Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

BÀI ĐIẾU VĂN VIẾT MUỘN - NGUYỄN MIÊN THẢO


(Nhân ngày tuần chay giáp năm Ni sư Huỳnh Liên)

Chưa một lần sinh nở
Người
Mẹ Việt Nam
Chưa một lần trần tục
Mẹ
Bao năm
Sống giữa đời thường

Hôm nay
Chúng con về giỗ Mẹ
Gặp lại bạn bè
Thiếu vắng anh em

Vẫn như ngày nào
Con nghe
Gió phong trào
Lớp lớp tràn đi
Bão tố
Giữa đường phố xưa
Rộn ràng
Tiếng hát

Tuổi hai mươi
Cách mạng dậy thì

Ngày hội trùng tu
Mẹ
Nửa mừng
Nửa tủi

Bạn bè con
Những con của Mẹ
Đứa chết trong ngục tù
Đứa ngã xuống
Một đêm vượt lộ
Đứa bây giờ ăn - trên - ngồi - trước
Đứa sống lang thang không cửa không nhà
Mơ ước suốt đời
Một tờ hộ khẩu
Có đứa đã chết trong đời thực
Vẫn múa may
Quanh nỗi bần cùng

Hôm nay
Chúng con về
Với Mẹ
Ăn bữa cơm dưa muối
Lòng nghe đau buốt nỗi cần lao
Mà trái tim
Vẫn cháy bỏng
Lửa phong trào

Mẹ vẫn ngồi
Hiền từ trong mộ tháp
Mừng chúng con
Đang tràn tuổi thanh xuân
Mà nhớ những người
Vắng mặt

Chiều nay
Vườn chùa rụng đầy bông sứ trắng
Mừng chúng con về
Vườn cũ
Ngát hương bay .

Rằm tháng Hai năm Mậu Thìn (1987)

THƠ TÔN PHONG,,TRẦN DZẠ LỮ

SAU CUỘC CHIẾN
TÔN PHONG

Con về lạy mẹ bóng cây
Lạy cha ngọn cỏ lạy thầy bờ sông
Con cò lạy dọc cánh đồng
Con xin cúi lạy một vòng quê hương


MẸ ƠI
TRẦN DZẠ LỮ
Mẹ ơi mẹ giữa vòng đời nghiệt ngả
Nhiều khi con phải vượt lên chính mình
Trước mặt, sau lưng hố thẳm rập rình
Đường thiên lý cứ hỏi lòng hối hả ?

Bỏ quê quán để trở thành khách lạ
Mẹ đừng buồn con-một đứa phiêu linh
Bỏ dòng sông Hương một thuở tự tình
Ôm trôi nổi để gặm hoài đắng, chát…

Bao nhiêu năm con vẫn còn ngơ ngác
chốn thị thành, mai mốt sẽ về đâu ?
Ly rượu cạn, hồn đau, ai tri kỷ ?
Thèm lời ru của mẹ đến chiêm bao !

Ngôn ngữ kia như trái bóng nhiều màu
Người phủ dụ làm sao con tin được ?
Sống như đất, suốt một đời chân thật
Biết tìm đâu tình hương bưởi hương ngâu?

Nhớ như in lời mẹ dặn hôm nào:
(sống chí tình đó là điều tốt nhất )
Nhưng thị phi luôn lơ lửng trên đầu
Con chưng hửng…khi biết mình thất thế !

Bao nhiêu năm ,vẫn thèm về với mẹ
Dẫu lượng đời hao hụt cõi phù hoa
Có nơi đâu bằng được chốn quê nhà
Phải không mẹ?-Người con yêu quý nhất !

Lúc sinh con cũng là lúc mẹ mất
Một vầng trăng kỷ niệm đã vuông tròn
Mắt mẹ buồn như mắt của hoàng hôn
Cha khuất núi một ngày mưa lất phất !

Con cũng mất một tình yêu thứ nhất
Nơi Hoàng Thành ngày ấy đã xa xăm
Chiều Thiên An-Sao dấu ấn vẫn còn
Môi phụ bạc rời xa môi quay quắt ?

Mẹ ơi mẹ con vẫn tin rằng đất
Vẫn bao dung cho kẻ biết quay về
Cơm với cá vẫn ngot ngào tiếng hát
Lý mười thương viên mãn một tình quê …

T D L
( SàiGòn tháng 4 năm 2011 )





Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

TRANG VĂN NGÀY CŨ KỲ 31 - NHÀ THƠ HẠC THÀNH HOA



Hạc Thành Hoa tên thật là: Nguyễn Đường Thai Sinh quán tại Xuân Phổ, Thọ Xuân, Thanh Hóa, sống bằng nghề dạy học, Hạc Thành Hoa làm thơ từ năm 1961, đã đăng thơ trên các tạp chí văn học trước năm 1975 tại Miền Nam Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản:
+ Trong nỗi buồn vàng (Nguyễn Đình Vượng, tạp chí Văn Sài Gòn – XB – 1971).
+ Một mình như cánh lá (Giao điểm Sài Gòn xuất bản – 1973), tái bản (Thư ấn quán Hoa Kỳ xuất bản) 2006.
+ Phía sau một vầng trăng (NXB Thanh niên – Hà Nội – 1955).
+ Khói tóc (NXB Lao động – Hà Nội – 1996).
Xin được giới thiệu một số bài thơ cùa nhà thơ Hạc Thành Hoa

RỪNG LÚC NỬA ĐÊM
Nửa đêm trời đất mênh mông
Rừng hoang vu quá cho lòng xót xa
Cây buồn đêm cũng trổ hoa
Chim kêu dưới bóng trăng tà lẻ loi
Thương rừng không tiếng lá rơi
Thương ta trôi giạt một đời đắng cay
Đêm đêm thức giữa rừng cây
Nằm nghe sương rụng giọt đầy giọt rơi
Tưởng như đêm suốt một đời
Ngày mai không biết mặt trời có lên.

MƯA VANG MẶT ĐƯỜNG
Ngậm ngùi nhớ những ngày xưa
Phất phơ dạo dưới cơn mưa ngày nào
Mưa vang một giấc chiêm bao
Cây xanh lá biếc xôn xao với người
Mưa từng giọt rượu trên môi
Lòng ta theo nhịp đất trời cùng quay
Những ngày lạnh hút chân mây
Niềm vui bắt đuợc cơn say trong đời.
Ngọt lòng nghe tiếng mưa rơi
Giọt mưa thu cả đất trời vào trong...
Mưa như sương trắng cánh đồng
Tưởng còn tươi những nụ hồng trong mưa
Nụ hồng đã rụng năm xưa
Mùa bong bóng vỡ bây giờ còn đây
Trong hồn đã vắng cơn say
Mưa còn thơm những tháng ngày trổ bông
Đưa tay hứng giọt mưa nồng
Nghe thân buốt lạnh một dòng suối sâu
Mưa từng hạt nặng mưa mau
Sương ngân lối cũ lòng đau vô bờ.

