnh viện Chu Lai cấp cứu.
Nhưng nghe nói sẽ bị Mỹ đưa qua Mỹ luôn nên sợ quá bỏ trốn về nhà. Tuy nhiên về nhà không còn ai, mẹ và 3 em đều đã chết trong cuộc thảm sát, cha đang ở tù Côn Đảo, chú là bộ đội đặc công đã hy sinh nên đành qua sống nhờ bên nhà ngoại gần đó. Nhưng nhà bà ngoại cũng không ai lo vì còn người cô cũng đã đi du kích luôn.
Sau 75 được Cách mạng phát hiện là nạn nhân Sơn Mỹ nên năm 1978 được… ra nước ngoài qua CHDC Đức làm chứng nhân trong chiến dịch tố cáo tội ác của Mỹ trong chiến tranh VN. Nhưng sau đó về nước thì… rơi vào quên lãng, trả về địa phương để “tự lo”.
Khi ấy mới học tới lớp 7, cha ra tù Côn Đảo được vài tháng thì mất vì bệnh ảnh hưởng tra tấn nhà tù, ở nhà với bà ngoại quá cực khổ bèn bỏ học vào TPHCM làm đủ nghề lao động chân tay như rửa chén, gánh hàng thuê, đạp xích lô mướn. Cũng không xong, từ đó trở thành dân trộm cắp năm 1987 bị bắt lãnh án 9 tháng tù. Ra tù lại tái phạm năm 1988 thêm 18 tháng tù.
Ra tù năm 1990 tiếp tục làm dân “bụi” lang thang sống công viên vất vưởng qua ngày. Bà ngoại ở quê nhắn gọi về nhưng không về vì… không có tiền xe! Thế rồi trên bước đường bụi đời gặp một cô gái con nhà nghèo ở Nhà Bè làm thợ hồ lấy làm vợ có được một con 3 tuổi.
Vợ con đèo bòng lại vô công rỗi nghề thế là ngựa quen đường cũ đi trộm cắp tiếp và năm 1992 đi ăn cắp dây điện bị bắt lần thứ ba. Ra tòa 3 lần từ 1992 – 1996, ban đầu chỉ bị kết án 3 năm tù song sau bị nâng lên đến 10 năm vì bị quy vào tội danh kinh khủng “phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” dù chỉ là đồng lõa (còn một tên đầu têu) cắt đứt 7kg dây điện đường! Vào tù, vợ con bỏ đi thành tù tứ cố vô thân.
May mắn là cuối cùng cũng có được một đoạn kết có hậu cũng lại nhờ 2 cựu binh ân nhân lúc trước khi trở lại VN lần thứ hai năm 2001 nhân dịp kỷ niệm 33 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ hỏi thăm tin tức cậu bé may mắn năm xưa. Từ đó mới tìm ra đương sự đang… ở tù! Bấy giờ mới có được người đi thăm nuôi và khi mãn hạn tù được nhiều người cùng quê chung tay giúp đỡ làm lại cuộc đời năm 2007. Lấy vợ khác sinh được một cháu trai, vừa làm bảo vệ công ty vừa đi mua bán ve chai kiếm thêm tiền ở Long An.
Đến năm 2009 lại được ân nhân cũ Colburn (Thompson đã mất vì bệnh ung thư đầu năm 2006) gửi tặng tiền giúp đỡ nên cùng vợ về lại quê xưa Sơn Mỹ mua bò nuôi trở lại đời nông dân với lòng biết ơn vô cùng đối với một “Người Mỹ không trầm lặng”: “Năm xưa ông cứu tôi thoát chết, giờ giúp chúng tôi thoát cảnh nghèo khổ nữa…”
Một người sống sót 2 lần, lần đầu từ chiến tranh, lần sau từ… sau chiến tranh! Sau khi là nạn nhân “bị chỉ định” của chiến tranh (lệnh quân Mỹ “Giết hết không tha”) lại trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của… hòa bình trong một thời Hậu chiến đầy mâu thuẫn dằn xé tan nát không ít số phận cuộc đời bị đưa đẩy đến chỗ tận cùng oan khiên nghiệt ngã.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

THƠ NGUYỄN ĐỨC PHỔ


RƯỢU NGHINH XUÂN

Chân vui bước phố chiều tháng chạp
chợ cuối phiên mưa bụi chật trời.
Tiết giá sầu rưng ngày vội tắt
nhường mùa như buổi hậu xa ngôi!

Thể như vua Kiệt ngày nước mất
danh tàn. Thân phận cũng tàn thôi!
Thể như chúa Chổm ngày tết nhất
về kinh giải nợ thỏa thuê cười!

Càng sống càng cay mùi đen bạc
ân oán trời chia đã sẵn rồi!
Chẳng hẹn gì xuân mà giáp mặt
nửa đêm trừ tịch ghé thăm chơi!

Nghinh xuân ngửa mặt kêu trời đất
qu ê quán trùng trùng mấy bể khơi!
Khoảng cách bạn, thù. Chỉ gang tấc
xây chi biên ải chẳng xây đời!

Người dưng gặp riết thành thân mật
hẹn tết khề khà nhắp rượu vui!
Cành mai, chậu trúc… Chẳng có thật
đành say cùng chén chú chén tôi!...

TÌNH, GIỤC NGÀY XUÂN TỚI

Ở đây lều cỏ đùn mây lợp
mái trĩu tầng tầng hoang dã tôi.
Lòng nghe tình giục ngày xuân tới
đưa đẩy em về dựng bếp vui.

Gió máy xôn xao chừng đây đó
mưa mai vắt vẻo nhánh u trầm.
Vén mộng nhìn. Xanh xao thảo mộc
mới hay tình mọc đã lời câm!

Em ở bên trời nghe khuất lấp
dáng mơ mấy thủa níu tay gầy.
Trời đã trồng cầu xin kịp gặp
phòng khi gió giật sóng tình lay!

Lối tình mở ngõ. Thôi cài giậu
mời em thăm thú buổi sơ đầu.
Mốt maì tơ thắm nhành yêu dấu
trăng dựa hiên ngoài. Ta dựa nhau!

Và sẽ cuối đường yẻn ả mộng
bóng cau thôn dã ngát hương trầu.
Lều cỏ rộn mùa thơ hiển lộng
chốn trần. Tình nhập cuộc bền lâu!...



Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

THƠ ĐÔNG HÀ


BIẾT CHI MÔ

Em như giọt buồn rơi
tuổi thơ ngây đã xếp....

rồi rơi vào đời tôi...

hát rứa
nghe rứa
biết chi mô...

THƠ TỪ HOÀI TẤN


XUÂN NGỘ

Sáng nay ngày mới bắt đầu
Những êm ái đợi dãi dầu phù hoa
Những mùa lợp tuyết xuân xa
Nẻo ngần ấy đã đi qua một thời
Không im lặng không nói lời
Từ em tiếng hát giữa trời sao băng
Sáng nay ngày mới đi ngang
Bóng người ngàn dặm thoắt vần vũ bên
Vầy vui xuân cuộc tình mình
Tuổi người dừng lại trước linh lung đời
Sáng nay ngày nở nụ cười
Chào em cây lá hát lời tình ca

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

THƠ BÙI NGỌC THÀNH


Trên môi người tháng chạp

Màu nắng ấm trên môi người tháng chạp
Có rọi vào sương lạnh cuối chiều không?
Bên bến đợi tơ chùng rung phím nhớ
Giọt âm xưa theo sóng nước xuôi giòng!

Màu nắng ấm trên môi người có phải
Đã một lần ẩn hiện bóng ma trơi?
Bầy đom đóm nhen chút tình mê mải
Sợ bình minh không kịp gọi tên người!

Màu nắng ấm trên môi người ủ dột
Có ru hời bên liếp giậu liêu xiêu?
Khung cửa vẹo, hiên xưa tình trốc mái
Bão giông qua còn giữ được chi nhiều!

Màu nắng ấm trên môi người tháng chạp
Có nguyên màu môi ấy thưở trăng non?
Chung rượu cuối, men tình xưa dẫu nhạt
Rót về đâu cũng ngập úng cơn buồn!

