Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

TRỐN TÌM - HOÀNG THỊ THIỀU ANH


Hôm nay mặt trời e thẹn.
Cùng mây chơi trò trốn tìm
Mưa chiều về trên lối nhỏ
Lặng thầm trao chút tình riêng.

Đong đầy gió trên đôi tay
Em hong tình anh dịu vợi
Lối xưa phủ đầy nắng mới
Khẽ khàng câu hát yêu người....

Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

VÀNG LẠNH 2 - NGUYỄN NHO SA MẠC


đừng nói nữa bài thơ vàng lạnh ấy
tình ngày xưa xin trả lại cho người
kỷ niệm buồn vui một thuở xa xuôi
chợt đứng dậy đi lần vào thương nhớ

anh bỏ đi tìm tình yêu thành phố
những khi buồn muốn nhắc lại tên em
đếm những vì sao rơi rụng bên thềm
chợt thức giấc thấy đời mình cô độc

làm con trai lần đầu yêu để khóc
tập thư màu xanh nước mắt đau thương
xin trả lạị em thành phố với con đường
từng buổi sáng buổi chiều ta qua đó

hai mươi tuổi hôm nào yêu người em môi đỏ
tình khai sinh bằng tiếng hát hoàng hôn
những âm thanh não nuột chảy qua hồn
em có thấy tình ra đi nhè nhẹ

em còn nhớ chuyện hôm nào kể lể
đôi bàn tay chưa siết chặt làm cầu
khi tâm hồn hai đứa chửa yêu nhau
con nước chảy đi xa rồi cát lỡ

em có nghe muôn hành tinh đổ vỡ
những mảnh buồn bốc cháy giữa không trung
tình yêu hôm nay mệt mỏi vô cùng
đời vàng lạnh xin em đừng nói nữa.

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

THẤT HUYỀN ÂM: NHẮN NGƯỜI MUÔN SAU - NGUYỄN LƯƠNG VỴ


         Hai nhà thơ Võ Chân Cửu và Nguyễn Lương Vỵ

1
Người muôn sau, cho nhắn đôi câu
Thơ ta gửi theo tiếng hú trắng
Chịu khó hú theo mà bắc cầu
Mở ra đọc chơi, đỡ quạnh vắng

Rằng ta hạnh phước được làm người
Được mần thơ nên trào máu tươi
Máu bay đỏ trong cơn bão tuyết
Vũ trụ mồ côi từ lâu rồi!!!

Từ lâu rồi cái lạnh nghít đen
Tỉ độ âm nên nghịt tiếng kèn
Trái đất phun một luồng khí lạ
Thơ bay ngùn ngụt bốc hơi men!!!

Lời thơ vắn số, chữ bạc mệnh
Nhưng vẫn còn tươi ý tận cùng
Nhưng vẫn còn rực nghĩa tuyệt tận:
Thi tửu xin mời nhau uống chung

II.

Người muôn sau cùng ta uống cạn
Này đây trăng gió ấm hồn quê
Tri ân giọt lệ từ thiên cổ
Nhịp phách thinh không đã vọng về:

Tinh âm bay vút vút đá vang
Tinh tú hát rợp rợp hồng hoang
Ta đáp lễ một chầu trống ngực
Tim trong veo và óc chói chang

Ý tịch liêu những sợi khói bay
Tứ tịch lặng những tia nắng gầy
Ta đáp lễ một câu thơ mọn
Như nhện giăng tơ đón tháng ngày

Rất lạ như trời cha đất mẹ
Chia tay từ trận gió sơ huyền
Âm A vô tận rền trong đá
Hòa âm bè mây bay lãng quên?!

III

Người muôn sau cho nhắn đôi câu
Khuya bắt nhịp xừ xang xê cống
Tặng hài nhi tiếng khóc ban đầu
Có hơi thở ta vừa nhấp giọng

Vừa mới nhớm nửa bước chân đi
Vừa đôi tay chạm tiếng rầm rì
Vừa chết mười phương hương trổ nhạc
Vừa em khép mắt đẹp trầm mi!!!

Đẹp nát tan, vũ trụ lỡ làng
Ta sầu câm sẫy bước lang thang
Thời gian? Bóng mộ u hồn đắp
Một bóng hư không đành cười khan…

Đành khóc thầm mần thơ đếm đo
Vũ trụ lừng hương một cọng ngò
Khẩn thiết tạ ơn em gửi lại
Một trời ngây dại để dành cho…

IV.

Cho ta thấu hiểu tình muôn trượng
Tinh tú muôn năm nhấp nháy hoài
Em đã cho ta muôn tưởng tượng
Thơ mần ngưỡng vọng cọng ngò…gai!!!