TIẾC ĐỜI SAO BĂNG
Em còn bóng mát đầu sông
Nắng đi trải lụa nằm hong tơ chiều
Bụi mờ lạc nẻo chân xiêu
Hàng cây lượn khói tiêu điều chưa tan
Em còn tươi búp ngọc lan
Hương bay từ cõi thiên đàng nào xa
Kiếp trần trơ một hồn hoa
Thương mây trắng những ngày qua biển sầu
Em còn vầng nguyệt đêm thâu
Từ nao nao ánh hỏa châu cuối trời
Chim qua trăng sáng tuyệt vời
Chợt bâng khuâng tiếc thương đời sao băng

TRÊN BỜ ĐÁ TÌNH NGƯỜI
Chồi vui chưa trổ cành không
Mù mưa giăng một nhánh sông âm thầm
Tình người bờ đá trăm năm
Sóng tình tôi cuộn trên dòng nước xuôi
Hang sâu chim ngủ phần người
Trơ vơ cột khói thở trời mây đen
Nẻo đời mai có còn em
Nhìn cây rủ bóng hồn im nắng tà
Ngại mây gió đuổi phương xa
Trời xanh sợi khói giăng qua bãi nào
Những ngày gió đợi trên cao
Trong mưa phố vắng bước sầu ngựa ô
Xe nào mai ngọn gió đưa
Chim quên tiếng hót nghe thu xuống cành

NHƯ HAI SỢI KHÓI
Ngày đó có em và tôi
Như hai sợi khói giữa trời gặp nhau
Bất ngờ ngọn gió từ đâu
Tưởng hai sợi khói lìa nhau suốt đời
Bây giờ em lại cùng tôi
Vẫn hai sợi khói giữa trời gặp nhau
Biết còn gần được bao lâu
Chỉ lo cơn gió từ đâu vô tình


ĐÊM TRĂNG PHƠI ÁO
Ngày mai đã hết quần áo mặc
Một bộ diện gần cả tháng nay
Ta lười trời đất còn nể mặt
Thì sá gì đôi trận gió bay…

Nhưng đêm trăng sáng trăng huyền diệu
Gác trọ lòng không bóng mây vương
Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới
Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.

Dưới bóng trăng mình ta một cõi
Đất trời im vắng giấc cô miên
Bên thau quần áo cao như núi
Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.

Trăng soi từng chỗ cho ta giặt
Áo quần trắng toát một màu trăng
Vò từng chiếc áo nghe tim buốt
Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.

Ta ngồi nhìn bọt xà bông vỡ
Mỗi bọt tan theo một phiến trăng
Tiếng của đời ai đang nức nở
Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.

Cố thức giặt cho xong quần áo
Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong
Trăng theo nước chảy về vô tận
Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.

Đêm nay phơi áo trên sân thượng
Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu
Phơi cả hồn ta trong sương lạnh
Một trời trong vắt bóng trăng treo.

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975-2011(KÌ 68)




NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


Tưởng niệm
681 - Nguyễn Đức Quang
MỘT THỜI DU CA
Ca sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1944 tại Sơn Tây – Mất tháng 3.2011 ở Mỹ (68 tuổi).
Xuất thân từ Hướng đạo, sau khi tốt nghiệp đại học ở Đà Lạt từ năm 1966 phát động phong trào du ca từ Sài Gòn do mình chủ động vừa sáng tác vừa đi trình diễn khắp nhiều tỉnh thành miền Nam. Với mục đích, nội dung chủ yếu kêu gọi gây dựng tinh thần cống hiến cho xã hội trong lớp thanh niên giàu nhiệt huyết đóng góp xây dựng quê hương đất nước. Gần giống như tinh thần Hướng đạo xả thân vì cộng đồng.

Từ đó để lại một dấu ấn trong thế hệ trẻ thành thị qua nhiều ca khúc cổ vũ ý hướng xây dựng tích cực như “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Xin chọn nơi này làm quê hương”, “Về với mẹ cha”, “Bên kia sông”, “Về miền gian nan”, “Dưới ánh mặt trời”, “Hy vọng đã vươn lên”, “Chiều qua Tuy Hòa”… Bên cạnh đó còn thêm thể loại trầm ca, hưng ca. Tất cả đều mang tính phi chính trị không ngã về bên nào trong cuộc chiến VN lúc đó vẫn đang tiếp diễn ngày càng khốc liệt.

Sau 75 tất nhiên loại nhạc “chung chung” đó - không tỏ rõ quan điểm lập trường, không “phân biệt bạn thù” - bị chế độ mới cộng sản thẳng tay loại bỏ (cũng như cấm phong trào Hướng đạo hoạt động). Riêng bản thân tác giả cũng bị đi cải tạo ngắn hạn.

Ra trại, đến năm 1979 không còn con đường nào khác ngoài vượt biên qua Mỹ.

Tuy nhiên trên đất Mỹ lại có vẻ từ bỏ lý tưởng du ca trước kia có lẽ vì thất vọng thấy ý hướng phi chính trị ở đây rõ ràng thực tế vô hiệu quả – cũng như phong trào Hướng đạo nói chung - trong một xã hội, đất nước bị bủa vây, chi phối, chỉ đạo bởi chính trị nặng nề. Từ đó chuyển qua làm báo chuyên nghiệp – và cả đài phát thanh, truyền hình - ít ra cũng có tác động xã hội thực tế, hiệu quả hơn. Cùøng tham gia tổ chức, lãnh đạo báo Người Việt – cùng bạn cũ Đỗ Ngọc Yến – tờ nhật báo tiếng Việt lớn nhấùt ở hải ngoại, lập một vài tuần báo khác...

Đến năm 2004 nghỉ làm báo mới quay lại với giấùc mộng du ca trước đây, ôm đàn đi “hát rong” qua nhiều nước vẫn với ý nguyện yêu nước trong sáng ngày nào.

Sau khi mất đã được phong trào Hướng đạo VN truy tặng huân chương, còn để lại bài tráng ca Hướng đạo “Gươm thiêng ngạo nghễ”.