Màu nắng ấm trên môi người có thể
Trải đôi lời cho trọn cuộc phân ly.
Bàn tay vẫy, một bàn tay bất hạnh
Tiễn đưa chiều, một vệt nắng trôi đi.

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2010

THƠ PHAN DUY NHÂN

TỰ TÌNH VỚI HUẾ

Huế duỗi tay mềm anh gối nhé
Sông Hương thơm trải lụa xanh chìm
Trăng rằm lộng lẫy phong lan nở
Mê mải vùi trong say đắm em…

Thức giấc mưa sương gợn nét mày
Não nùng em tựa ấm bên vai
Anh cùng cung điện xuôi theo nhạc
Mỗi giọt dư âm mỗi dấu giày…

Ngày cứ tròn căng nỗi khát khao
Đêm đêm ngây ngất nụ hôn đầu
Trăm năm sau nữa qua Thành Nội
Anh vẫn còn em, ta có nhau!

Đôi lá thuyền trôi giữa thực hư
Mênh mang sông bến lắng câu hò
Ôm trong Huế tình yêu dịu ngọt
Da diết Nam Bình điệu hát ru

Em vẫn trong anh giữa nắng ngày
Giữa trời xanh mát núi xanh mây
Cơm thường mỗi bữa em chăm chút
Giấc ngủ mơ màng thơm cánh tay

Mỗi lần về Huế rồi xa Huế
Anh cứ rưng rưng nỗi tạ từ
Đâu chỉ chia tay cùng kỷ niệm
Nồng nàn trong Huế vẫn em xưa…

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

THƠ NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH


Cho em một ly quỷ sứ

Đêm
Nửa trái đất
Chìm trong vại cà phê
Vũ trụ

Cho em một tách đêm
Quỷ sứ cũng không đen hơn cà phê
Anh
Tách cà phê đen đầu đời em
Giọt giọt
Nhâm nhi từng ngụm quỷ sứ

Có tình yêu màu đen
Anh lấy tình yêu rưới đẫm cỏ
Đêm nuốt dần ta trong tiếng thạch sùng
Em như muỗng đường
Anh khuấy đêm thành bọt sao khuya

Ai bảo bóng tối chứa âm mưu
Cái thiện dễ nảy mầm trong đêm
Cái ác hay nhân danh mặt trời
Đen đen đen
Đừng để quạ bôi đen màu cà phê

Cho em một ly anh
Quỷ sứ cũng không đen hơn
Cà phê cô đặc
Tròng tròng mắt đen
Quỷ sứ nếu có thật
Mắt chắc trắng dã

Cho em một ly quỷ sứ
Em uống thật nhiều bóng tối
Để ánh sáng
Còn chỗ núp
Trong em!

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2010

CAO HUY KHANH - VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN (KỲ 3)


CAO HUY KHANH
VIỆT NAM
HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2010
NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Kỳ Ba

26.Anh Joseph Quang Cao
DÂN BIỂU MỸ ĐẦU TIÊN
Luật sư tên gọi tắt Joseph Cao, tên cũ Cao Quang Ánh sinh 1967 tại miền Nam. Sống ở Mỹ (2010).
Có cha là sĩ quan chế độ cũ bị bắt làm tù binh vào cuối cuộc chiến nên sau 75 trải qua thời thơ ấu khốn đốn cha đi cải tạo 7 năm, một mình mẹ nuôi đàn con 6 đứa.
Cuối năm 1975 được mẹ nhờ người cậu đưa đi vượt biên cùng 2 người anh nữa. Sau đó người cha học tập trở về - mắc bệnh trầm cảm và tiểu đường, hậu quả của thời gian ở trại cải tạo - mới cùng vợ con còn lại đi H.O qua đoàn tu.
Vốn thuộc gia đình Công giáo thuần thành, đã suýt trở thành… linh mục với 6 năm tu học trường dòng đạo Thiên Chúa nhưng rồi bỏ ra ngoài đời vì nhận thấy mình có lý tưởng hoạt động xã hội khác hẳn. Lấy vợ dược sĩ cũng là người Việt tị nạn gặp trong sinh hoạt nhà thờ, có 2 con gái.
Sau khi tốt ngiệp đại học ngành triết và luật, bắt đầu thực hiện ý nguyện phục vụ cộng đồng qua việc mở văn phòng luật sư chuyên về vấn đề nhập cư giúp đỡ người Việt vượt biên, tích cực tham gia vào Hội Cứu trợ thuyền nhân VN…
Ý nguyện trên chuyển thành hoạt động chính trị sau khi bản thân mình chứng kiến tình trạng chính quyền Mỹ bê bối trong vụ đối phó với cơn bão Katrina hoành hành năm 2005 và công tác cứu trợ sau đó ngay tại TP New Orleans (bang Lousiana) mà gia đình mình cư ngụ.
Từ đó cuối năm 2008 đắc cử dân biểu (Đảng Cộng hòa) Hạ viện Mỹ đại diện bang Lousiana - dân biểu gốc Việt đầu tiên và duy nhất.
Năm 2001 đã về thăm quê hương giúp xây dựng một nhà thờ và đầu năm 2010 trở lại với tư cách dân biểu Mỹ đến “giao lưu” với Nhà nước VN.

27.Chóe
CHẠY ĐUA LẤY LẠI THỜI GIAN ĐÃ MẤT
Họa sĩ tên thật Nguyễn Hữu Chí sinh 1943 tại An Giang – Mất 2003 ở Mỹ (61 tuổi).
Trước 75 là lính chế độ cũ bắt đầu tham gia làm báo nổi tiếng về vẽ biếm họa thời sự (bút danh Choé) và viết truyện ngắn, tất cả do mày mò tự học mà sau này có tâm sự như một sự “làm liều”. Vì nghề biếm họa chính trị đó đã từng bị chế độ cũ bắt bỏ tù mấy tháng.
Oái oăm buồn cuời cho số mệnh cũng vì tài biếm họa kia mà sau 75 lại bị rơi vào vòng lao lý một thời gian bị bắt đi cải tạo (không có án) do bị tình nghi có dính líu với “Vụ án hồ Con Rùa” bắt giữ một tổ chức chống chính quyền có sự tham gia của một số văn nghệ sĩ cũ.
Nhưng ra tù sau đó vẫn không dứt được nợ báo chí, nhờ sự giúp đỡ của một số đồng nghiệp cũ (nhà báo Chánh Trinh) trở lại với nghề vẽ biếm họa bắt đầu từ báo Lao Động. Nhưng… phi chính trị “hiền” hơn nhiều!
Từ đó bước vào thời đổi mới mở cửa đã “bùng nổ” vừa vẽ biếm họa cho báo vừa vẽ tranh vừa cả sáng tác thơ văn lẫn ca khúc trên nhiều tờ báo, lập kỷ lục “Lãnh nhuận bút nhiều nhất”, “Vẽ tranh nhanh nhất”! Làm việc cật lực gấp gáp như thể muốn chạy đua với thời gian tìm lại những năm tháng đã bị cướp mất oan uổng trong vô vọng như chân dung tự họa:
“Trời cho làm người vui tính
Khi gặp chuyện đau lòng
Ta không dám khóc
Bằng nước mắt.”
Nhưng bị bệnh tật hậu quả của thời gian lao lý dần dần quật ngã với nỗi đau là họa sĩ mà lại đau mắt (do biến chứng bệnh tiểu đường) không cho thấy được ánh sáng, màu sắc. Từ năm 2001 đã hư hẳn mắt phải, mắt trái chỉ nhìn thấy lờ mờ nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ cọ vẽ chuyển qua vẽ tranh tường khổ lớn để cho… dễ thấy hơn mà vẽ!
Đến khi cả mắt trái cũng sắp mù hẳn mới qua Pháp mổ mắt 5 lần không kết quả, tiếp tục qua Mỹ chữa có lần mở mắt nhìn thấy được đôi chút trong vòng nửa tiếng đồng hồ đã tận dụng cầm bút vẽ chớp nhoáng được 6 bức tranh. Ấy cũng là những bức cuối cùng của anh sau ca mổ không tỉnh dậy nữa.
Qua đời ở Mỹ nhưng thi hài vẫn được gia đình đưa về quê mẹ.

