Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2014

RA MẮT QUÁN VĂN SỐ 25 - LỮ QUỲNH MỘT THỜI Ý THỨC


VỚI DÒNG SÔNG - VÕ CHÂN CỬU


Võ Chân Cửu vá Họa sĩ Đinh Cường



Cho tôi quẳng tất cả những gì khinh ghét căm giận tủi hờn mưu mô xảo quyệt xuống lòng ngươi.
Ơi dòng sông chảy xiết.
Đã qua bao thác ghềnh,
Ta biết người còn uốn khúc thong dong
Trước khi về với biển
Nơi cửa đập đã chặn dòng, nhưng người dân vẫn dành một bên làm cửa cho cá bơi lên
Những xẻo lầy thong dong mùa đẻ trứng
Một mẩu giấy vo tròn cũng không ai ném xuống dòng sông
Những thiếu nữ bỏ giày chạy thong dong tìm những bụi hoa tươi đứng chụp hình
Những đám cỏ khuất sau lùm không dấu dao mà vẫn phẳng
Êm mượt như thời gian
Không nghe lời rao giảng trước những tượng đồng
Cuộc chiến tranh đi qua không ai muốn nhắc
Kẻ chiến thắng và người bại trận
Đều thả hồn ngây ngất trước dòng sông

*

Tôi đến từ một xứ sở phương đông
Những họng súng biến hình những tượng đài chiến thắng
Những mơ ước trong đầu đều trở thành hoang tưởng
Những cặp mắt soi dò từng nhánh rễ trong tim
Mốt mai kia muốn tới cửa thiên đường
Hãy ném hết vào sông những gì dơ bẩn nhất
Ũi lấy nốt những rễ bàng rễ cọc
Có sức người vắt đất ra làm nước
Không xếp hàng đâu thể đứng khoan thai
Những dòng chảy đen điu tan mọi kiếp hình hài
Sông hứng trọn cho đất ngầm lên tiếng

Sông Tranh

*
Cho tôi ném vào sông bóng dáng riêng mình
Sông giữ nhé
có ngày tôi trở lại…

                                                              (Columbia-Vancouver 4/2014)

Sầu Riêng

Sầu riêng rụng ban ngày
Ủ hoài hương vẫn nhạt
Em đi lấy chồng xa

                        (Bảo Lộc 7-2014)




Thứ Ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014

SƠ KẾT NHÂN NGÀY SINH THỨ 69 - NGUYỄN MIÊN THẢO

Ta  sơ kết cuộc đời ta
Làm thơ thì dở, ngắm hoa thì nhiều
Học hành chẳng được bao nhiêu
Suốt đời chỉ lấy chữ yêu làm đầu
Mới sinh đã phải dãi dầu
Mẹ bồng chạy giặc với bầu sửa khô
Nhờ ơn Vú,  được bú nhờ
Nên ta còn sống đến giờ mới hay
Ôi ơn Vú, Mẹ cao dày
Chưa kịp báo đáp đã bay mất rồi

Gần bảy mươi tuổi - cuộc đời
Cám ơn em với một trời bao dung!

Thứ Hai, ngày 18 tháng 8 năm 2014

CHO NÊN TA MÃI THẬT THÀ YÊU EM - NGUYỄN MIÊN THẢO

Ta sinh ra ở trên đời
Nửa vầng trăng khuyết, giữa trời bao la
Sinh từ ruột mẹ tim cha
Cho nên ta mãi thật thà yêu em!

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 8 năm 2014

TẠ ƠN TIẾNG HÁT KHAI TÂM - TUẤN KHANH

 
 
Nhân 80 năm, tạ ơn tiếng hát khai tâm - Tuấn Khanh
 

 


 