682 - Cao Văn Khánh
TƯỚNG DÍNH CHẤT ĐỘC DA CAM
Trung tướng Quân đội Nhân dân VN sinh 1917 tại Huế – Mất 1980 ở Hà Nội (63 tuổi).
Từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ năm 1964 được cử vào chỉ huy nhiều đơn vị, mặt trận ở Trị – Thiên, Hạ Lào, Tây Nguyên. Có mặt trong những trận đánh lớn nổi tiếng Khe Sanh, đường 9 Nam Lào…

Năm 1974 được rút về Hà Nội làm Phó Tổng tham mưu trưởng, góp phần tham mưu chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Năm 1980 qua đời vì bệnh ung thư được xác định là do di chứng CĐDC từng bị lây nhiễm trong thời gian sống và chiến đấu ở Thừa Thiên – Huế.

Theo nguyện vọng, mộ được chôn trên núi – thay vì tiêu chuẩn đưa vào Nghĩa trang Mai Dịch - gần mộ con trai đầu cũng bộ đội đã hy sinh, trên mộ chỉ đề tên không kèm chức tước gì hết.

Nhưng hậu quả chiến tranh để lại chưa hết, năm 2003 con trai út (4 con tất cả) mới hơn 30 tuổi mất cũng từ CĐDC phát tán từ cha.

Từ đó vợ là một đại tá giáo sư bác sĩ – cũng là cựu chiến binh Điện Biên Phủ người đồng hương – bắt đầu công trình nghiên cứu về CĐDC, trở thành một trong những người đi tiên phong đấu tranh đòi quyền lợi cho nạn nhân CĐDC Việït Nam.

683 - Chế Linh
“VUA NHẠC SẾN” KHÔNG QUÊN NGUỒN CỘI
Ca sĩ tên thật Chà Len (dân tộc Chăm) sinh 1942 tại Phan Rang. Sống ở Canada (2011).
Trước 75 là giọng ca nam nằm trong Top 4 nhạc vàng (cùng Hùng Cường, Duy Khánh, Nhật Trường), được Duy khánh dìu dắt trở nên còn ăn khách hơn cả thầy với biệt danh là “Vua bolero” qua những ca khúc “rên rỉ ủy mị” số 1 như “Con đường xưa em đi”, Thành phố buồn”…

Nhưng cũng chính vì giọng ca “não tình” đó khi hát nhạc lính mà năm 1972 từng bị chế độ Thiệu – Kỳ cấm trình diễn với lý do “làm nản lòng chiến sĩ” đánh cộng sản.

Sau 75 nhạc vàng lại bị cấm tiếp cấm tiệt khiến phải tìm đường vượt biên năm 1976. Không may bị bắt ở Phan Thiết chụp cho thêm cái mũ “phản động” nhốt biệt giam 28 tháng.

Đến 1980 mới vượt biên thành công qua đảo Malaysia rồi được Canada cho nhập cảnh.

Tại đây trở lại hát sô hải ngoại hoành tráng tìm lại một chút thời vàng son đã mất. Đồng thời lập phòng thu sống thoải mái (lần lượt lấy 4 vợ, có 14 con).

Năm 2007 chấp nhận lời mời theo đoàn UNESCO về VN trình diễn nhân lễ hội người Chăm tại TPHCM. Qua năm sau lại về biểu diễn ngay Thủ đô Hà Nội dịp Tết rồi ghé qua quê cũ thăm bà con xóm giềng.

Và còn tham gia một số hoạt động văn nghệ gây quỹ từ thiện ở VN với tâm sự giờ đã có thể lật bài ngữa được rồi: “Quá khứ chìm sâu rồi… Ở đâu thì tôi vẫn là Chế Linh, người dân tộc Chăm và quê hương là VN. Trái tim tôi vẫn nằm ở VN.”

684 - Dương Văn Minh
NGƯỜI KẾT THÚC CHIẾN TRANH
Tổng thống chế độ cũ sinh 1916 tại Mỹ Tho – Mất 2001 ở Mỹ (86 tuổi).
Vị tổng thống cuối cùng – đại tướng -- của chế độ cũ VNCH, nắm chính quyền chỉ 3 ngày rồi ra lệnh “hạ vũ khí” bàn giao chính quyền cho cộng sản.

Sau đó bị quản thúc tại TPHCM, đến 1983 mới cho phép qua Pháp đoàn tụ gia đình (có 2 con trai ở đó). Em trai là đại tá cộng sản (có 2 con gái để lại Sài Gòn nhờ anh chăm sóc) có được phép qua thăm.

Sau đó chuyển qua Mỹ sống với con gái. Có nguyện vọng được về thăm quê hương song chưa thực hiện thì qua đời vì bệnh già.

Suốt quảng đời còn lại rút về sống ẩn dật, ít tiếp xúc với bên ngoài, tránh trả lời phỏng vấn cũng không viết hồi ký để lại. Chỉ có vài lời nhắn nhủ con cái: “Mình có làm gì đi đâu cũng phải nghĩ đến dân tộc là trên hết, phải trở về với dân tộc.”

Đám tang có khoảng 500 người dự kể cả tướng tá đồng đội cũ lẫn chính trị gia thời trước dù bản thân nằm giữa dòng xoáy 2 luồng dư luận đối nghịch nhau -- một bên ca ngợi công lao “Tổng thống đầu hàng” vãn hồi hòa bình cho đất nước và một bên kết án phản bội “bán nước” cho cộng sản!

Nhớ lời cha, con cái đã có dịp trở về “dinh Hoa lan” tại TPHCM - vẫn được giữ lại cho gia đình - để tham gia hoạt động từ thiện.

585 - David Dương
TỪ COGIDO ĐỒNG NAI ĐẾN COGIDO MỸ
Doanh nhân Việt kiều Mỹ tên đầy đủ Dương David Trung sinh 1958 tại Sài Gòn. Sống ở Mỹ (2011).
Trước 75 gia đình chuyên ngành kinh doanh giấy – vừa thu gom giấy vụn vừa sản xuất giấy trắng – nổi tiếng lớn nhất miền Nam với thương hiệu COGIDO Đồng Nai.

Sau 75 đương nhiên bị đánh tư sản tơi bời buộc cả nhà phải vượt biên năm 1976, qua đảo đến 1979 mới được nhập cảnh vào Mỹ.

Trên đất Mỹ ngày đi làm việc chân tay, đêm tranh thủ đi học tiếng Anh.

Bắt đầu từ đầu những năm 1980, gia đình quay lại nghề “gia truyền” thu gom giấy vụn rất thành công do nghề này thời đó chưa có ở Mỹ. Tiến lên thành lập công ty lấy tên Cty COGIDO Paper – do mình làm giám đốc - nhằm nhớ lại thời vàng son ở VN. Từ thu gom giấy vụn phát triển thành thu gom phế liệu với một mạng lưới xe tải đi “nhặt rác” và nhiều công ty con qua đó giúp nhiều dân đồng hương di tản có công ăn việc làm ổn định khấm khá.