28.Dương Đức Vực
VIÊN ĐẠN XUYÊN THẾ HỆ
Công nhân sinh 1953 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2007).
Bộ đội trên chiến trường Thừa Thiên – Huế bị đạn bắn lún hộp sọ hôn mê cả tháng trời rồi được đưa ra Bắc chữa trị cứu sống.
Sau 75 làm công nhân đến 1990 được cho nghỉ mất sức do có dấu hiệu bệnh thần kinh bất bình thường. Vợ làm công nhân cũng xin nghỉ hưu non xoay qua đi bỏ mối hàng may mặc ở chợ thì xảy ra vụ cháy chợ Đồng Xuân làm phá sản mất hết tất cả.
Sinh được 3 con trong đó có con gái thứ hai học hết lớp 6 thì phát bệnh thần kinh giống hệt cha, hễ trái gió trở trời là lên cơn đau đầu nói năng lảm nhảm, ca hát cười cợt giống như kẻ khùng. Tới độ cả xóm đặt cho 2 cha con là “máy dự báo thời tiết” cứ thấy dấu hiệu thần kinh đó tức biết rằng… thời tiết sắp thay đổi!

29.Dương Hòa
NỬA ĐỜI TRẦM CẢM
Dân thường sinh khoảng 1947 tại Thừa Thiên - Huế. Sống ở Huế (2006).
Từng là sinh viên tham gia hoạt động Cách mạng ở Huế rất sớm, bị “phía bên kia” bắt rồi được thả ra nên trở về bị tình nghi chiêu hồi, muốn bắt liên lạc lại với cơ sở không được. Đành bỏ lên Đà Lạt dạy học.
Sau 75 lại bị “phía bên này” bắt vì nghi ngờ tội theo địch làm thân phận “tù nhân dưới 2 màu áo”!
Một thời gian sau có lẽ không có chứng cứ đích xác nên được cho về làm dân. Từ đó làm đủ nghề chân tay để sống qua ngày, lánh xa mọi nguời, gia đình tan nát…
Rơi vào trầm cảm u uất với mặc cảm nặng nề mà sự thật “phản bội” hay không chỉ một mình mình biết.

30.Dương Hứa
17 NĂM NHẶT LON RÁC
Công nhân ở Mỹ sinh 1946 tại VN. Sống ở Mỹ (2004).
Đến Mỹ sau 75 làm công nhân vệ sinh ở một trường học, làm những việc hèn kém nhất như lau nhà, chùi cầu tiêu từ 2 giờ chiều đến 10 giờ tối để nuôi 3 con ăn học. Đặc biệt luôn tới sớm hơn một tiếng đồng hồ để nhặt hết những lon nước uống bằng nhôm hay nhựa đã uống hết vứt bỏ, gom về bán rác phế liệu được 10 USD mỗi ngày.
Suốt 17 năm trời đều đặn làm thêm việc đó như một cái máy, suốt thời gian này chỉ xin nghỉ 2 ngày để đi đưa đám bà mẹ và dự lễ tốt nghiệp luật sư của đứa con út.
Tổng kết qua 17 năm dài đó đã kiếm được 37.000 USD bán đủ thứ lon rác để nuôi 3 con một gái hai trai học thành tài.

31.Dương Nghiễm Mậu
RỬA TAY GÁC KIẾM CŨNG KHÔNG YÊN
Nhà văn tên thật Phí Ích Nghiễm sinh 1936 tại Hà Đông. Sống ở TPHCM (2009).
Trước 75 là nhà văn tiên phong, tài năng và đứng đắn trong phong trào văn chương hiện sinh.
Sau 75 có đi cải tạo 2 năm, về chuyển qua học làm nghề sơn mài kiếm sống, hoàn toàn in lặng trên văn đàn trong nước lẫn hải ngoại.
Bỗng dưng đến năm 2008 được cho tái bản cũng lúc một loạt 4 tác phẩm quan trọng của mình in trước 75 ở miền Nam (Cũng đành, Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út).
Lần đầu tiên có sự xuất hiện của nhiều tác phẩm nổi tiếng của một nhà văn chế độ cũ có uy tín như vậy đã gây nên một cơn bão táp trong dư luận phê bình, học thuật trong nước. Dư luận phía Bắc nhìn chung ủng hộ việc “gạn đục khơi trong”, đánh giá khá tốt về những tìm tòi tư tưởng hiện sinh “VN hóa” cũng như kỹ thuật, bút pháp hiện đại của tác giả. Nhưng oái oăm thay một số ít dư luận phía Nam tập trung trên một tờ báo ở TPHCM lại tỏ ra… “bảo hoàng hơn vua” đã mở chiến dịch “đánh” tác giả – lẫn nhà xuất bản và công ty phát hành chủ trương in – tố là tác phẩm có hơi hướng chống Cộng. Dù những đoạn này đã được người chủ trương in – và tác giả đồng ý? - “tự kiểm duyệt”!
Tuy kết quả – trong thời đổi mới cởi mở hơn - cũng sớm chìm xuồng thôi nhưng nhà xuất bản đương nhiên thuộc cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm vụ này bị kiểm điểm khiến từ đó càng làm khó không ai còn dám làm chuyện”rách việc” in lại tác phẩm cũ cho những tác giả chế độ cũ nữa!

32.Dương Quỳnh Hoa
LÀM CHUYÊN MÔN HƠN LÀM CHÍNH TRỊ
Bác sĩ sinh 1930 ở Sài Gòn – Mất 2006 ở TPHCM (77 tuổi).
Học sinh Chaseloup-Laubat ở Sài Gòn, qua Pháp học tốt nghiệp y khoa (đảng viên Đảng Cộng sản Pháp) rồi trở về Sài Gòn tham gia hoạt động chống chế độ Diệm bị bắt ở tù năm 1960. Đến năm 1967 vào bưng tham gia Mặt trận Giải phóng miền Nam làm Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ lâm thời Cách mạng miền Nam.
Sau 1975 là Thứ trưởng Y tế trong chính phủ thống nhất đầu tiên nhưng chỉ 2 năm sau xin từ nhiệm quay sang hoạt động thuần túy chuyên môn y khoa. Thành lập trung tâm nghiên cứu y học hướng về các đối tượng đồng bào vùng nông thôn, trẻ mồ côi, y tế cộng đồng, nhi khoa và cả chất độc màu da cam… Quốc tế ghi nhận những cống hiến này của bà qua nhiều giải thưởng UNICEF, UNESCO…
Một trong số ít nhà trí thức hoạt động cách mạng xuất thân từ Đảng Cộng sản Pháp còn sót lại cuối cùng đã nhìn thấy sự chuyển hướng tất yếu sang hoạt động xã hội phù hợp hơn sau bao thăng trầm của thời cuộc loạn ly.

33.Dương Thanh Liêm
Ở HIỀN KHÔNG GẶP LÀNH!
Giáo sư đại học sinh 1938 tại Bến Tre. Sống ở TPHCM (2006).
Đi tập kết ra Bắc được đưa đi học Hungary tốt nghiệp đại học nông lâm, sau 75 về Nam làm hiệu trưởng ĐH Nông lâm TPHCM.
Là một nhà giáo gương mẫu vừa giỏi chuyên môn vừa liêm khiết (ở nhà cấp 4, đi dạy bằng xe gắn máy cũ kỹ), tận tụy với học trò, về hưu vẫn tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy. Thế nhưng đời tư lại gặp nhiều bất hạnh phũ phàng tưởng khó ai chịu đựng nổi: Vợ sau khi sinh con trai duy nhất tự nhiên phát bệnh tâm thần nặng (có khi nổi cơn đuổi đánh chồng) khiến phải một mình đảm đương hết mọi việc nhà. Nhưng đứa con trai duy nhất thì đến năm 13 tuổi bị… chết trôi!
Lâm vào cảnh “cái gì quý nhất thì lại mất”, ông như rơi vào vực sâu không đáy, trở nên trầm cảm u uất một thời gian dài dù vẫn phải sống phải làm việc tiếp tục. Với “những bài giảng lúc nào cũng ẩn chứa một nỗi buồn vô tận, buồn từ guơng mặt, đôi mắt, buồn từ giọng nói, từ câu chữ…” - theo học trò nhớ lại với lời kết ngậm ngùi “Thầy ở hiền như thế mà chẳng gặp lành chút nào!”