IMG_1044.JPG
 
 
Trong những món quà mà tạo hoá đã ban tặng riêng cho người Việt, thật không thể không nghĩ đến tiếng hát Thái Thanh. Gần một thế kỷ của đời nghệ sĩ, Thái Thanh có lẽ là người duy nhất xứng danh diva trong âm nhạc Việt Nam. Tiếng hát của bà không những là những bài học về thưởng thức tinh tế cho nhiều thế hệ, mà còn là lời khai tâm cho tình dân tộc, đủ sức âm vang đến tận mai sau.
Dịu dàng và kín đáo thu hút như trang sách hay còn phía trước, bức ảnh mừng thọ bà năm 80 tuổi bật lên vẻ đẹp như một điều không có thật. Đẹp như ngàn bài hát mà bà đã ghi âm lại, đủ vẽ nên một chương lịch sử âm nhạc của quê hương qua bao cuộc nổi trôi, qua bao phận người Việt với yêu thương và khốn khó. Nhưng nghe và cảm nhận được tiếng hát Thái Thanh không dễ dàng, cũng tương tự như để sống là một người Việt đủ nghĩa chưa bao giờ là chuyện đơn giản.
Ngay cả trong giới sinh viên Nhạc viện, thậm chí là sinh viên thanh nhạc, cũng không phải ai cũng tiếp nhận được tiếng hát Thái Thanh. Để thưởng thức nhanh, những người học nhạc chúng tôi thường chia nhau giọng hát của những người thuộc hàng con cháu của bà như Thái Hiền, Duy Quang, Khánh Hà hoặc Ý Lan… chứ không thể bước ngay vào thánh đường âm nhạc của bà. Giọng hát của Thái Thanh kiêu hãnh như vậy đó. Hoặc để người tìm tới và chiêm ngưỡng, hoặc là cứ bước qua vô tình chứ không thể nhận mình tiếng hát giải trí đơn giản.
Nhiều lần ở Mỹ, tôi tìm cách xin gặp bà để trò chuyện cho một bài viết, cũng nhằm vào ngày kỷ niệm 80 năm đại thọ này, nhưng đều chưa đủ duyên để diện kiến, vì bà đang trong thời gian chữa căn bệnh alzheimer, lúc thì làm hao mòn sức khoẻ, lúc thì nhớ nhớ quên quên những vui buồn đã qua trong một đời người. Trong một thế kỷ phai tàn cùng ký ức đẹp nhất mà người Việt từng có, nụ cười của bà còn xuất hiện với khán giả là điều trân quý.
Thái Thanh là một trong những ca sĩ kín đáo và làm thất vọng không ít giới báo chí săn tìm tin tức giật gân, vì ngoài ngợi ca tiếng hát, người ta không thể biết viết gì thêm. Thế nhưng đời của bà đã trãi qua không ít thăng trầm. Vì sự hâm mộ mà nhà văn Mai Thảo đã tạc nên tên gọi lừng danh cho bà, là một “tiếng hát vượt thời gian”. Nhưng cũng vì lời yêu dấu đó mà chồng bà, diễn viên điện ảnh Lê Quỳnh đã không dằn được buồn giận mà xảy đến chuyện bà phải chia tay chồng sau 10 năm chung sống, có với nhau 5 người con, 3 gái và 2 trai.
Duyên nghiệp của bà Phạm Thị Băng Thanh, tên thật của ca sĩ Thái Thanh, với nghiệp ca hát như được ơn trên sắp đặt. Từ năm 13 tuổi, khi vừa vỡ giọng theo tuổi học thanh nhạc, bà đã hát nhuần nhuyễn các thể loại dân ca Bắc Bộ, trình diễn ở nhiều nơi như một người ca hát nghiệp dư nhưng đủ sức làm sửng sốt những ai nghe được. Thật khó mà tưởng tượng được một cô gái nhỏ xuống tàu vào Nam sau hiệp định Genève 1954, lại bí mật mang theo mình một kho tàng dân nhạc vĩ đại trong máu, trong hơi thở rồi viết thành lịch sử qua từng câu hát. Sau 1975, nhiều ca sĩ được đào tạo theo trường phái thanh nhạc của Bulgaria và Liên Xô cũ hay nói rằng ca sĩ Thái Thanh trình diễn nhiều kỹ thuật, nhưng sự thật là người ca sĩ này chưa bao giờ qua bất kỳ trường lớp nào, kể cả ở Việt Nam. Những gì bà biết được là thiên phú và bản năng hoà hợp những làn điệu của tổ tiên, cộng vào một chút hiểu biết mà bà tự mua sách âm nhạc của người Pháp để học hỏi. Những thanh âm cao vút như opera cộng với lối luyến láy, nhả chữ độc đáo của bà trở thành bộ sách giáo khoa tự nhiên cho thanh nhạc Việt Nam hiện đại, thậm chí mở ra một trường phái riêng của bà và cho âm nhạc Việt.
“Ai lướt đi ngoài sương gió…”, tìm được người có thể diễn tả được chữ “lướt” đi ai oán như một hồn ma, lướt đi mong manh vô định… như tiếng hát Thái Thanh trong Buồn Tàn Thu của Văn Cao có lẽ không dễ trong thế kỷ này. Hoặc lời hát làm thắt tim người trong Phượng Yêu của Phạm Duy, có thể chỉ còn là nuối tiếc trong nửa thế kỷ về sau. Thái Thanh chỉ có một, và tâm tình như Thái Thanh cũng chỉ có một.
“Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tí, bình diện với thời gian thay đổi, thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước hoặc năm ngàn năm về sau”, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói về bà như vậy. Đây có lẽ là một nhận xét đủ để thấy tiếng hát của bà trở thành nhiệm ý phi không gian trong cảm nhận của con người, ngoại trừ những kẻ ganh tị, hoặc kẻ không đủ sức để dung nhận giọng ca Thái Thanh trong âm nhạc Việt Nam.