Năm 1992 tách ra lập công ty riêng tiếp tục khai thác mở rộng thu gom cả chất thải rắn, đưa dây chuyền công nghệ hiện đại vào áp dụng. Được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội doanh nhân Việt kiều tại Mỹ.

Năm 2004 trở về thăm quê nhà nay là TPHCM, từ đó hợp tác đầu tư 400 triệu USD xây dựng khu xử lý rác thải Đa Phước lớn nhất nước mỗi ngày xửû lý 3.000 tấn rác thải. Song song đó nhiệt tình tham gia công tác từ thiện giúp đỡ đồng bào nghèo, bất hạnh, trẻ em khuyết tật… Ngoài ra còn vận động thành lập 2 trường đại học chi nhánh Mỹ tại VN.

Từ đó năm 2010, người được mệnh danh “Vua rác” được Tổng thống Mỹ B. Obama bổ nhiệm chức danh cao quý làm người phụ trách Quỹ học bổng Giáo dục VN (VEF) trong thành phần ban quản trị 13 người gồm các nghị sĩ, dân biểu lẫn nhân viên chính quyền Mỹ.

Quỹ này do cựu Tổng thống B. Clinton và Quốc hội Mỹ thành lập bắt đầu hoạt động năm 2003 với ngân sách 5 triệu USD/năm, đến năm 2011 đã cấp học bổng cho hơn 340 ứng viên VN – sinh viên và học giả – qua Mỹ du học hoặc nghiên cứu các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ, toán học, y tế.

686 - Đinh Huy Cài
“QUỸ BÁC CÀI”
Cựu chiến binh sinh khoảng 1938 tại Ninh Bình. Sống ở TPHCM (2011).
Đại tá về hưu sau cuộc đời trận mạc kinh qua từ đánh Pháp đến chiến trường miền Nam, sau đó còn 10 năm truy quét tàn quân Pol Pot ở Campuchia.

Về hưu sống một mình thanh bần (vợ con còn ở quê), được cấp nhà không nhận, đến khi vợ đưa con vào TPHCM học đại học mới chịu nhận một căn nhà nhỏ (còn một con bị di chứng CĐDC).

Bắt đầu từ năm 2001 đem hết tiền bạc dành dụm được khoảng 170 triệu đồng ra làm từ thiện, 70 triệu góp quỹ xóa đói giảm nghèo, còn 100 triệu để cho đồng đội cũ gặp cảnh khó khăn mượn bao giờ trả cũng được. Từ đó mới có tên gọi “Quỹ bác Cài”.

Để giúp quỹ trụ vững, chia bớt nhà đem cho thuê lấy thêm chút tiền đỡ đần trong gia đình. Phần mình chỉ còn lại “tài sản vô giá” là chiếc võng đong đưa từ ngày nằm rừng lội suối đánh giặc: “Người ta chỉ cần một chiếc võng là thu xếp cuộc đời của mình được rồi. Giường êm nệm ấm sao được khi bao đồng đội còn quá vất vả trong cuộc sống…”

687 - Giao Linh
“NỮ HOÀNG SẦU MUỘN” BÁN PHỞ
Ca sĩ tên thật Đỗ Thị Sinh sinh 1949 tại Sài Gòn. Sống ở TPHCM (2011).
Trước 75 được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đào tạo, nổi tiếng là “Nữ hoàng sầu muộn” trong làng ca nhạc miền Nam qua nhữõng ca khúc tình cảm thê thiết, được nhớ tới nhiều nhất là bài “Nỗi buồn hoa phượng”.

Đến năm 1982 mới vượt biên qua Mỹ. Trở lại nghề hát, nhiều lần đi biểu diễn nước ngoài ở Châu Aâu.

Năm 2001 lần đầu tiên quay về VN thăm bà con bạn bè, thấy không khí đã thoáng, cởi mở hơn nên năm 2003 quyết định về định cư luôn vì “Hoài hương là tình cảm tiềm tàng trong suy nghĩ mỗi người. Chỉ có điều ở từng hoàn cảnh nhất định chúng ta mới nhận ra thôi.”

Mở tiệm phở và bánh cuốn hãnh diện là “nghề gia truyền” và thỉnh thoảng vẫn dành thời gian đi tham gia hát từ thiện.

688 - Hà Thúc Cần
MỘT THỜI “ĐẤT KHỔ”
Nhà quay phim và sưu tập tranh sinh tại Huế – Mất 2004 ở Singapore.
Trước 75 quay phim cho Hãng CBS của Mỹ, có nhiều cơ hội chứng kiến thảm cảnh chiến tranh VN trên quê hương và số phận đồng bào mình.

Từ đó năm 1970 tự mình làm đạo diễn thực hiện bộ phim truyện nhựa (đen trắng) tựa đề “Đất khổ” với nội dung mô phỏng theo trận chiến Mậu Thân 68 trên quê nhà Huế của mình, lấy cảm hứng theo 2 thiên truyện của nhà văn đồng hương Nhã Ca, “Đêm nghe tiếng đại bác” và “Giải khăn số cho Huế”. Tham gia đóng phim cũng là đồng hương Trịnh Công Sơn (vai chính) lúc đó mới 20 tuổi chưa nổi tiếng cùng một số thân hữu văn nhân thi sĩ như Kim Cương, Lê Trọng Nguyễn, Sơn Nam, Kiên Giang, Miên ĐứcThắng…

Nhưng phim làm xong 1973 bị chế độ cũ cấm chiếu với lý do có tính chất “phản chiến” và “thân Cộng” nên ít ai biết tới.

Dù bị “chụp mũ” như vậy song sau 75 lại không sống nổi với cộng sản nên phải bỏ đi lưu vong Singapore.

Tại đây chuyển nghề trở thành nhà sưu tập tranh VN có tiếng, người đầu tiên mang tranh VN ra thị trường quốc tế bán đấu giá ở Hong Kong, Singapore. Từ 1985 đã trở về quê hương tìm tranh VN.

Mất vì bệnh thận dù đã thay cả 2 quả thận.

Riêng phim “Đất khổ” mãi đến năm 1996 mới được “phát hiện” lại ở Mỹ, trình chiếu và ra đĩa DVD. Năm 2008 được trích chiếu tại TPHCM nhân kỷ niệm ngày mất trịnh Công Sơn.