34.Đàm Vĩnh Hưng
NAM CA SĨ SỐ 1
Ca sĩ tên thật Huỳnh Minh Hưng sinh khoảng 1969 tại Bình Định. Sống ở TPHCM (2010).
Sau 75 làm thợ hớt tóc ở TPHCM theo “phong trào” vượt biên… bị bắt! Được thả ra rồi mới về lo chuyện làm ăn sinh sống đàng hoàng.
Tự phát hiện có tài năng ca hát thiên phú dù không qua một trường lớp âm nhạc nào mà tất cả hoàn toàn do tự học, từ đó bắt đầu tham gia phong trào văn nghệ quần chúng ở TPHCM. Và đã vụt trở thành ngôi sao nhạc trẻ – biệt danh “Mr Đàm” - Số 1 cả nước từ năm 1991 vẫn tiếp tục giữ vững kéo dài đến nay. Nhờ luôn chịu khó tìm tòi sáng tạo từ phong cách biểu diễn – ảnh hưởng Elvis Presley - đến đề tài thể hiện không chỉ nhạc trẻ mà cả nhạc xưa.
Thế rồi trong một lần biểu diễn tại Festival Huế 2006 đã cao hứng và ngây thơ kể lại chuyện… vượt biên bị bắt! Lập tức sau đó bị các cơ quan chức năng “thăm hỏi sức khoẻ”, may mà cuối cùng được thông cảm “trẻ người non dạ”, “non kém bản lĩnh chính trị” nên chỉ phải làm kiểm điểm đại khái!
Còn trẻ độc thân đã ở đỉnh cao sự nghiệp – cả ở hải ngoại – song vẫn không vướng bệnh ngôi sao, rất gần gũi quần chúng ái mộ, quan tâm phục vụ giới trẻ học sinh sinh viên. Và là người đi đầu trong làng ca hát hết sức nhiệt tình tham gia công tác từ thiện giúp đỡ lớp người khốn khó trong xã hội.

35.Đào Linh
THIÊN THẦN ÁO TRẮNG
Nữ tu đạo Thiên Chúa. Sống ở Mỹ (2007).
Sau 75 vẫn còn ở lại VN, đến 1981 mới ra đi qua Mỹ làm việc trong một bệnh viện ở San Jose, California. Nhưng sau đó vẫn nhiều lần quay trở lại quê hương làm công tác y tế từ thiện.
Năm 2007 gặp một bệnh nhân nữ ở Huế mắc chứng bệnh bướu trên đầu vào loại bệnh di truyền chết người hiếm có trong nước không chữa được song qua nước ngoài mổ thì rất tốn tiền (khoảng 429.000 USD). Từ đó mới nghĩ cách đưa 2 người con qua Mỹ tìm cách thuyết phục được bêïnh viện nơi mình làm việc mổ ca này miễn phí.
Được chấp nhận rồi liền trở về VN đưa bà mẹ qua tiếp và lo cho cả 3 mẹ con ăn ở đầy đủ chờ ngày giải phẫu đầu năm 2008…
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

CAO THOẠI CHÂU NÓI VỀ CAO HUY KHANH VÀ VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN


Trong chuyên mục Chào Ngày Mới trên blog của nhà thơ Cao Thoại Châu có giới thiệu loạt bài " Việt Nam Hồ Sơ Hậu Chiến "của nhà phê bình văn học Cao Huy Khanh trên Blog Hợp tuyển thơ văn.Đây là loạt bài được cập nhật từ trang webs VanVietLoc và HTTV sẽ đăng lại vào mỗi thứ Năm hàng tuần thay vì ngày thứ Bảy.Xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Cao Thoại Châu.

Gần hết ngày mới có những dòng này là bởi từ sáng đến giờ loay hoay mãi tìm không ra một điều gì tạo hứng cho viết.Chuyện tầm phào thì không thiếu, chuyện đứng đắn nghiêm chỉnh mới là đáng quan tâm nhưng không phải bất cứ lúc nào cũng có thể tìm ra chuyện đứng đắn. Thời may, mở blog của mình ra tìm trong đó may ra có chuyện nghiêm chỉnh đáng nói chăng. Thì đây, chuyện là như thế này…Khoảng trước năm 1970, thọat kỳ thuỷ, trên tờ Khởi Hành rồi sau đó là những tờ báo văn nghệ có uy tín hàng đầu ở Sài Gòn dành cho giới trí thức trẻ, xuất hiện một bút danh lạ Cao Huy Khanh mà đa số bài làm nên chỗ đứng nhanh chóng ổn định của anh là loạt bài nhận định, phê bình văn chương.Thời ấy viết lọai này không nhiều và những người đọc nó tuy nhiều nhưng lại hầu như là trí thức có tư duy tự do nhiễm màu sắc triết học. Thế là khó. Và Cao Huy Khanh rất nhanh chóng khẳng định tài năng, sở học, bút pháp, sự thông minh quán xuyến một lĩnh vực rất tế nhị. Thời gian không lâu để Cao Huy Khanh trở thành cây bút có uy tín. Đọc anh thời ấy tôi rất tâm đắc và thú thật là cảm phục tài anh, nhưng không có duyên nên chỉ “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” và 20 năm trôi qua, mãi đến sau năm 1990 chúng tôi mới có dịp gặp nhau và đó là lần gặp duy nhất trong gần 20 năm tiếp theo lại biền biệt- cộng chung gần 40 năm chỉ một lần gặp gỡ. Nhưng đọc Cao Huy Khanh thì nhiều, kể cả sau này hình như anh chỉ viết báo và sách mà không thấy sáng tác nữa. Giao tình không có, nhưng như thế cũng không sứt mẻ gì lòng mến phục của tôi. Nay, trên Blog của Nguyễn Miên Thảo mà tôi mã hóa một cách vui là “Ba chìm bảy nổi” hiện có trong danh sách Blog liên kết của tôi. Vào đấy, bạn dễ dàng đi sang nhà của “ Ba chìm bảy nổi”, và sang đó để đọc lọat bài của Cao Huy Khanh “ Việt Nam Hồ sơ hậu chiến 1975-2010”, một công trình khá đồ sộ theo dự kiến của tác giả thì có hơn 1.000 những thân phận người, trước 1975 họ có thể ở bên này hay bên kia cuộc chiến. Nhưng bây giờ, thời hậu chiến, những thân phận ấy sẽ lần lượt đến với mọi người. Khi đọc loạt bài đầu tiên, thú thật tôi đã ngậm ngùi nghĩ…thì ra mình cũng còn hạnh phúc, dù nó có là cái ấm sứt vòi chăng nữa.Xin mời…

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

THƠ ĐÔNG HÀ

NHƯ LẦN SAU CUỐI

Đừng giông bão tội em
đừng mưa đừng buồn đừng cay đừng đắng
đừng cô đơn

bởi cơn cùng kiệt
sẽ hoang mang như trước hiên nhà
khi không còn xưa cũ
khi không còn bước chân

mà thành thời gian
mà thành mê mải
mà thành xác thân

như lần sau cuối...

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

CAO HUY KHANH - VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN (KỲ 2 )

CAO HUY KHANH
VIỆT NAM
HỒ SƠ HẬU CHIẾN

1975 - 2010

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
Kỳ Hai

16.Bùi Văn Thành
NHÀ CỨU TRỢ TRẺ EM TÀN TẬT CẤP XÃ
Thường dân sinh 1938 tại Phú Thọ. Sống ở Phú Thọ (2007).
Bộ đội xuất ngũ năm 1972 trở về làm nghề giáo.
Năm 1997 thương con em đồng đội nhiễm CĐDC đã tự nguyện lấy nhà mình làm “Nhà cứu trợ trẻ em tàn tật xã Vĩnh Chân” kêu gọi mọi người đóng góp giúp nuôi các em, chữa bệnh, dạy chữ, dạy nghề miễn phí với châm ngôn “Làm từ thiện không cần thủ tục gì” và “Giúp được các cháu là cái phước đấy!”
Cả vợï con cùng xúm vào giúp một tay.
Tiếng lành đồn xa được nhiều cá nhân và tổ chức từ thiện hỗ trợ thêm cho ông giáo già chẳng giàu sang chi nhưng lòng đầy thanh thản tự trào rằng:
“Tre già để gốc cho măng
Đức cho con cháu, tâm dâng cuộc đời.”