Thái Thanh không làm chính trị, không tuyên xưng, nhưng luôn có một thái độ rất rõ, một cách đáng trân trọng, so với nhiều người coi mình là một nhân vật chính trị. Năm 1975, khi không kịp di tản và kẹt lại Sài Gòn. Có những ngày bà dọn ghế bàn, bán cà phê cóc vỉa hè để sinh sống. Chính quyền miền Bắc nhiều lần nhờ các nhạc sĩ nằm vùng từng quen biết cũng như các quan chức văn hoá đến kêu gọi bà tham gia hát các bài hát tuyên truyền cho chính quyền Cộng sản, nhưng bà nhất quyết thoái thác. Chính vì vậy, mà bà bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh… trong suốt 10 năm liền.
Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ, bà nối lại sự nghiệp trình diễn cho đến năm 2002 thì tuyên bố chính thức từ giã sân khấu, tương ứng với cột mốc 55 năm của một đời nghệ sĩ trình diễn. Mặc dù thỉnh thoảng bà cũng xuất hiện theo yêu cầu của khán giả nhưng không nhiều, và mỗi lần như vậy đều làm khán phòng nín lặng. Ca sĩ Tuấn Anh, người lừng danh với bài hát Trái Tim Ngục Tù của nhạc sĩ Đức Huy, cũng lừng danh vì luôn khắt khe trong mọi nhận xét về âm nhạc, đã từng phải thốt lên rằng “ngay khi bà cất tiếng giới thiệu, đó đã là một bài hát”.
Cũng như bao người Việt Nam khác. Tôi lớn lên với hình ảnh Việt Nam ngổn ngang các ý thức Quốc – Cộng. Hận thù và thương đau không đủ vẽ nên trong tôi hình ảnh một Việt Nam mến thương để sống, để nói vì. Nhưng trong run rủi, tôi nghe được Thái Thanh, khi bà hát về thân phận từ Trịnh Công Sơn hay bao la và vĩ đại từ Phạm Duy. Tiếng hát của bà vang vọng trong chia ly, mất mát, mà cũng quyện quanh trong hạnh phúc, sum vầy. Tiếng hát của bà là phần không nhỏ, dạy cho tôi biết yêu đất nước này, dù cùng quẩn trong khổ đau hay hạnh phúc trong giả tạo lăng trì.
Thỉnh thoảng, tôi cũng cũng giả định rằng liệu một nghệ sĩ xuất sắc như bà để có thể sống thật trong từng bài hát hay không, hay chỉ nức nở giả tạo như những bài hát tôi vẫn nghe mỗi ngày trên truyền hình, trên băng đĩa hiện tại? Nhưng khi nghe được chuyện bà vất vả thu hàng chục lần bài hát Bà Mẹ Gio Linh chỉ vì cứ ngừng vì khóc giữa bài, tôi hiểu được rằng tiếng hát của Thái Thanh không hát chỉ cho hôm nay, mà hát cho hôm qua và cả mai sau. Bà Mẹ Gio Linh của nhạc sĩ Phạm Duy là một trong những ca khúc mà Thái Thanh trình bày xuất sắc nhất, nhưng bà cũng ít khi trình bày bài hát này nhất vì quá đau thương khi phải gánh những hình ảnh khốn khổ của quê hương một thời đến với công chúng.
“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời”… Nhạc sĩ Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh in trong trí nhớ tôi hơn ngàn bài học hay sáo ngữ tuyên truyền. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến đất nước mình nhiều từ khi mẹ cho ra đời đến khi cắp sách đến trường, nhưng lời hát đó dìu tôi vào ý thức hệ dân tộc máu đỏ da vàng. Nếu không có nó, biết đâu có thể hôm nay tôi có thể là một tên khủng bố của chủ nghĩa thánh chiến toàn cầu hoặc là một tín đồ cộng sản quốc tế không quê hương.
Tôi chỉ có thể viết những lời vặt như vậy, nhân dịp mừng thọ 80 tuổi của người nữ danh ca này, như một lời cảm tạ một người nghệ sĩ đã thầm lặng cho tôi – và rất nhiều người như mình – những điều làm tôi thương mình là người Việt, thương giống nòi mình là người Việt. Đời người nghe thì rất gần ở đó nhưng là rất xa, tiếng hát hôm nay, mai có thể kỷ vật. Mến yêu một nghệ sĩ, không gì hơn ngồi lại để ngắm những gì họ đã góp nhặt cho đời. Và để nói một lời cảm tạ khi người còn có thể nghe thấy.
———————
IMG_1045.JPG
Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại Hà Nội, là một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà đi hát từ thuở thiếu niên, cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng, thành danh từ thập niên 1950.
Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ đó cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Sau 1985, dù chỉ hát và phát hành băng đĩa ở Mỹ, bà vẫn là giọng ca có vị trí hàng đầu, mệnh danh là “Đệ Nhất danh ca” của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam. Tên tuổi của bà cũng đặc biệt gắn liền với các nhạc phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy.