689 - Hoàng Cơ Minh
ẢO TƯỞNG “ĐÔNG TIẾN”
Phó đề đốc hải quân VNCH sinh 1935 tại Hà Nội – Mất 1987 ở biên giới Việt – Lào (53 tuổi).
Trước 75 giữ chức vụ tư lệnh vùng 2 duyên hải chế độ cũ, có tiếng là “tướng sạch” không tham nhũng tràn lan như thời đó.

Trong biến cố 30.4.75 lên tàu đào thoát qua đảo Guam rồi đếùn Mỹ.

Tại đây đứng ra phát động, thành lập một số tổ chức chống Cộng (có tiền thân của đảng Việt Tân hiệân nay) với chủ trương đưa quân về “tái chiếm” miền Nam. Từ đó năm 1981 qua vùng biên giới Thái lan – Lào lập căn cứ chiêu mộ binh lính (lấy từ các trại tị nạn tập trung dân VN vượt biên qua Thái chờ bảo lãnh đi nước ngoài), lập đài phát thanh, ra báo “kháng chiến”…

Từ 1985 bắt đầu tổ chức các đợt đưa quân từ biên giới Lào âm mưu đột nhập biên giới VN tiến hành các chiến dịch mệnh danh “Đông tiến” nhằm đánh phá VN. Nhưng với lực lượng chỉ gồm 4 đơn vị mệnh danh là “quyết đoàn” tổng cộng khoảng 200 người, lực bất tòng tâm lại thân cô thế cô nên tất cả đều nhanh chóng bị quân đội Việt - Lào bao vây tiêu diệt.

Năm 1987 đích thân chỉ huy cuộc “Đông tiến 3” bị chặn đánh thất thủ trong rừng sâu hết đường tháo lui, bị thương đành rút súng tự sát tại chỗ. Còn lại tàn quân bị bắt 18 người đưa ra tòa cuối năm lãnh án tù (năm 1991 được thả trục xuất về Mỹ).

690 - Hoàng Hải Thủy
NỖI HẬN 2 LẦN “NGÀY OAN TRÁI”
Nhà báo tên thật Dương Trọng Hải sinh 1933 tại Hà Đông. Sống ở Mỹ (2011).
Thủa nhỏ ở Bắc từng làm liên lạc viên cho bộ đội thời đánh Pháp, sau đó bỏ kháng chiến về thành rồi di cư vào Nam. Nỗi thất vọng với cách mạng từ đó ám ảnh trở thành một mối hận thù tận xương tủy kéo dài đến cuối đời, kể cả khi còn ở trong nước lẫn ra nước ngoài – một trường hợp điển hình của lớp người từng tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng không chấp nhận cộng sản nên ly khai 2 lần di cư quay lại chống Cộng tới cùng.

Tại Sài Gòn sau 1954 là nhà báo chuyên nghiệp viết phóng sự xã hội mang chất biếm trên báo chí, đặc biệt là cây bút đầu tiên chuyên phóng tác tiểu thuyết nước ngoài thành công -- không phải dịch thuần túy mà “Việt Nam hóa” tác phẩm nướùc ngoài, cả truyện tình lẫn truyện trinh thám, hình sự – đăng báo ngày ăn khách, nổi tiếng nhất là cuốn “Kiều Giang” viết lại nguyên bản “Jane Eyre” của nhà văn nữ Anh Charlotte Bronte. Là một cây bút rất có nghề lại có tài năng đa dạng vừa có thể viết theo 2 phong cách lãng mạn trữ tình và hài hước nhẹ nhàng lẫn châm biếm sâu cay. Tất cả đều nặng tính giải trí “thị trường” hơn nghệ thuật.

Ngày 30.4.75 cả 2 vợ chồng đều làm cho cơ quan viện trợ văn hóa Mỹ “chạy không kịp” bị rớt lại. Không bị đi cải tạo song vẫn viết tin bài chống chế độ mới tìm cách gửi ra nước ngoài nên bị chế độ cộng sản đưa vào danh sách 10 “biệt kích cầm bút” chống Cộng (còn Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca…), bị bắt giam năm 1977. Ở tù 24 tháng đến đầu năm 1980 mới thả ra.

Năm 1984 bị bắt giam lần thứ hai cũng vì lý do tương tự, đến 1988 mới đưa ra tòa kết án 8 năm tù. Sau đó được tổ chức Aân xá quốc tế can thiệp nên giảm án xuống còn 6 năm tù rồi đầu 1990 giảm nữa trả tự do.

Lần này về nhà cố tránh viết lách kiểu dễ mang họa vào thân, thay vào đó nhận dịch một số tiểu thuyết Mỹ để có tiền đắp đổi sống qua ngày (tất nhiên ký bút danh khác).

Chờ đến năm 1995 được bảo lãnh qua Mỹ.

Thoát cũi sổ lồng càng viết sung sức đủ thể loại cho nhiều báo đài và trên mạng, tất cả đều chĩa mũi dùi vào “tố Cộng” kịch liệt qua một loạt tác phẩm in ở Canada và Mỹ gồm “Tiếng kêu của máu” 1996, “Mang xuống tuyền đài” 1997, “Những tên biệt kích cầm bút” (hồi ký chính trị 1999)… Tất cả đều vọng lên tiếng than căm hận bi ai chung quanh “Ngày Oan trái” 30.4.75 – phổ biến hơn ở hải ngoại gọi là “Ngày Quốc hận” -- không bao giờ quên được.

Đáng chú ý từ thời nằm tù đã quay về với thơ, làm thơ trong tù sau này in thành tập “Tại ngục vịnh Kiều” 1995. Còn dịch cả thơ chữ Hán Nguyễn Du, thơ Mỹ, thơ Anh. Có lẽ chỉ ở đây – cùng với tuổi già - mới thấy le lói đôi chút tình cảm nhẹ nhàng khác với giọng điệu mỉa mai cay độc quen thuộc: “Dân tộc VN đau khổ trong gần trọn thế kỷ 20 rồi. Thế kỷ 21 đến, chúng ta mong ta được hưởng một thời để yêu thương…”

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

ĐÊM MƯA ĐỌC LÁ CỎ CỦA WHITMAN - PHẠM CHU SA

Cám ơn những câu thơ của thi sĩ Whitman
Tôi chợt sáng một đêm đen ngu muội
Tôi ngợi ca tôi một vì sao tối
Như em gọi tôi “gã hư hỏng đáng yêu”

Có gì đâu như đá phủ rong rêu
Tôi cúi xuống vực đời tôi đứng dậy
Khi chợt nhận ra một lũ người chán ngấy
Thấy đẹp tuyệt vời một ngọn cỏ chong chong

Những lá cỏ mong manh của thi sĩ Whitman
Tồn tại lâu hơn mấy mươi đời tổng thống
Lá cỏ - tình yêu - bài thơ cuộc sống
Đẹp như nụ - cười - bốn - mặt Angkor!