17.Bửu Chỉ
VỤ ÁN “VẮNG THỦ”
Họa sĩ sinh 1948 tại Huế – Mất 2002 ở Huế (55 tuổi).
Trước 75 là sinh viên ĐH Luật ở Huế nổi tiếng với loại tranh bút sắt (vẽ trên giấy stencil in tài liệu roneo phổ biến thời đó) độc đáo duy nhất về đề tài đấu tranh chống chế độ cũ trong phong trào học sinh sinh viên đô thị tuy không được đào tạo chính quy về nghề vẽ.
Sau 75 được “đàn anh cùng quê” Tố Hữu ưu ái, được đánh giá cao là họa sĩ trẻ tiến bộ,– tới mức tả khuynh, khác với bản tính nhút nhát hiền lành hồi nhỏ – được đưa đi giới thiệu và học hỏi ở các nước XHCN anh em rồi chuyển về làm báo Sông Hương ở Huế.
Nhưng tại đây cũng chính cái khuynh hướng tranh bút sắt ngày nào đó đã quay ra làm hại chính mình khi vô tình xảy ra vụ án gán ghép về bức tranh biếm họa “Vắng thủ” (theo hình vẽ “thủ” có nghĩa là đầu người) do mình có sáng kiến khởi xướng theo chủ đề chống tiêu cực mới manh nha thời đó đăng trên tạp chí này năm 1988. Tuy nhiên theo dư luận lại bị “hiểu lầm” là có ý ám chỉ một lãnh đạo tỉnh đương nhiệm!
Từ đó có những “sức ép vô hình” buộc tác giả phải ra đi khỏi báo, rơi vào khủng hoảng vướng vào một chuyện tình đời tư có gây tai tiếng.
Nhưng cũng nhờ vậy hơn mười năm cuối đời có thời gian quay trở lại với nghiệp hội họa đích thực, bây giờ chuyển qua khuynh hướng biểu tượng - trừu tượng đậm chất triết lý nhân sinh cuộc đời sâu sắc. Hoàn toàn 100% trái ngược hẳn loại tranh bút sắt Cách mạng đánh đổ xiềng xích nô lệ theo Mỹ!
Mất đột ngột từ một cơn đột quỵ gây bàng hoàng cho mọi người.

18.Cao Văn Viên
“BÍ MẬT” CỦA ĐẠI TƯỚNG TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG
Nguyên Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng của chế độ Sài Gòn cũ sinh 1921 tại Lào - Mất 2008 ở Mỹ (88 tuổi).
Nguyên Đại tướng đã mang tai tiếng tự mình ký lệnh từ chức và bàn giao mà “bỏ chạy” trong những ngày cuối cùng trước khi Sài Gòn thất thủ tháng 4.1975. Mãi đến cách đây vài năm đích thân mới lên tiếng tự biện hộ cho mình về vấn đề này cũng như một số trách nhiệm liên quan đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa.
“Vấn đề” Cao Văn Viên trên công luận có thể nói xuất phát từ cuốn sách của TS Nguyễn Tiến Hưng mang tên “The Palace File” bản tiếng Anh in ở Mỹ năm 1986 sau đó dịch ra tiếng Việt là “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” ra mắt năm 1987.
Tác giả nguyên tốt nghiệp đại học ngành kinh tế ở Mỹ về nước trở thành cánh tay mặt cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu làm “Cố vấn Đặc nhiệm” về kinh tế và ngọai giao nhưng khi Sài Gòn thất thủ 30.4.75 thì lại đang… kẹt ở Mỹ làm công tác vận động Quốc hội Mỹ “cứu” Nam VN. Sau đó sống đời lưu vong mới gom góp tư liệu viết nên tác phẩm trên với nội dung mô tả những ngày cuối cùng của chế độ Thiệu. Và trong cuốn sách đó có vài đoạn ám chỉ đến tướng Viên như về chuyện bỏ nhiệm sở “chạy trốn” hoặc khi nghe TT Thiệu từ chức thì đi theo “nước mắt chảy quanh nói “Thưa Tổng thống, tôi không bao giờ nghĩ sẽ có ngày hôm nay” (!?).
Thế nhưng từ ngày đó đến cả 15 năm sau vẫn không nghe thấy ông Viên vốn cũng đang cư ngụ ở Mỹ (bang Virginia) có ý kiến phản bác gì mãi cho đến năm 2003 - 2004 ông bỏ công ra bổ sung lại cuốn sách “The Final Collapse” (Cuộc sụp đổ cuối cùng) bằng tiếng Anh do ông góp phần biên soạn theo yêu cầu và được sư tài trợ của Trung tâm Quân sử Mỹ được phổ biến hạn chế năm 1983 trong đó ông mới có mấy lời “nói lại cho rõ” chuyện này.
Cuốn sách thực chất chỉ là một công trình nghiên cứu thuần túy về mặt quân sự để rút kinh nghiệm chiến thuật, chiến lược mà thôi nhưng nay được ông Viên nhờ một nhà sử học VN thế hệ sau này dịch ra bằng tiếng Việt thành cuốn “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng hòa” nhân đó ông thêm thắt chi tiết và đặc biệt viết một bài Bạt qua đó chính thức bày tỏ chính kiến biện minh cho mình trước một số vấn đề mà công luận đặt ra về vai trò của ông trong biếân cố lịch sử 30.4.
Ông cho biết trong hai năm 1970 – 1971 đã ít nhất nộp đơn lên TT Thiệu xin về hưu non 3 lần với lý do đã đủ thâm niên quân vụ và… sức khoẻ kém (nên nhớ ông là người có vóc dáng cao lớn rất oai vệ!) nhưng không được chấp nhận. Vì thế đến cuộc rối loạn đại khủng hoảng nội tình chính trị miền Nam vào tháng 4.75 nhân sự kiện TT Thiệu từ chức nhường chỗ cho Phó TT Trần Văn Hương rồi sau đó là tân TT Dương Văn Minh, ông quyết định từ chức… lầøn cuối cùng thực hiện nguyện vọng đã có từ lâu. Mặt khác, ông không muốn tiếp tục phục vụ chính quyền Dương Văn Minh sẽ theo khuynh hướng hoà hoãn “liên hiệp” với Cộng sản, nhất là khi tướng Minh vốn không ưa gì mình từ hồi đảo chính lật đổ cố TT Ngô Đình Diệm. Từ đó theo đúng hệ thống quân giai ông đã “báo cáo miệng” việc từ nhiệm lên cấp trên lúc đó là Trung tướng Trần Văn Đôn Bộ trưởng Quốc phòng để trình lên TT Hương tạm quyền và TT Hương đã ký sắêc lệnh đồng ý. Tuy nhiên TT Hương chưa kịp bổ nhiệm người thay thế tướng Viên thì đã phải chuyển quyền lại cho TT Minh nên trong thời điểm lộn xộn dầu sôi lửa bỏng đó buộc lòng tướng Viên phải tự ký quyết định… chỉ định Trung tướng Đồng Văn Khuyên lúc đó làm Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu (hiện còn sống ở Mỹ) xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu Trưởng chờ TT Minh cử người thay. Xong rồi tướng Viên mới liên lạc với Mỹ di tản ra Hạm đội Mỹ ngày 28.4. Sau đó TT Minh đưa Trung tướng “hoàng phái” Vĩnh Lộc vào chức vụ trên song chỉ một ngày sau thì tướng Lộc cũng… theo chân tướng Viên nốt!
Tướng Viên kể rằng từ sau khi ký kết Hiệp định Paris 1972, TT Thiệu với tư cách Tổng Tư lệnh tối cao hầu như nắm hết quyền chỉ đạo quân sự ra lệnh thẳng cho các tướng vùng hay binh chủng (TT Thiệu cũng xuất thân từ hàm trung uý quân đội Pháp, trước khi lên làm tổng thống mang lon trung tướng) khiến tướng Viên chỉ còn đóng vai trò thứ yếu. Trước kia họp quân sự đều tổ chức ở Bộ TTM nhưng này phải dời qua Dinh Độc Lập do đích thân TT Thiệu chủ trì kiểu “độc diễn”. Một số kế hoạch chiến thuật, chiến lược do Bộ TTM vạch ra trái ý TT Thiệu đều không được duyệt hoặc bỏ không trình lên vì biết trình cũng như không như kế hoạch “tái phối trí” lực lượng và lãnh thổ sau khi Mỹ cắt viện trợ quân sự 300 triệu USD/năm. Tóm lại theo ông, cuộc sụp đổ của quân đội Sài Gòn trách nhiệm chính về mặt điều quân, chiến thuật, chiến lược thuộc về TT Thiệu.
Phần mình, tướng Viên tiết lộ ông cũng cảm thấy sự nhục nhã thất trận nên từng xin tướng Phạm Hà Thanh Cục trưởng Cục Quân y lúc đó loại thuốc độc cyanuyre thủ sẵn để khi cấp bách sẽ tự tử.
Tướng Viên khẳng định mối quan hệ với TT Thiệu hoàn toàn đặt trên nền tảng quân vụ không có quan hệ tình cảm sâu đậm nào giữa đôi bên nên hoàn toàn không có chuyện ông chạy theo khóc lóc với TT Thiệu. Thậm chí ông còn kể khoảng giữa năm 1970 TT Thiệu có ý định thay ông bằng Trung tướng Đỗ Cao Trí thân cận hơn nhưng cuối cùng không thành một phần do tướng Trí sau đó bị tử nạn rớt máy bay.
Nhưng là quân nhân chuyên nghiệp thì ông phải biết cay đắng khi thất trận, nhất là với cương vị ông từng nắm giữ. Thua trận là thua trận - không chỉ thua một trận mà cả cuộc chiến - không thể đổ lỗi đi đâu, cho ai được. Có lẽ vì vậy nên sau khi qua Mỹ, ông rút vào “ở ẩn” im lặng tránh xuất hiện công khai hay tiếp xúc báo chí, phỏng vấn, tuyên bố này nọ; không tham gia các sinh hoạt cộng đồng kể cả theo các phe phái “chống Cộng”.
Ít ra đó cũng là phần tự trọïng cuối cùng của một bại tướng như tướng Dư Quốc Đống – Tư lệnh Dù sau ông - qua đời cũng ở Mỹ sau ông 3 tháng.
Có lẽ cũng vì nỗi đau câm nín đó mà ông phải lần lữa chờ đến nhiều năm sau mới có lời “tự bạch” về “bí mật” cuộc đời mình trong những ngày cuối cùng mang hàm Đại tướng Tổng tham mưu trưởng.
Nỗi đau còn nặng thêm vào cuối đời lưu vong khi đứa con trai duy nhất mất sớm, vợ qua đời, con gái lập gia đình đi làm xa bỏ lại ông một mình thui thủi cặm cụi tự đi chợ nấu ăn. Và tìm về với đạo Phật làm một lối thoát cuối đời như ông từng đã mường tượng khi bỏ nước ra đi “trong cặp có một cuốn sách về đạo Phật”.
Như khá nhiều trường hợp nỗi niềm u uẩn trên quê người chẳng hạn tướng Khuyên xử lý thường vụ chức Tổng TMT ngày nào còn vào chùa cạo đầu mặc áo cà sa, đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng cuối đời chuyên phổ thơ thiền Nhất Hạnh…