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 8 năm 2014

TÔI THÍCH NHỮNG BÀI THƠ CŨ - TUẤN NGUYỄN



Tôi thích những bài thơ cũ. Nó gợi nhắc cho tôi một thời đời sống với những trằn trọc tra vấn của cái tôi đầy xáo động, bấp bênh. Như con nước vỡ bờ, như đợt sóng gào thét, những người lớn tuổi hơn tôi, bằng tôi, đồng hành vào đời. Sống, hiện hữu đối diện với bối cảnh đất nước chiến tranh. Sự sống và chết như một lằn ranh vô hình dễ bị phá vỡ. Mỗi bài thơ là một sinh mệnh. Tôi nghe, tôi đọc như nói với chính mình. Đó là ngôn ngữ thơ – Tuổi trẻ tội nghiệp, cô đơn – Một thời để yêu, một thời để chết.
Chiến tranh đi qua. Tôi mất tất cả. Tôi còn lại gì? Tình yêu? Sự nghiệp? Những người thân yêu?
Tôi mất tất cả, kể cả những bài thơ.
Những bài thơ cũ với tôi mãi mãi là một hoài niệm, đó là một phần đời mà tôi đã bị đánh mất.
Đó là những bài thơ trước 1975, những bài thơ tình hồn nhiên, tội nghiệp, ngụp lặn trong chiến tranh.
Các thi sĩ một thời tôi say mê như điếu đổ: Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Thanh Nam, Thạch Chương, Vương Tân, Dương Kiền, Cao Thoại Châu, Hoài Tuyết Trang, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Miên Thảo, Tần Hoài Dạ Vũ, Cao Thị Vạn Giã, Bùi Giáng, Chu Vương Miện, Mường Mán, …Rất nhiều, rất nhiều.
Đó cũng là giai đoạn mà các tạp chí văn nghệ như trăm hoa đua nở làm phong phú hóa sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam.: Tạp chí Sáng tạo, thế kỷ hai mươi, Hiện đại, Nghệ Thuật, Mai, Văn, Văn học, …
Tìm lại được một bài thơ, đọc được một bài thơ cũ, tôi hạnh phúc vô cùng. Nếu trong âm nhạc, ngôn ngữ được chuyển vận theo giai điệu. Nó là một loại ngôn ngữ kép của nhạc điệu. Bài hát khi đã được chuyển vận và hát cho người nghe. Nó không còn cô đơn. Nó được đi vào lòng khán giả và được ái mộ. Ngôn ngữ thơ, bản chất nó cô đơn, mặc dù nó có âm thanh của nó nhưng đó là hơi thở của tận cùng sâu thẳm trái tim. Nó nói chuyện với từng cá thể. Thơ tìm sự hiệp thông trong nỗi cô đơn tận cùng.
TUẤN NGUYỄN ( blog ĐẶC TRƯNG)

Thứ Năm, ngày 14 tháng 8 năm 2014

HOA CỦA BA - HOÀNG THỊ THIỀU ANH



   Nhân mùa vu lan nhớ về Ba    
               Ba tôi rất thích bài hát” Mùa thu chết” của Phạm Duy. Bài hát gợi nhắc chúng ta về loài hoa thạch thảo tím.Để rồi mỗi bận lên thăm mộ ba tôi cố kiếm tìm cành hoa thạch thảo và đặt lên mộ phần, ngồi ngắm nghía hồi lâu và chợt nhận ra mình cũng yêu chi lạ loài hoa ấy.

             Cũng chỉ là loài hoa cỏ. Bông nhỏ li ti nhiều cánh mỏng và rất thanh. Thạch thảo không thơm nhưng màu thì tuyệt đẹp – Cái đẹp theo suy nghĩ của cá nhân tôi thôi! – Màu tím nhạt, bâng khuâng, màu của tình yêu chung thủy son sắc, màu của sự đợi chờ. Phải thôi, ba tôi mất sớm. Mới 40 tuổi đã từ bỏ mẹ con tôi mà về với cát bụi. Mẹ tôi suốt đời còm cõi lại càng còm cõi hơn khi mất ba. Và mạ yêu hơn màu hoa tím ấy, mạ yêu hơn bài hát có ten của loài hoa tím ấy. Và bàn thờ ba luôn luôn có loài hoa tím ấy.

                                                                            

                 Buổi chiều, trời ủ dột như sắp mưa. Bàn tay lần tìm cái CD nhạc nghe đỡ buồn. Vô tình đúng ngay CD ấy! “Mùa thu chết” của Julie. Bài hát cất lên từ chất giọng khàn khàn, nhừa nhựa. Tôi thả hồn theo từng nốt nhạc. “ Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo. Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi. Mùa thu đã chết em nhớ cho...đôi chúng ta không còn gần nhau nữa trên cõi đời này . Em ơi “. Da diết, buồn thê lương mà thương mạ tôi chi lạ! Mới 39 tuổi,góa bụa. Một mình nách ba con dại với rỗ rượu nếp rong  ruổi qua các buổi trưa đầy nắng, con dường đầy bụi, cuộc đời đầy đắng cay. Mạ đã nuôi chị em chúng tôi nên người. Cái màu hoa buồn chia ly tượng trưng cho sự thủy chung đợi chờ mà ba thích đã tiếp thêm sức mạnh cho má tôi gắng gổ vượt qua mọi trở ngại để chúng tôi có ngày hôm nay.