Tạ lỗi em ngày hồi hộp đêm âu lo
Tôi mải miết những cuộc vui phù phiếm
Tôi ngu dại cứ loanh quanh tìm kiếm
Chút hư danh với cạm bẫy giăng đầy…

Bình minh lên những lá cỏ sương rây
Những giọt lệ của tình yêu - sự thật
Xin tặng em nửa vầng trăng thứ nhất
Thổi tan đi chút hạnh phúc tật nguyền.

*

Walt Whitman (1819 - 1892 ) là nhà thơ,nhà báo,nhà nhân văn,nhà cải cách thơ Mỹ,tập thơ Lá Cỏ của ông nổi tiếng thế giới

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

BÌM BỊP KÊU THƯƠNG - NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH



ai bịp mày chim ơi
mà bìm bịp suốt đời
hay sông Vàm Cỏ bỏ mày
đi lấy vợ
hay Đồng Tháp Mười bỏ mày
đi lấy chồng
bìm bịp
tiếng chim kêu
làm góa cả buổi chiều

cho chị ngủ nốt đêm Cần Đước
kêu thương chi cho đau lòng nhau
bật máu cây trạng nguyên
đốt cháy tán bàng

cứ bíp bịp hoài
chị không về Sài Gòn đặng
sợ chồng ghen
có ai lại lấy tiếng chim bìm bịp làm chồng ?

thôi chị phải bỏ đi
không dám ngủ trọn một đêm với tiếng kêu thương
tiếng chim có bùa ngải

bìm bịp bìm bịp…
tiếng kêu vò xé cả trời
nghe chim
có thể chết người
như không !

NTAH

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

CÀ MAU - VŨ TRỌNG QUANG



Mũi Cleopatra nữ hoàng ví dụ ngắn hơn một chút
tình thế thế tình đổi khác
mũi Cà Mau biểu tượng hiện thực nguy cơ mòn
Đất Mũi đuổi mất đuôi bồi
( ông hoàng thơ tình ơi khỉ khọt điệu đà vần
tổ quốc vừa con tàu ơi vừa mũi thuyền ta đó ) *

Cây mắm khẳng định mặn mà đi trước
cây đước mất chủ quyền lẽo đẽo phía sau
em đành lòng bỏ đi cho đặng tui thất bại ôm nặng chữ ngu
bên kia sớm tự sạt lở bên này không bồi mười thu
đôi guốc cao bồng con người khác quên lời thề hóa đá
biển gặm chân em và em vẫy đạp lòng biển
nhấn chìm mê muội bờ kè
sóng vỗ thòi lòi trơn tuột phù sa
cây súng nhựa bằng bằng cây bông súng giật mình du lịch
triều cường xâm lược triều đình xâm thực
nhấn chìm cơ hội bờ kè
khẳng khiu cọc bê tông cô độc Bạch Đằng

V T Q

(*) Nguyên văn thơ Xuân Diệu:
Tổ quốc ta như một con tàu
Mũi thuyền ta đó Mũi Cà Mau

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

BÀI CA TRONG BUỔI SỚM MAI - ĐỨC PHỔ



đêm qua như chuyện tình cờ
người xuôi con nước đến bờ tịch liêu
đã hoài đi quạnh về hiu
thảm thay con nước một chiều cuối đông

đêm qua biển chảy về sông
nằm nghe tóc rụng mông lung là buồn
một lời lở đã hàm oan
sẩy tay hỏng cả trăm ngàn ước mơ

đêm qua trăng vội vào thơ
nằm nghe gió thổi lửng lơ trên đầu
lòng buồn chẳng biết về đâu
trong đêm tình ái cho nhau cuộc đời

đêm qua sao rụng trên trời
nhở tay ta nhặt cuộc đời của ai
bây giờ thì cả tương lai
trong đôi mắt ấy ban mai cũng buồn

Khởi Hành 26.3.1970

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐI NHẶT MẶT TRỜI - NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Nguyễn Văn Đông ,một nhạc sĩ tài hoa dù sáng tác không nhiều nhưng tác phẩm của ông đã để lại trong lòng người yêu nhạc thuộc thế hệ 40 - 60 thế kỷ trước những dấu ấn khó phai.Chiều Mưa Biên Giới,Nhớ Một Chiều Xuân,Phiên Gác Đầu Xuân...là một số trong nhiều tác phẩm vượt thời gian.Ca từ bài hát Người Đàn Bà Đi Nhặt Mặt Trời như là một bài thơ với ngôn ngữ và ý tưởng mới lạ dù tác phẩm đã xuất hiện cách đây hơn nửa thế kỷ...

Người đàn bà đi nhặt mặt Trời
Trên đống bỏ hoang của loài người
Màn đêm che lối
Tưởng rằng nắng tươi
Sương đọng trên lá
Ngỡ giọt nắng rơi
Quên hết vì đâu
Đời mình nên tội

Người đàn bà đi nhặt cuộc tình
Không nhớ người quen bỏ mặc mình
Tuổi xanh khát nắng
Giữa đời cháy da
Đưa mặt lên khóc
Thương tình xót xa
Hay khóc người xưa
Lệ nào cho vươn

Người đàn bà đi nhặt đời mình
Trên đống bỏ hoang đầy tội tình
Cỏ cây như đưa
Mơ hồ biết đâu
Con đường đêm vắng
Côn trùng ruỗi nhau
Chia chát niềm đau
Đời người phai mau


Người đàn bà đi nhặt mặt trời
Hong ấm tình yêu của loài người
Buồn thương nơi ấy
Có người hóa điên
Quen mùi chăn gối
Nhưng chẳng nhớ tên
Trên đống bỏ hoang mà lầm thiên đàng
Trên đống bỏ hoang mà lầm thiên đàng

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

TỪ TRƯỜNG - VIÊM TỊNH

Dẫu khúc thánh ca tình yêu không là giông bão.
Em vẫn là cơn biển động của lòng anh
Trong trái tim anh chỉ có em, một mình em
Trên những con đường giữa phố thị hay trong cánh rừng nguyên sơ
Đôi mắt em là ngôi sao dẩn đường cho anh tìm đến
Tình yêu dù tuyệt vọng đến ngần nào
Anh chỉ nghe tiếng em cười vang vọng chốn em
Em trở thành vị thánh trước ngưỡng cửa thiên đàng
Nơi anh thở
Anh sống trong niềm hoan lạc
Cuộc đời anh
Hãy trao cho anh tiếng thở dài
Của trái tim mà em đang thổn thức

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

CÁO LỖI. . .