Đùa chơi cho đỡ cơn trầm uất
Vỗ trán reo, thơ đã túa về
Đoàn quân chữ nghĩa chen vai hát
Nhịp trời phách đất đẹp cuồng mê

Thời ta trú ngụ rất ồn ào
Thiệt tình: Thơ là chuyện tào lao
Mà sao xanh mặt chiêm bao miết
Trí muốn quên mà hồn cứ trào

Cứ trào miết lời núi lời sông
Lời ta xưa: Mèo mả gà đồng?!
Có thể lắm, ai mà biết được
Trào thì mần như ngọn triều đông…

V.

Người muôn sau cho nhắn đôi câu
Nếu gặp ta bên cầu thệ thủy
Đang nhậu với ông Ôn Như Hầu (*)
Thì xin có đôi lời hoan hỉ!!!

Hoan hỉ địa chào nhau khinh khoái
Chào tang thương ngẫu lục nhớ hoài
Ta lầm lũi nên rất gần gũi
Những linh hồn oan nghiệt tả tơi

Ta bụi bặm bầm xác dập thân
Nên thương câu thiên địa phong trần
Em hồng nhan đa truân bạc phước
Ta ghiền thơ ghiền chữ nên…đần

Nên ghiền sống ghiền chết ghiền…em
Ghiền bơ vơ ghiền thức thâu đêm
Ghiền âm cựa khẽ trong đáy mộ
Ghiền ngó trời sâu ngút lỗ đen

VI.

Ghiền ngó em nằm ngủ như nguyệt
Khép hai tà và mở hai môi
Tiếng mớ mộng, lời thơm hai búp
Niềm rưng rưng, thơ vuột mất rồi!!!

Ôi những tiếng thất thanh cổ độ
Bóng ta ngồi và dáng em nằm
Một chớp nháy ngàn thâu vắn số
Một thoáng nhìn thoáng mộng mất tăm

Thời ta trú ngụ người giết ngưòi
Chết rất nhanh và chết rất tươi
Người khôn quá thành ra…ác quá
Chủ nghĩa thành bom dội ngút trời!!!

Sầu khôn kham, mộng cũng khôn kham
Mần thơ đợi chết không càm ràm
Chậc lưỡi, đôi khi cũng tiếc thật
Trần gian đẹp quá, chết sao cam?!

VII.

Người muôn sau cho nhắn đôi câu
Tự dưng mần thơ mà rơi lệ
Chẳng lẽ khóc rống mà vô cầu
Thân còn tục lụy giữa nhân thế

Tái sinh? Nào biết được then chốt
Vũ trụ bí mật và âm u
Xin nguyện làm con ma lù đù
Muốn tái sinh thì rờ sau…ót

Vũ trụ ơi! Có chi vui không?!
Hẳn là vui tịch mịch mênh mông
Hẳn là dứt huyễn hoặc sống chết
Luân vũ đen tuyền, ta rất mong

Rất mong em cùng ta bụi bay
Hai hạt ôm nhau, âm tròn đầy
Người muôn sau nhớ nhau đừng hỏi
Bay bay bay bay bay bay bay…

7.2009
(*) Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều): “…Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ…”

Thứ Hai, ngày 15 tháng 9 năm 2014

SAU CHIẾN TRANH - NGUYỄN MIÊN THẢO


Khi những người chiến thắng hân hoan đi khắp phố phường
nói những điều tôt đẹp
Đó là những điều chính đáng đổi bằng máu xương
của những người đã chết

Cũng là lúc mà những người vô tội khác
Bắt đầu cuôc sống lầm than
Ông giáo sư thất nghiệp
suốt ngày đi ngoài đường dáo dát tìm trong vô vọng
một chiếc bóp hay vài đồng tiền đánh rơi của ai đó
Những cô gái hôm qua còn ngồi ở giảng đường đại học
Phải bán thân nuôi gia đình

Sự ly tán ,chia lìa, nghèo đói bắt đầu một cách khác
Trước và sau cuộc chiến không có gì khác nhau
Một sự hoán vị nỗi bất hạnh của người này thay cho người khác
Như đổi một chiếc áo
Ở đó bắt đầu những sự cưỡng đoạt mới
Chiến tranh cưỡng đoạt con người bằng cái chết
Hòa bình cưỡng đoạt con người bằng sự sống
Cái chết và sự sống chưa hẵn cái nào bất hạnh hơn
Đôi khi chết còn hơn sống

Tôi nghiệm ra mốt điều
Sự sống mỗi người đôi khi chỉ là áp đặt

Khi ra đời
Không ai có quyền chọn lựa ở nơi nào
Chọn lựa cha mẹ
Chọn lựa anh em
Chọn lưa miền nam,miền bắc
Nghèo hèn hay giàu sang
Thôn quê hay thành thị
Con trai hay con gái
Nhưng người ta có quyền chọn lựa cách sống của chính mình
Đó chính là điều tai họa
Là cái ác nẩy mầm
Là sự phản kháng
Là sự ngộ nhận về tự do
Là chân lý không chân lý