                  Loài hoa thạch thảo. Cái loài hoa bình dị ấy gợi nhắc tôi nhớ về người cha đầy yêu thương và người mạ tảo tần hôm sớm. Tôi yêu ba mạ tôi, yêu bằng  tất cả sự tôn thờ và lòng thành kính. Trong tôi, Người như những bông hoa thạch thảo giản đơn, gần gũi mà bình dị gắn bó. Ba mạ đã tiếp sức mạnh, nghị lực niềm tin về tương lai tốt đẹp phía trước, vì sự hy sinh cao cả của ba mạ. Để hôm nay tôi thật sự tự hào về mình khi trở thành một cô giáo giỏi, một người mẹ của  hai đứa con dễ thương ngoan ngoãn, một thành viên nhỏ trong môt gia đình đầm ấm, hạnh phúc – tràn đầy yêu thương

                 Thạch thảo ơi! Thạch thảo ơi!

Thứ Tư, ngày 13 tháng 8 năm 2014

NHAN SẮC - NGUYỄN NGỌC HẠNH

Nhan sắc
Thường là do trời ban cho
Người đàn bà coi như báu vật
Họ thường tiêu xài nhan sắc của mình
tuỳ theo mỗi số phận.

Nhan sắc em là giấc ngủ nồng của con
Là sự tảo tần đêm mưa chờ chồng
Là sớm khuya thân cò lặn lội
Một đời dầm dãi gió sương

Nhan sắc em chín lịm vào trong
Như quả ngọt đồng làng
Như tầng tầng câu thơ đa nghĩa
Mơ hồ một cõi mênh mang

Em đâu phải hồng nhan
Mà trời trao phận bạc
Thơ tôi không làm thêm nhan sắc
Em cứ lặng thầm mà chín vào trong.

Trời không cho, đời không ban
Em làm nên nhan sắc riêng mình...

Thứ Ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

TRÊN NẤM TÌNH HOÀI - HOÀNG LỘC

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRSiI-sA3EQL2fLysFhny00mSVFzVWYM1SGECBqfsWRYd6WYB_g
  ta đi em cũng không về
vầng trăng chiêu niệm câu thề nào xưa

nghe chiều cố quán mưa thưa
biết con thuyền ngủ sau mùa nước trôi

mừng ta háo sắc một đời
còn đang chống gậy qua trời trăm năm

xin em gần chỗ nhau nằm
dường như nắm đất khô vàng lạnh tay?

rồi trên ngọn nấm tình hoài
có con chim đứng hót ngoài thiên thu...

6-8-2014

Thứ Hai, ngày 11 tháng 8 năm 2014

VU LAN NHỚ MẸ : ĐÊM DÀI NHẤT ĐỜI CON - NGUYỄN MIÊN THẢO



Câu thơ con viết nửa chừng
Bỗng nhiên nhớ Mẹ vô cùng mẹ ơi!

1.



Mẹ ra đi giữa ngày đông giá
Nắng phương Nam trời đất u buồn
Con thức trắng – đêm dài vô tận
Mai con về còn kịp gặp mẹ không

Mẹ nằm xuống các con mỗi người mỗi nẻo
Chị ở phương Nam
Anh còn phương Bắc
Con lang thang phiêu bạt kỳ hồ
Dưới đôi vai gầy
Nỗi đau ba gánh chịu

Mai con về,mai con về
Dù gian nguy đang chờ chực
Mai con về sao đêm cứ dài thêm

2.

Chiều nay con về bên mộ mẹ
Lòng tan hoang cơn bão tháng mười
Khu vườn rộng thiếu tay người chăm bón
Ba ngồi bên cửa chờ ai

Con đứng lặng bên bờ giếng cũ
Vết đạn xói mòn đau nỗi đau xưa
Sợi tóc nào mẹ còn vương dấu gội
Lòng bâng khuâng nhớ tuổi lên mười

Căn nhà trống vườn cây tê tái
Dây trầu buồn vàng úa ,nhớ người chăm
Cả quê nhà vừa qua cơn khói lửa
Tiếng chuông chiều,ba-quyện-với-tang-thương

3.

Ngày mai này con lại ra đi
Để lại ba với nỗi niềm cô quạnh
Nỗi quê nhà cũng là niềm đất nước
Con đi làm ngọn gió điêu linh

Mẹ ra đi rồi căn nhà vắng lạnh
Ba một mình hôm sớm vào ra
Trái gió trở trời ai đỡ đần chăm sóc
Bước chân đi lòng quặn thắt quê nhà

Ba hãy đợi chúng con về sum họp
Mùa Xuân đang đến cuối chân trời
Như có mẹ đang ngồi bên bếp lửa
Anh chị em ngồi kể chuyện buồn vui

Ngày mai này trên đương phiêu bạt
những bài thơ, cơm áo , nhớ ơn đời
Con vẫn hẹn một ngày về cố quận
Nén hương lòng dâng mẹ một vần thơ

Trọng Đông Kỷ Dậu
Huế 1969

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 8 năm 2014

NHÂN MÙA VU LAN NÓI VỀ CHỮ HIẾU

Chữ Hiếu (孝)

imagenh vi hiếu thảo mang tính thực tiễn theo quan niệm chữ Hiếu của nhân dân ta, đã trở thành văn hoá đạo hiếu của dân tộc ta.

"Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

 Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

 Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con."

Hoặc:

"Trải bao gian khổ không sờn

Muôn đời con vẫn nhớ ơn Mẹ hiền."

 Chữ Hiếu (孝) “Con ai mà đứng ở đây, Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào”. Theo tự điển Hán Việt Đào Duy Anh Hiếu có nghĩa là hết lòng thờ cha, mẹ. Hiếu là phạm trù đạo đức của Nho giáo. Cùng với Trung (忠),  Hiếu (孝) xây dựng các quy tắc ứng xử của con người trong mối quan hệ xã hội và gia đình. Vì thế, dưới chế độ phong kiến: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ sử tử vong tử bất vong bất hiếu”:

(君 史 臣 死 臣 不 死 不 忠

父 史 子 亡 子 不 亡 不 孝)

(Vua khiến tôi chết, tôi không chết là tôi chẳng trung. Cha khiến con chết, mà con không chết là con chẳng hiếu…) và không ít trung thần, hiếu tử đã trở thành nạn nhân của quan niệm phong kiến, cực đoan đó.
 

Tuy nhiên, khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, Nho giáo nói chung, quan niệm về chữ Hiếu nói riêng đã được Việt hoá về nhiều mặt và nảy sinh những cách hiểu cũng như hành vi hiếu thảo mang tính thực tiễn theo quan niệm chữ Hiếu của nhân dân ta, đã trở thành văn hoá đạo hiếu của dân tộc ta.

Chữ Hiếu theo quan niệm của Nho giáo chính thống ở nước ta tuy vẫn chuyển tải đầy đủ ý nghĩa ban đầu nhưng nội hàm đã được mở rộng nhằm phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh và con người cụ thể: Lời dặn của Nguyễn Phi Khanh đối với Nguyễn Trãi “ Con về lập chí, rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu”. Hiếu ở đây không chỉ đối với cha mà còn Hiếu với nước. Ngày nay chúng ta vẫn thường nghe nói :“Trung với nước, Hiếu với dân”.

Trong xã hội, khi quan hệ cá nhân gắn liền quan hệ cộng đồng dân tộc thì chữ Hiếu trong quan hệ gia đình cũng hình thành những nét nghĩ mới. Việc làm của Nguyễn Trãi trong suốt quãng đời còn lại là quá trình làm tròn chữ Hiếu với cha nhưng cũng là thực hiện đạo Hiếu đối với dân với nước. Nhưng trước hết, bản thân Nguyễn Trãi nghe theo lời cha dạy, quay về mưu cầu việc lớn phò minh chúa Lê Lợi đánh giặc Minh  là hành động cụ thể đúng theo tinh thần chữ Hiếu trong quan niệm chính thống của Nho giáo Việt Nam. Nguyễn Trãi ăn lộc nhà Trần, thành danh và ra làm quan cho nhà Hồ và là bậc khai quốc công thần của nhà Lê nhưng không ai cho Nguyễn Trãi bất trung! Bởi vì, tuỳ duyên nhưng bất biến. Trường hợp Nguyễn Trãi, hiếu với dân, hiếu với nước rõ ràng là một bước tiến dài mang ý nghĩa hoàn chỉnh, trong quan niệm về chữ Hiếu của nhân dân ta.

Đạo Phật là đạo Hiếu, Đức Phật dạy:

“Này các Tỳ kheo,  có hai hạng người, không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng Mẹ, một bên vai cõng Cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến 100 tuổi. Như vậy, này các Tỳ kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho Mẹ và Cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dù tại đấy, Mẹ Cha có đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho Mẹ và Cha..." (Tăng Chi I, 75).

      Tất nhiên, đây là cách nói. Con cái không phải hiếu thuận  với Mẹ Cha chỉ một ngày mà suốt cả đời mình cũng không thể nào trả được công ơn sinh thành dưỡng dục..

      Chữ  Hiếu là nền tảng của đạo đức. “Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” (人生百幸孝為先) Trong trăm hạnh của con người, hạnh Hiếu đứng đầu. Và chúng ta cũng không quên khẳng định: “Hiếu vi công đức mẫu”(孝為功德母) Lòng hiếu là mẹ của các công đức.