VÌ LÝ DO NGOÀI Ý MUỐN
VIỆT NAM HỒ SƠ HẬU CHIẾN XIN TẠM NGƯNG MỘT KỲ
VNHSHC KỲ 68 SẼ ĐĂNG VÀO THỨ NĂM NGÀY 28.04.2011
XIN CÁO LỖI ĐẾN BẠN ĐỌC VÀ THÂN HỮU

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

GIẬN CHI LÂU RỨA? - TRẦN DZẠ LỮ

Gửi 2 L
Giận chi lâu rứa em tề
Để anh chết đứng nơi quê quán…sầu ?
Tội tình con mắt dao cau
Chiều nghiêng, mi khép phai màu nắng xanh !
Đêm đêm anh đứng một mình
Ngu ngơ nhớ Phụng-Nghi-Đình có em…
Giận chi lâu rứa răng đành
Cõi anh hiu quạnh, cõi tình bơ vơ?
Tội tình con mắt em xưa
Nhớ ơi Phò Trạch chiều mưa ai về?
Chờ nhau tận phố cùng quê
Giận nhau chi nữa, hãy về với anh…

T D L
( SàiGòn tháng 3 năm 2011 )

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

NGÀY ANH NHỚ EM - NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO

Anh đã hỏi em sao nhớ em nhiều đến thế
sao con nước vơi đầy chở nặng một dòng sông
sao những buổi chiều qua cầu anh lẽ bóng
Người gặp trên đường hơi ấm đâu quen?

Anh đã nhắn cho em anh yêu em nhiều đến thế
sao muộn ngày, muộn tháng, muộn năm
những khoảng cách em đắp bằng nỗi nhớ
làm sao đêm không cô độc một mình?

Anh đã đi tìm dọc những góc phố quen
có tóc ai thơm nhẹ lay nỗi nhớ
có dáng ai hiền mỏng manh thềm lá
liệu chúng mình có thành nợ thành duyên?

Anh đã hỏi em sao anh yêu em nhiều đến thế
em chia tim anh thành những thác ghềnh
em mặc định tình yêu anh và em đã khóc
một dòng sông không chảy ngược hai lần.

17-4-2011

N.T.A.Đ

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

CUỘC HẸN - TỪ HOÀI TẤN


Trong một cố gắng không dừng lại
Tôi hẹn hò em
Ám hiệu ngắn 9 giờ sáng – góc ngã tư – bờ tường tím – đội nón xanh
Tin đi
Người đi
Cuộc hẹn đi
Thời gian đi

Và như thế
Trong một cố gắng không dừng lại
Tin mất
Người mất
Cuộc hẹn mất
Thời gian mất

Chỉ còn lại
Tôi

THT

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

BÁO ĐỘNG NGUỒN NƯỚC SÔNG HƯƠNG - BÙI NGỌC LONG


Cán bộ kỹ thuật của CT TNHH NN1TV xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên - Huế đang lấy mẫu nước đỏ ngầu ngay dưới chân đập thủy điện Bình Điền.Ảnh :TCN


Chất lượng nguồn nước sông Hương đang bị suy giảm nghiêm trọng. Viễn cảnh về một dòng sông Hương bị “đầu độc” và 400.000 dân TP Huế và khu vực phụ cận có nguy cơ sẽ không còn được dùng nước sạch an toàn là điều có thể nhìn thấy trước.

Báo cáo Tác động của hồ chứa thủy lợi, thủy điện đối với cộng đồng hạ lưu hệ thống sông Hương của nhóm nghiên cứu Nguyễn Đình Hòe (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN) và Nguyễn Bắc Giang, Nguyễn Tiến Hoàng và Nguyễn Thị Hồng (khoa Môi trường- ĐHKH Huế) tại hội thảo Đánh giá tác động và đề xuất giải pháp quản lý, khai thác hiệu quả các hồ chứa nước ở Bắc Trung Bộ (diễn ra tại TP Huế, đầu tháng 11.2010) cho thấy, chất lượng nước của hệ thống sông Hương (giai đoạn 2008-2010) đang suy giảm mạnh so với trước đây.

Hệ lụy này khiến Công ty TNHH nhà nước một thành viên xây dựng và cấp nước Thừa Thiên - Huế (Công ty cấp nước Thừa Thiên - Huế) nhận được đơn, thư phản ánh chất lượng nước máy sinh hoạt tại địa bàn TP Huế và các vùng phụ cận bị nhiễm đục, hôi tanh. Trong đó có trường hợp một người nước ngoài sau khi tắm ở bể bơi của một khách sạn trong TP đã hoảng loạn vì tóc từ màu vàng chuyển sang... màu đỏ. Đáng nói, chất lượng nguồn nước suy giảm này diễn ra ngay sau thời điểm Công ty cấp nước Thừa Thiên - Huế vừa công bố đã cấp nước an toàn trên toàn tỉnh (Tổ chức Y tế thế giới công nhận là đơn vị điển hình cấp nước an toàn đầu tiên ở VN).

Ngoài suy giảm chất lượng nguồn nước, các báo cáo khoa học còn đưa ra dẫn chứng các hồ chứa thủy điện và thủy lợi sẽ làm thay đổi chế độ dòng chảy, suy giảm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật vùng hạ lưu. Ngoài ra, khi các dự án thủy lợi, thủy điện ở thượng nguồn sông Hương, Bồ được xây dựng xong, lượng cát sỏi bổ sung từ thượng nguồn về hạ du sẽ không còn... dẫn đến tình trạng khủng hoảng nguồn tài nguyên này. Ông Trương Công Nam - Giám đốc công ty cho biết, nguyên nhân làm nguồn nước sông Hương xấu đi là do thủy điện Bình Điền. “Sau khi đưa vào vận hành (tháng 5.2009) nhà máy này đã không làm sạch thảm thực vật ở lòng hồ và thiết kế thiếu van xả đáy làm cho nước thiếu ô-xy nghiêm trọng, dẫn đến nguồn nước sông Hương không thể tự thanh lọc và oxy hóa sắt, mangan như trước đây”. Theo ông Nam, để đảm bảo cấp nước an toàn cho người dân, hai năm qua, công ty ông đã phải chi hơn 12 tỉ đồng để súc rửa đường ống, đổi mới công nghệ... Và đến thời điểm này, sau gần 18 tháng xử lý, hàm lượng sắt và mangan trong nước tuy đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, nhưng vẫn còn rất cao so với thời điểm năm 2008 (lượng mangan năm 2010 tăng 19 lần so với 2008; lượng sắt năm 2010 tăng 2,6 lần so với năm 2008), dẫn đến việc nước dễ đóng cặn, thỉnh thoảng gây ra tình trạng nước đục đen và vàng trên mạng phân phối.