Sự đòi hỏi được ăn no,được sống giàu sang
Là điều chính đáng
Nhưng không phải là sự cướp đoạt của người khác
Đó là điều vô cùng giản dị
Nhưng sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra

Lòng tham và sự độc ác
Sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra

Người ta có quyền say sưa chiến thắng
Nhưng đằng sau nó
Sự vô luân luôn tiềm ẩn

Khi sự vô luân biến thành quyền lực
Trở thành niềm say mê của nhiều người
Điều đó thường xảy ra

Mục đích của chiến tranh
Mà những người yếu thế hơn chính là sự bình an
Thường được gọi là chính nghĩa
Nhưng sau chiến tranh
Thường khi là sự đổi khác

Sau chiến tranh
Chưa hẵn là hòa bình

Chủ Nhật, ngày 14 tháng 9 năm 2014

TIỄN BIỆT NGUYỄN XUÂN HOÀNG - NGUYỄN LƯƠNG VỴ

R.I.P NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN HOÀNG, 
TỪ TRẦN LÚC 10:30AM, Sept. 13.2014 TẠI SAN JOSE, CALIFORNIA.
NGUYỄN LƯƠNG VỴ
TIỄN BIỆT NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Thân thương ơi, hãy bay đi thật nhẹ
“Biển, nghe không?”(*) Câu hỏi vốn không lời
Lời không tiếng, trời thu cao đợi nhé
Đón người về ngấn lệ níu xa xôi
Rồi chín suối mười sông kia sẽ hát
Trần gian xanh, mộng chín đỏ xin chào
Trang văn réo khu rừng xưa nhã nhạc
Khúc ru tình rực lửa gọi chiêm bao
Rồi tóc bạc sẽ hòa âm mây trắng
Biển trời kia nghĩa nặng với tình sâu
Bay thật nhẹ bay thật cao im lắng
Trăng Sài Gòn – Phan Thiết sẽ tìm nhau

Thân thương ơi, âm trầm trong tiếng gọi
Nói gì đây? – Hẹn gặp chốn vô cùng
Vô tận ý vô tận lời gió nổi
Và sương chìm tẩn liệm nắng vô chung…
11:15AM, Sept. 13.2014
Sau khi được tin nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từ trần lúc 10:30AM tại San Jose, Calif.
(*) Thơ Nguyễn Xuân Hoàng.

THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN HOÀNG

nhà văn NGUYỄN XUÂN HOÀNG

bài viết cũ, tiếc nhớ một nhà văn vừa thất lộc hôm nay, 13-9-2014



NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Luân Hoán





ông, Người Đi Trên Mây
tôi là là mặt đất
người chạy cùng người bay
cách xài đời có khác ?

tôi bổn mạng con rồng
chẳng mấy khi nhào lộn

ông cầm tinh mảnh long
thảnh thơi cả trời rộng

con gì cũng thua con
ông có tôi cũng có
để làm đẹp nước non
điểm son cho hoa cỏ

chúng ta kể như quen
biết nhau qua giấy viết
tình bạn chưa đủ nhen
tiếng “mày, tao” thân thiết

ông gọi tôi bằng tên
tôi gọi anh, cung kính
ông xứng đáng bề trên
già hơn tôi mấy tháng

chẳng khiêm nhường bấy nhiêu
ông còn trội nhiều bậc
hình thức lẫn nội dung
mặt nào cũng cao ngất

ông là dân Nha Trang
ra lò trường Võ Tánh
Pétrus Ký Saigon
đại sư phạm Đà Lạt

cuộc đời đi làm thầy
của ông thật bằng phẳng
con đường làm nhà văn
cũng thênh thang lối thẳng

khoa triết học giúp ông
giàu có nhiều ý tưởng
truyện ngắn lẫn truyện dài
sâu sắc cùng lãng mạn

ai cho tôi nói chơi
nói lấy được, bá láp ?
mời đọc những:  Sương,
Sinh Nhật, Bụi Và Rác,

không ngại ghiền văn chương
đọc Khu Rừng Hực Lửa
chắc chắc sẽ mê luôn:
Kẻ Tà Đạo, Sa Mạc

tiểu luận và tạp ghi
chữ nghĩa ông đều đẹp
phảng phất nét phương phi
khuôn mặt nhiều em mết

trời cho viết có duyên
nhưng ba hoa chưa giỏi
cũng bởi thật và hiền
bay bướm không mấy cõi