      Con cái hiếu thảo với cha mẹ, ngoài việc mang lại niềm hạnh phúc trong gia đình, còn mang đến cho chính mình sự an lạc, bình an. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình trong xã hội, mỗi công dân của một quốc gia có an lạc, bình an thì xã hội, quốc gia đó mới có an lạc bình an, và mỗi xã hội, mỗi quốc gia có an lạc bình an thì  thế giới của chúng ta mới được an lạc, bình an. Bởi vì mỗi gia đình là một tế bào của xã hội. Gia đình có hoà thuận, hiếu thảo thì xã hội mới văn minh, tiến bộ.

               Nếu như ta không có tình yêu thương kính trọng vô điều kiện đối với cha mẹ thì không thể có tình yêu thương thật sự đối với người khác. Một xã hội không có những cá nhân có tình yêu thương thật sự, chỉ có những cá nhân, mà lòng yêu  thương trong họ chỉ tồn tại khi các điều kiện xuất phát từ  lòng tham dục đã được thỏa mản, nếu không đúng theo sự ham muốn, nếu trái với ý muốn, thì tình thương đó sẽ tan biến, dể biến thành sự khinh khi, đố kỵ, ganh ghét và hận thù. Như thế thì xã hội đó, sẽ không thể có được sự an lạc, an bình thật sự.

               Phong tục tập quán của các dân tộc, giáo lý của các tôn giáo đều khuyên dạy, đề cao và hướng con người đến nhận thức và thể hiện lòng hiếu hạnh của mình đối với đấng sinh thành. Đặc biệt nước ta với nền văn minh phát triển từ rất lâu, văn hóa “Nho-Thích –Đạo tam giáo chi quyền” (儒釋道三教之權) Đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão: cả ba đạo này đều cùng có chung một nguồn gốc…) đã ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội ta ngay từ thời lập quốc. Chữ Hiếu đã hình thành và tồn tại trong từng cá nhân như là bản tính tự nhiên vốn có từ khi chúng ta vừa mới chào đời.

      Đức Phật, bậc Giác ngộ, bậc Thầy của tất cả cõi trời và người, bậc Đại trí huệ, đại hùng, đại lực, bậc được khắp sáu cõi Tôn kính, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác...sau khi thành đạo đã thể hiện lòng từ hiếu của mình với phụ vương, mẫu hậu, kế mẫu vừa theo thường pháp vừa đúng Chánh Pháp.

      Thế  Tôn đã đi bộ, vượt ngàn dặm đường hiểm trở để trở về thăm phụ hoàng, khi người sắp lâm chung, Ngài lại vượt đường xa để đến bên cạnh vua cha và tự khiêng một góc linh sàng của người đến tận nơi hỏa táng. Ôi tấm lòng từ hiếu biết bao! Còn với kế mẫu, Ngài luôn tỏ lòng hiếu thảo.

      Bên cạnh việc thể hiện chữ hiếu theo thường pháp, lòng từ hiếu của Đức Phật còn nhằm mục  đích hướng tất cả chúng sinh đến việc hiểu và hành Chính Pháp để được giải thoát. Trong những lần gặp gỡ phụ thân và kế mẫu, Ngài đã thuyết pháp để độ cả hai chứng đắc quả A-La-Hán, với mẫu hậu Ngài đã ngự lên cõi trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ (Phật thăng Đao Lợi vị mẫu thuyết pháp kinh) .

Câu chuyện “Chử Đồng Tử” (渚童子) sau đây là một bằng chứng thấu tình, đạt lý về chữ HIẾU.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (嶺 南 摘 卦) của Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Vua Hùng thứ ba có người con gái tên Tiên Dung Mỵ Nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, chỉ mãi vui chơi, chu du khắp thiên hạ. Hồi đó ở làng Chữ Xá có ngư dân là Chữ Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử (渚童子) (người con trai ở bên sông). Chẳng may, nhà gặp hoả hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một cái khố vải, cha con ra, vào thay nhau mà mặc. Người cha, tuổi già, đau ốm, trước khi nhắm mắt gọi con đến bảo rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con.” Chữ Đồng Tử không nở làm theo, dùng khố mà liệm bố.

Từ đó, Đồng Tử thân thể trần truồng, hể nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà ăn xin, rồi câu cá, hái rau độ thân.Không ngờ, một hôm, thuyền của Tiên Dung đến, chuông trống, đàn sáo, kẻ hầu, người hạ rất đông. Trên bãi cát có khóm lau sậy, Đồng Tử bèn nấp  trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống và phủ cát lên mình. Thoát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh vây màn trướng ở khóm lau mà tắm.

Tiên Dung vào màn, cởi áo, dội nước, cát trôi, phát hiện Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ, thấy là người con trai, bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người, cùng ở trần với nhau, đó chính là do duyên trời xui khiến nên vậy. Người hãy đứng dậy tắm rửa, ta ban cho quần áo mặc, rồi cùng ta xuống thuyền, mở tiệc ăn mừng. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có.