19.Chánh Trinh
ẢO TƯỞNG VỀ “LỰC LƯỢNG THỨ BA”
Nhà báo tên thật Lý Quý Chung sinh 1940 tại Mỹ Tho – Mất 2005 ở TPHCM (66 tuổi).
Một con người tài hoa đa năng đầy triển vọng đang lên trên chính trường miền Nam trước 75 thì nửa đường đứt gánh trước biến cố 30.4.75.
Vào nghề báo thể thao từ năm 20 tuổi, sau đó bỏ nhiều thời gian cho hoạt động chính trường Sài Gòn, trở thành dân biểu đối lập trẻ thuộc “Lực lượng thứ ba” – lực lượng “đứng giữa” Cộng sản và chống Cộng – theo khuynh hướng dân chủ cấp tiến có chủ trương hòa giải dân tộc. Vì thế trở thành Bộ trưởng Thông tin trong “Nội các 1 ngày” Dương Văn Minh.
Từ đó sau 1975 cùng với một số nhà hoạt động xã hội, tôn giáo, trí thức tiến bộ chấp nhận ở lại với hy vọng cộng tác với chính quyền mới góp sức vào sự nghiệp thống nhất và hòa giải dân tộc. Với tư cách “nhân sĩ” (vào Mặt trận Tổ quốc) muốn tiếp tục hoạt động chính trị để thực hiện mong muốn đó nhưng thực tế không phải như vậy bởi “Lực lượng thứ ba” bây giờ xem như không còn được công nhận, không có chỗ đứng chính thức nên được tổ chức “chuyển ngành” quay trở về với nghề báo chuyên nghiệp!
Tuy nhiên vẫn còn đó cái “máu” hoạt động chính trị thực tiễn hướng đến mục tiêu tiến bộ xã hội nên ngay trong lĩnh vực chuyên môn báo chí cũng đã tham gia thúc đẩy đổi mới báo chí như đã góp phần đổi mới tờ Lao Động báo Trung ương (nắm chức Tổng Thư ký tòa soạn). Bên cạnh đó cũng đã tham gia những cuộc đấu tranh trong nội bộ một số tờ báo, góp phần gây không ít sóng gió ở một số tờ báo mình có cương vị tham gia như Tin Sáng, Tuổi Trẻ, Lao Động tới mức từng được xem là một “chuyên gia đảo chính”… các Ban Biên tập! Thậm chí còn bị xem là một nhân tố đưa đến việc đóng cửa báo Tin Sáng năm 1981, nhật báo tư nhân duy nhất do lực lượng nhân sĩ tiến bộ miền Nam thực hiện được phép in sau 30.4 nhằm mục đích làm “nhịp cầu” giữa chế độ mới và người dân Sài Gòn chưa “quen” với Cách mạng.
Nhưng trong tình hình báo chí đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, những nỗ lực đó cuối cùng đều thất bại. Cho nên cũng không ít lần phải chịu cảnh thăng trầm lên chức, xuống chức, từ chức, mất chức!
Cũng vì điều này mà không được lòng đối với cả 2 phía chống đối và ủng hộ chế độ mới - một bên cho là “đầu hàng”, “phản bội”; còn bên kia thì vẫn… không tin! Xin tự ứng cử Quốc hội hay thậm chí ứng cử vào Liên đoàn Bóng đá VN cũng bị bác bỏ. Đến cuối đời in một cuốn hồi ký cũng gặp khó khăn (đã in xong nhưng vẫn bị ngưng phổ biến buộc phải sửa chữa), chỉ vài ngày trước khi mất mới được phép phát hành hạn chế để ký tặng... trên giường bệnh!
Cuối cùng sự nghiệp để lại được biết nhiều vẫn là người đi tiên phong trong thể loại bình luận thể thao báo chí được nâng cấp lên trình độ chuyên nghiệp và đạt giá trị chất lượng cao bằng tính nhạy bén kết hợp đưa vào tính vấn đề của sự kiện nêu lên. Dù sao trong lĩnh vực hoạt động khá miễn cưỡng này lại có cơ hội phát huy khả năng tổ chức làm báo theo phong cách hiện đại nóng sốt Nam bộ cũng như tài năng bình luận gia thể thao, đặc biệt về môn thể thao “Vua” bóng đá và quần vợt. Trên cương vị Thư ký tòa soạn hoặc Trưởng ban Thể thao một số báo còn là người tổ chức thực hiện các trang báo thể thao định kỳ, đào tạo một số phóng viên thể thao kế thừa làm mới trang thể thao trên báo chí cả nước vốn là một điểm yếu của báo chí miền Bắc trước kia.
Có lẽ thâm tâm còn mong ước làm được nhiều việc khác trong những lĩnh vực khác nữa, tuy nhiên cuộc đời và thế sự chỉ cho ông làm được đến thế thôi.