ấy, tôi đoán thế thôi
thực hư khó rõ được
ông rất mực chịu chơi
dễ gì thiếu lả lướt

gặp được ông mấy lần
bát phố chơi vài đoạn
vui chơi trời chia phần
ai trước ai đáo hạn ?

trong danh sách cáo tồn
tôi cố tình bỏ sót
ngại chị Vy hết hồn
giũa cho không kịp vuốt

nhớ hồi tôi viết bài
tiếc nhớ Vũ Hữu Định
ông đăng rồi rỉ tai
cái tôi bạn nhiều quá

ông chê đúng y bon
cái bịnh tôi là vậy
chừ chẳng cải thiện hơn
ngay bài vẽ này đấy

nhưng ông khó nghĩ ra
thằng nào là Cự Hải
điểm sách ông ba hoa
trên tờ Sóng thuở nọ.

ông viết văn nhà nghề
ông làm báo sáng nghiệp
danh lợi thật đề huề
đời tặng ông quá phải

vẽ ông vụng chọn lời
tay run bởi thiếu chữ
đương nhiên lỗi tại tôi
non tài và hời hợt

chỉ một Nguyễn Xuân Hoàng
của Căn Nhà Ngói Đỏ
với Bất Cứ Lúc Nào...
cùng Ý Nghĩ Trên Cỏ

vẫn cứ vẽ lăng nhăng
chêm tôi vào nhiều chỗ
làm như thiếu hơi nhau
nét chân dung thiếu sắc

không biết sáng hôm nay
ông anh làm gì đó
San Jose nắng đầy
ngóng áo dài đầu ngõ ?

nghe tin ông nhát chơi
bởi cánh lưng xương sống
cơn nhức nhối từng hồi
chẳng đợi khi trời động

tôi rành chuyện nhức xương
nhiều khi muốn chết trớt
nghĩ đến ông thật thương
chẳng thể chia sẻ được

chỉ khuyên ông lạc quan
điều ông giàu có sẵn
mươi câu nói tàm xàm
vẫn mong thêm ngọn nắng

xưa nay vốn xã giao
đâu ngờ chợt thân thiết
mưa phùn hay mưa rào
giọt tình không phân biệt

Luân Hoán

tiểu sử Nguyễn Xuân Hoàng
Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 7 tháng 7 năm 1940 tại Nha Trang (Khánh Hòa).Thời niên thiếu, ông học ở trường Võ Tánh (Nha Trang), trường Petrus Ký (Sài Gòn).Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt, khoa Triết (1958-1961), rồi giảng dạy môn Triết tại trường trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà (1961-1962), tại trường Pétrus Ký ở Sài Gòn (1962-1975). Ngoài ra, ông còn làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn (1972-1974).Năm 1985, ông đến Hoa Kỳ và định cư tại San Jose.Năm 1986-1997, ông làm tổng thư ký báo Người Việt Daily News(California).Năm 1989- 1994, ông còn là tổng thư ký tạp chí Thế kỷ 21 (California) thuộc công ty Người Việt.Năm 1994, ông làm trong ban chủ biên tạp chí Văn Học. Tháng 9 năm 1996, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn [2], đồng thời ông làm tổng thư ký cho báo ViệtMercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 2005.Ngoài ra, ông cũng từng là giảng viên (lecturer) giảng dạy môn Văn học Việt Nam đương đại tại Đại học California-Berkeley.
Hiện Nguyễn Xuân Hoàng đang định cư tại San Jose, Bắc California.
Tác phẩm
Tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng đã xuất bản gồm:
Tập truyện ngắn
  • Mù sương (1966)
  • Sinh nhật (1968)
Truyện dài
  • Bụi và rác (1996)
  • Khu rừng hực lửa (1972)
  • Kẻ tà đạo (1973)
  • Người đi trên mây (1987)
  • Sa mạc (1989)
Các thể loại khác
  • Ý nghĩ trên cỏ (tiểu luận, 1971)
  • Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu (tùy bút, 1974)
  • Căn nhà ngói đỏ (tạp ghi, 1989) [3]...
Ngoài ra, ông còn một số tác phẩm chưa xuất bản, đó là: Lửa (truyện dài), Ai cũng cần phải có một bà mẹ (tùy bút), Sổ tay văn học...
Chú thích
  1. ^ Theo [1]. Tuy nhiên nhà văn Du Tử Lê thì ghi ông sinh năm 1937 [2].
  2. ^ Tạp chí Văn thành lập cuối năm 1963 tại Sài Gòn. Xuân Giáp Thìn (1964) ra số đầu tiên và tồn tại đến năm 1975. Tháng 7 năm 1982, nhà văn Mai Thảo cho tái bản tại Hoa Kỳ.
  3. ^ Tác giả và tác phẩm căn cứ theo wesite Văn chương Việt
theo Wikipedia.org