“Chử Đồng Tử” (渚童子) là câu chuyện mà qua đó, dân gian ta “phản ánh nguyện vọng, ước mơ tự do hôn nhân và đề cao đức tính hiếu thảo” qua hai nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung

Chử Đồng Tử (渚童子) là người con rất có hiếu đối với cha. Điều này thể hiện qua chi tiết chàng đã “đóng khố cho cha rồi mới chôn” dù cả hai cha con chỉ có chung một chiếc khố dùng thay nhau và trước đó, cha chàng đã dặn “cứ giữ lấy mà dùng”. Nhưng nghĩa tử là nghĩa tận, Chử Đồng Tử đã không nỡ để cha mình trần về nơi chin suối. Việc Chử Đồng Tử không nghe lời cha, nếu xét theo quan niệm chữ Hiếu của Nho giáo bảo thủ không những không được coi là hiếu thuận mà ngược lại, còn bị cho là bất hiếu. Thế nhưng, sự thực là không ai không xúc động trước tấm lòng hiếu thảo sâu nặng của chàng, cũng không ai chê trách mà tất cả đều đồng lòng ngợi ca hành động hiếu nghĩa đó. Trong trường hợp này, dân tộc ta đã có quan niệm rất thực tế về chữ Hiếu. Chử Đồng Tử, dù không nghe lời cha (là biểu hiện của sự bất hiếu) nhưng việc chàng làm lại toả sáng một tấm lòng rất mực hiếu thảo. Chử Đồng Tử đã được dân gian ban tặng “phần thưởng” là một cô Công chúa xinh đẹp để làm vợ. Quả thật đây là phần thưởng vô cùng cao quý mà không bạc vàng nào sánh được (Vì không thể dùng của cải vật chất làm thước đo lòng hiếu thảo con người ). Chi tiết này thể hiện cách nghĩ hết sức thâm thuý thấm đẩm tính chất nhân văn và có thể coi là sự bổ sung cho quan niệm về chữ Hiếu trong dân gian của dân tộc ta.

Công chúa Tiên Dung, nếu  xét theo tiêu chí và quan niệm về chữ Hiếu của Nho giáo bảo thủ, cố chấp được coi là một người con “bất hiếu” bởi không nghe lời cha, “không chịu lấy chồng” và tự ý định đoạt hôn nhân cho mình – hành động “mặc áo qua đầu” vốn bị coi là cấm kỵ trong xã hội phong kiến về mối quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ. Và Chử Đồng Tử, một chàng trai hiếu thảo, trớ trêu thay, lại được dân gian dành cho phần thưởng là một cô con gái “bất hiếu”! Thoạt nhìn, tưởng như dân gian ta có ý “chơi khăm” nhân vật của mình nhưng kỳ thực thì không phải vậy.

Trong nhận thức của nhân dân ta, Tiên Dung chưa bao giờ bị coi là bất hiếu bởi việc nàng làm chẳng những không phương hại đến ai mà còn hướng đến lẽ đời cao đẹp với hôn nhân tự do và sự phân định đẳng cấp xã hội bị xoá nhoà. Cái sâu sắc của dân gian ta ở đây là tạo ra cái nghịch lý bên ngoài để làm sáng lên cái có lý bên trong. Chử Đồng Tử xứng đáng được ban thưởng và Tiên Dung cũng xứng đáng với tư cách “phần thưởng” của mình.

Truyện “Chử Đồng Tử” (渚童子) kết thúc với việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay về trời cũng là dụng ý của dân gian, nhằm tránh sự xung đột trong quan hệ vua-tôi, cha-con giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung với vua cha, khi mà nhà vua cử binh tiến đánh để Trung và Hiếu được vẹn toàn. Truyện cổ tích, nhất là cổ tích thần kỳ của nhân dân ta phản ánh thời kỳ “ngây thơ” trong lịch sử xã hội loài người nhưng những gì được thể hiện trong “Chử Đồng Tử ” lại cho thấy quan niệm và cách xử lý tình huống không hề ngây thơ.

Quan niệm về chữ Hiếu  qua câu chuyện về chàng trai họ Chử có màu sắc phong phú và giá trị thực tiễn phù hợp với đời sống tâm lý xã hội cộng đồng, dù vẫn giữ cái hạt nhân cốt lõi của quan niệm về chữ Hiếu. Việc tiếp thu và vận dụng văn hoá, tư tưởng nước ngoài bằng trí tuệ, tâm hồn và đạo lý dân tộc của người Việt qua truyện “Chử Đồng Tử ” nói riêng, trong quá trình xây dựng và phát triển bản sắc văn hoá, tư tưởng dân tộc nói chung luôn là điều khiến ta phải suy ngẫm và thán phục.

Chử Ðồng Tử như là một trong Tứ Bất Tử, biểu trưng cho đạo hiếu của dân tộc Việt Nam, và là người Phật tử đầu tiên sống khoảng thế kỷ II trước công nguyên.

Hiếu kính với Cha Mẹ là một truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó từ nghìn xưa đã được lưu giữ  trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho đến ngày nay và mãi ngày sau.
TRÍ BỬU
 http://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoa/vu-lan/13979-chu-hieu.html