20.Châu Kỳ
KỶ LỤC GIA MẤT XE ĐẠP!
Nhạc sĩ sinh 1923 tại Huế – Mất ở TPHCM 2008 (85 tuổi).
Từ Huế bôn ba vào Sài Gòn rất sớm trở thành một trong những nhạc sĩ kỳ cựu đầu tiên kết hợp tân nhạc với cổ nhạc VN (nhạc dân gian miền Trung). Đặc biệt tập trung vào điệu bolero làm thành phong trào nhạc tình bolero “bình dân” rất thịnh hành với những ca khúc đến nay vẫn còn được nhớ tới như “Giọt lệ đài trang”, “Sao chưa thấy hồi âm”, “Con đường xưa em đi”, “Đừng nói xa nhau”, “Được tin em lấy chồng”, “Đón xuân này nhớ xuân xưa”…
Ngoài ra còn nhạc về cố đô Huế thân thương: “Trở về”, “Mưa rơi”, “Huế xưa”, “Miền Trung yêu dấu”, Từ giã kinh thành”, “Tiếng hát dân Chàm”… Và nhạc phổ thơ vào hàng nhiều nhất. Tổng cộng hơn 200 bài. Bên cạnh đó đã đào tạo một thế hệ giọng ca bolero nổi tiếng một thời Chế Linh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Băng Châu…
Từng tham gia hoạt động chống Pháp khiến bị bắt giam năm 1942. Nhưng sau đó không mặn mà với chính trị mà chỉ chuyên tâm vào văn nghệ. Thế mà sau 75 bị bắt đi “cải tạo” không án tù hơn 2 năm vì một lý do rấùt nhỏ nhặt, vô duyên là dám… “gây sự” với một quan chức văn nghệ cao cấp của miền Bắc vốn trước kia từng quen biết nhau (cũng là người miền Trung) nay ngoảnh mặt làm lơ lên tiếng dạy đời!
Sau khi được thả ra trở về vẫn sống đời thanh bần lạc đạo, lang bạc giang hồ tìm quên trong niềm vui bạn bè. Suốt đời đi xe đạp cà tàng và vẫn tiếp tục làm nhạc với tâm sự mới “Giọt đèn theo giọt lệ”, “Bỏ phố lên rừng” (bán nhà ở nội thành ra ngoại thành sống)…
Từ đó nổi tiếng với một kỷ lục lạ đời là “Người mất xe đạp nhiều nhất” gồm 11 chiếc tất cả, đều tại… quán nhậu do sau khi uống đã rồi thì được người khác chở về… quên luôn xe đạp của mình! Vậy mà vẫn thường xuyên đạp xe đạp đi nhậu cả hàng chục cây số, khi mất xe đạp thì đi xe ôm “bao” luôn cả khứ hồi lẫn bao nhậu bác tài tại chỗ để chờ chở về.
Từ thập niên 90 những khúc tình ca bolero của ông bắt đầu được hát lại làm người nhạc sĩ ấm lòng đôi chút. Trước khi mất còn được mời đi Mỹ thăm bạn bè cũ.
Sau khi mất được gia đình đưa về chôn trên đồi Thiên An ở quê Huế thân yêu bao năm cách biệt đúng như ước nguyện của ông.

21.Chị Ly
SỰ PHẢN BỘI CỦA XÁC CHẾT
Không rõ tên thật, sinh 1947 tại Thanh Hóa. Sống ở Thanh Hóa (2009).
Năm 25 tuổi có chồng bộ đội hy sinh ở Thành cổ Quảng Trị nên sau Giải phóng tất tả vào Quảng Trị mong tìm dấu tích chồng. Dù không tìm được nhưng như ma quỷ xui khiến vẫn mua nhà ở lại nơi đây luôn xem như là quê hương thứ hai với mong ước một ngày nào đó sẽ tìm ra mộ phần hay hài cốt chồng.
Và quả là như có sự xui khiến thần bí nào tự nhiên tình cờ tìm thấy một di vật (chiếc nhẫn bạc tặng chồng lúc trước), từ đó lần mò ra một bộ hài cốt có lẽ của chồng mình. Nhưng đến lúc đó mới đối diện với một thực tế phũ phàng – qua hiện trạng hài cốt - là có thể chồng mình trước khi mất đã phạm tội… ngoại tình!
Dù chưa biết sự thật rõ ràng thế nào, chính xác đến đâu (thời đó chưa biết phương pháp nhận dạng khoa học AND), vẫn đưa hài cốt người nghi là chồng mình đó vào nghĩa trang liệt sĩ, làm lễ cúng tế đàng hoàng theo đúng tục lệ 100 ngày để tang rồi sau đó bán hết nhà cửa quay về quê cũ Thanh Hóa. Tuyệt không bao giờ đặt chân đến mảnh đất Quảng Trị quá “oan nghiệt” kia nữa! (Theo nhà văn Nguyễn Quang Lập).

22.Diễm Châu
TÌM LÃNG QUÊN THƠ TRÊN MẠNG
Nhà báo, nhà thơ tên thật Phạm Văn Rao sinh 1937 tại Hải Phòng – Mất 2006 ở Pháp (70 tuổi).
Trước 1975 là nhà báo, dịch giả trong nhóm Công giáo tiến bộ chống chế độ cũ. Tham gia những tờ báo, tạp chí đi đầu trong phong trào này như Trình Bày, Đối Diện “thân Cộng” nhưng không thuộc lực lượng, thành phần “chính quy” nên sau 1975 vẫn bị Cách mạng nhìn bằng con mắt ít nhiều nghi ngờ.
Muốn yên thân với công việc biên tập làng nhàng ở nhật báo Tin Sáng nhưng rốt cuộc cũng không xong khi Tin Sáng bị đẩy đến chỗ tự “hoàn thành nhiệm vụ” năm 1981. Rơi vào cuộc sống lang thang đời nghệ sĩ nghèo túng, có chiếc xe đạp cũng bị mất cắp! May mắn nhờ thâm tình riêng năm 1983 được nhà văn Pháp Regis Debray bảo lãnh qua Pháp.
Từ bước ngoặt cuộc đời đó, thấm thía bài học hoạt động xã hội cay đắng, lang thang trên xứ người ông mới quay về với bản chất thật một người nghệ sĩ sâu sắc, một nhà thơ uyên bác khi tự phát hiện mình một lần nữa bằng một công việc mới mẻ: Dịch thơ tứ xứ phổ biến trên mạng. Với một khối lượng khổng lồ hàng ngàn bài (tự nhận khoảng hơn 2.000 bài), được tặng giải thưởng quốc tế về dịch thuật Licien Braga năm 2000.
Và làm thơ, in thơ của mình “Thơ Diễm Châu và 10 bài ở Paris”. Từ nước ngoài nhớ về những bạn bè cùng chí hướng một thời nay đều rơi vào quên lãng trong dòng thời cuộc nghiệt ngã:
“Trần Tuấn Nhậm đã chết
Thế Nguyên – Trần Trọng Phủ đã chết
Nguyễn Khắc Ngữ đã chết
Đỗ Long Vân mới chết
chết
chết
chết
chết tai nạn
chết bệnh tật
chết xa nhà chết ở nhà
chết như mọi người phải chết
chết như những người chưa chết cũng sẽ chết
Những người chưa chết gửi lời chào những người đã chết:
Chết không phải là hết
chết là chết.”
(Tưởng niệm)
Trước khi mất đã có dịp trở về thăm quê hương với chút tâm tình chia sẻ trước bao bộn bề của cuộc sống, công việc vẫn còn đó trước mắt…

23.Duyên Anh
THÊM MỘT “VẾT THÙ TRÊN LƯNG NGỰA HOANG ”
Nhà văn tên thật Vũ Mộng Long sinh 1935 tại Thái Bình – Mất 1997 ở Pháp (63 tuổi).
Nhà văn nổi tiếng về đề tài thanh thiếu niên trước 1975 ở miền Nam trong đó “Vết thù trên lưng ngựa hoang” là một (đưa cả lên phim, chuyển thành ca khúc). Do có dính líu đến chính quyền cũ nên đi học tập cải tạo 5 năm, trở về vượt biên đến Pháp 1983.
Như thế lẽ ra phải là một nhân vật chống Cộng hải ngoại song sự đời trớ trêu, ở nước ngoài lại “từ khước rong chơi” để trở thành một tiếng nói phê phán, viết bài “bút chiến” lên án các nhóm chống Cộng lưu vong “không đàng hoàng”. Từ đó bị ”đánh” ngược lại là “ăng-ten của Cộng sản”, “làm quốc tế vận” cho Cộng sản.
Thậm chí, “đánh” theo đúng nghĩa đen là hành hung dã man trong một lần qua Mỹ năm 1988, đánh “không cho chết, chỉ cho tàn phế”, đánh mạnh tay tới mức bị hôn mê phải nằm viện gần cả năm trời liệt tay liệt chân! Phải nói ngọng một thời gian, phải tập viết tay trái để làm bài nhạc phổ thơ “Chiều bơ vơ.”
Sự ngẫu nhiên của định mệnh có vẻ “ứng” thật vào con người tài hoa của Duyên Anh như một “con ngựa hoang” phải hứng chịu nhiều “vết đòn thù”. Một người xuất thân từ tầng dưới xã hội, thủa nhỏ từng vào Thiếu nhi tiền phong, làm liên lạc viên cho bộ đội, vào Nam từng bỏ lên cao nguyên ôm mộng chống chế độ Diệm, bất thành về lại Sài Gòn kinh qua bao nghề nghiệp linh tinh không đi đến đâu, thất cơ lỡ vận mới tình cờ nhảy vào nghề viết văn, làm báo theo chế độ cũ.
Vì thế luôn có một mối đồng cảm thân thương với những thân phận giang hồ, giới trẻ bị vứt bên lề xã hội và đối kháng lại là sự căm hận, chán ghét tầng lớp trên nhà giàu, quan chức áp bức. Có thể nói sự mâu thuẫn nội tại này thấy rõ nét qua sự đối lập nghề văn – nghề báo song hành: Nếu trong văn chương là một ngòi bút trong sáng, chân thành, vị tha (sau này ở Pháp cuối đời còn làm thơ phổ nhạc nữa) thì trên báo chí là cây bút châm biếm cay độc (đặc biệt trong thể loại hồi đó gọi là “phim” hàng ngày, bây giờ là “tiểu phẩm) từng sử dụng rất thành công một thời.
Nhìn rộng ra hơn thì đó còn là mối mâu thuẫn giữa ước mơ lý tưởng và thực tế phũ phàng cũng là sự xung đột nội tâm của vô số người trong thế hệ này, ray rứt, khốn đốn vì lẽ “không theo phe nào”!

24.Dư Hải
PHÓNG VIÊN ẢNH THỂ THAO SỐ 1
Nhà báo tên thật Dư Văn Hải sinh 1953 tại miền Nam. Sống ở TPHCM (2010).
Tháng 4.75 là lính hải quân được Mỹ đưa tàu di tản qua Mỹ. Nhưng đến Mỹ thì xảy ra cuộc “nổi loạn” của nhiều người di tản bất đắc dĩ vì nhớ nhà đòi về nước chứ không chịu ở Mỹ nữa. Là một trong số đó, ngoài nhớ gia đình còn vì nhớ… người yêu!
Cuối cùng phía Mỹ phải nhượng bộ, tống tất cả lên một chiếc tàu của VN Thương tín quay đầu về lại VN. Nhưng chuyến trở về của những công dân yêu nước này quá gian nan, sắp cập bến Vũng Tàu thì suýt bị Cách mạnh bắn chìm vì nghi là… địch! Lên bờ rồi thì lập tức bị bắt đi… cải tạo mấy năm trời ở Phú Yên, sợ bị CIA cài điệp viên vào!
Mãn học tập trở về TPHCM chuyển qua chụp ảnh dạo rồi dần dần trở thành phóng viên ảnh thể thao cho báo Thể thao TPHCM.
Từ đó nghề nghiệp thăng hoa lên đỉnh đoạt giải AFC (Liên đoàn Bóng đá Châu Á) chụp ảnh bóng đá Cúp Châu Á 2004 tổ chức tại VN. Là phóng viên ảnh thể thao cần cù, tận tụy, say mê hết mình với nghề nghiệp có mặt tại hầu hết giải thể thao quốc tế lớn từ SEA Games đến Asiad, từ Euro đến World Cup, Olympic…

25.Dương Đức Lộc
MỘT MÌNH LÀM VIỆC BẰNG HAI
Công nhân. Sống ở Hà Nội (2004).
Lấy vợ quê Thanh Hóa cùng làm chung nhà máy cơ khí ô tô nguyên là thanh niên xung phong ở Quảng Trị thời chống Mỹ nên nhiễm CĐDC. Vì vậy sinh 4 con đều chịu hậu quả bệnh quặt quẹo khiến vợ phải ở nhà trông con, nhà máy thông cảm mới cho chồng làm luôn công việc của vợ để lĩnh đủ lương có tiền lo cho con bệnh.
Một mình làm quần quật đến kiệt sức như thế mà vẫn không cứu được con, trong vòng 7 năm – 1984, 1994, 1996 - ba đứa qua đời khi đã trên 20 tuổi. Còn lại một con cũng đã trên 30 tuổi quặt quẹo chưa biết sống được tới bao giờ.
(Còn tiếp)




Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

TRANG VĂN NGÀY CŨ - SỐ 32


Nhà thơ NGUYỄN VĂN TRAI

Nhà thơ Nguyễn Văn Trai tên thật Nguyễn Đại,còn có bút danh Hồng Nhật Thủy,sinh năm 1941 ,chánh quán Bãi Dâu,thành phố Huế.Ông làm thơ từ năm 1960 thế kỷ trước nhưng chỉ lưu hành trong bạn bè thân hữu .Thơ ông đậm chất lãng mạn đa tình như cuộc sống của ông,luôn trải lòng với bạn bè.Rượu và thơ là hai món ăn chơi cuối đời ông mặc dù ông đã trải qua một thời gian dài bệnh tật trên 20 năm.Xin giới thiệu một số bài thơ tình diễm lệ của ông viết ở tuổi bảy mươi...

CHUNG THỦY
Anh không nhớ người nào đã nói
ở Huế cái chi cũng nhẹ
Chỉ có tình là nặng như non
Anh chẳng gánh tình em đến phải nghiêng vai
đi giữa dòng sinh ly dâu bể
Nhưng tim anh thì vẫn rất hồng và đập nhịp thiết tha
từng ngày vẫn đau đáu một tao phùng bất chợt
Nhưng em thì đi
- đi mải miết như mây cứ trôi mãi không về
Dẫu sao thì tim anh vẫn đập
và tình yêu vẫn cứ trăm năm

THÌ THÔI
Bụi đã hồng trần hoen mặt lạ
Còn không em một chút tình sầu
Khi về nghe gẫy đôi vầng nguyệt
Một chút tình mà cũng bể dâu.

CŨNG ĐÀNH
Ta về hái ngọn từ bi
Đưa em qua khỏi xuân thì rồi thôi
Tháng giêng nắng đã hanh rồi
Buồn xưa cũng đã một thời mưa qua
Em chừ vỗ mộng hoàng hoa
Còn anh chừ vẫn bên bờ phiêu linh
Dẫu đưa xa dẫu đưa gần
Hôn em nụ đã vô ngần bể dâu.


ĐÒI LẠI TRÁI TIM
bằng cách nào anh đòi lại trái tim
trái tim đã trao em một thời tuổi trẻ
em ôm trái tim đi đầu ghềnh cuối bể
bằng cách nào anh đòi lại trái tim
*
anh vẫn về qua con phố thân quen
tìm lại nụ hôn đầu như cổ tích
em ôm trái tim anh đi xa mù biền biệt
anh vẫn về qua con phố thân quen
*
tự nhủ lòng thôi đừng nhớ đừng thương
đừng làm loài chim kêu suốt đời khản cổ
em cứ đi đi cho lòng nhẹ nợ
anh nhũ lòng thôi đừng nhớ đừng quên

*
nhỡ mai về đừng trả lại trái tim
nếu tim anh đã phai hồng xơ vữa
nếu tim anh không còn yêu ai được nữa
thì mai về đừng trả lại tim anh