Hiện ở thượng nguồn sông Hương còn có thêm công trình hồ chứa nước Tả Trạch vừa chặn dòng. Viễn cảnh về một dòng sông Hương bị “đầu độc” và 400.000 dân TP Huế và khu vực phụ cận có nguy cơ sẽ không còn được dùng nước sạch an toàn là điều có thể nhìn thấy trước.

B N L( TNO)

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

CHIỀU NGHIÊNG BÓNG NHỚ - HẠ NHIÊN THẢO

Nghiêng nghiêng bóng nắng bên dòng
Lục bình hoa nở giữa lòng sông trôi
Hoàng hôn sóng sánh chiều rơi
Đưa em về đến bên trời nhớ thương

Ngập ngừng sen trắng vấn vương
Ai hay trăng muộn giữa vườn hư không
Bụi trần sương khói mênh mông
Chiều xưa hoa tím bên sông nhớ người

Xa mờ nửa mảnh trăng rơi
Cánh chim hồng nhạn lạc trời về đâu
Ngày dài trở giấc mưa ngâu
Cho em vương mãi u sầu đêm thâu

Nhìn vầng trăng khuyết trong nhau
Vô thường giọt lệ ngàn sau mãi còn
Biển hoang sóng vỗ chân cồn
Sao không xát bụi mà hồn em đau...

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975-2011(KÌ 67)


NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

671 - Chu Thế Dũng
THƯƠNG BINH BỊ ÉP… NUÔI CON NUÔI!
Thương binh sinh tại miền Bắc. Sống ở Bắc Ninh (2007).
Năm 21 tuổi đang học ĐH Thủy lợi năm thứ tư thì tình nguyện đi bộ đội vào miền Nam chiến đấu dù thuộc diện ưu tiên miễn dịch vì là con một bố mẹ đều là liệt sĩ thời chống Pháp. Trong một trận đánh ở Khe Sanh (Quảng Trị) bị trúng đạn ở cột sống được trực thăng Mỹ đưa về cứu chữa tại quân y viện tại Đà Nẵng. Sau đó bị đưa ra giam ở đảo Phú Quốc. Năm 1973 được trao trả tù binh, là thương binh cụt một chân ngồi xe lăn nên được chuyển về Trung tâm Điều dưỡng thương binh nặng Thuận Thành ở Bắc Ninh. Tại đây gặp và kết hôn với một nữ y tá từng phục vụ 10 năm trên chiến trường Quảng Trị. Do cả 2 vợ chồng đều là thương binh sức khỏe bị tổn thương nhiều nên không có con. Vì vậy mới nhận một bé gái 6 tháng tuổi bị bỏ rơi trước cổng trung tâm làm con nuôi dặt tên là bé Phước. Ai ngờ 2 năm sau lại cũng người mẹ bỏ rơi con đó biết được con mình ai nuôi nên tìm đến đem theo một… bé trai mới sinh được 15 ngày xin 2 vợ chồng thương binh… nuôi tiếp giùm! Gọi là để cho chúng nó… có chị có em! Từ chối mãi không được (thậm chí bà mẹ ruột còn tính để con đó rồi… bỏ chạy!) đành phải miễn cưỡng mà nhận, đặt tên “Phước” nối tiếp tên “Hạnh” của chị. Thế là chồng ngồi xe lăn, vợ còm cõi chạy chợ vất vả kiếm thêm đồng ra đồng vào nuôi 2 đứa con người dưng nước lã cùng sống chung trong trung tâm. Nay thì 2 con đều đã vào đại học, thành người đàng hoàng. Đó là “hạnh phước” lớn nhất đền bù cho bố mẹ nuôi bất đắc dĩ.

672 - Hoàng Văn Uyên
THEO NGƯỜI YÊU ĐẾN CÙNG
Thương binh sinh tại miền Bắc. Sống ở Bắc Ninh (2007).
Bộ đội chiến đấu ở miền Nam, có người yêu là thanh niên xung phong tham gia mở đường Trường Sơn. Năm 1965 cô bị trúng bom mất cả 2 cánh tay trong trận bom hủy diệt hầu hết tiểu đội nữ, được đưa về Trung tâm An dưỡng thương binh nặng Thuận Thành ở Bắc Ninh. Không báo tin cho người yêu bộ đội ở miền Nam sợ mình sẽ trở thành gánh nặng cho người yêu. Nhưng có đồng đội vẫn báo tin, anh liền xin phép cấp tốc ra Bắc tìm lên tận trung tâm tìm người yêu và kiên quyết tổ chức lễ kết hôn ngay tại đây. Xong đám cưới lại vội vàng lên đường quay về Nam ra mặt trận. Cùng lúc người vợ cũng kịp mang thai đứa con đầu lòng. Chiến tranh kết thúc, người chồng cũng trở thành thương binh tai bị điếc nên khi ra quân đã xin về làm tại Trung tâm Thuận Thành để tiện việc chăm sóc vợ con. Từ đó dù sức khỏe suy giảm nhiều nhưng vẫn vừa làm việc tại trung tâm vừa tự tay săn sóc vợ như chăm con mọn, làm mọi việc giúp vợ từ chải tóc, tắm rửa đến bón cơm. Còn lo nuôi 2 con trai nay đều đã thành tài tốt nghiệp đại học. Bao vất vả cuộc sống gian nan đời vợ chồng thương binh 100% như thế vẫn qua được, còn tự an ủi: “Tôi là người hạnh phúc vì còn có một mái ấm gia đình. Nhiều bạn bè của tôi đã không thể trở về nữa…”

673 - Nguyễn Trọng Đạt
THƯƠNG PHẾ BINH “NGƯỜI CHẾT 2 LẦN”
Sĩ quan chế độ cũ sống ở Buôn Ma Thuột (2010).
Năm 1972 là đại úy nhảy dù tham gia trận đánh An Lộc (Bình Phước) trong mùa hè đỏ lửa 1972 bị thương thủng đùi và gãy xương quai xanh nên được giải ngũ. Nhưng sau 75 vẫn bị bắt đi cải tạo 8 tháng 23 ngày. Trở về kiếm đất trồng cà phê cầm cự sống qua ngày. Nào ngờ năm 1988 khi đang đào hố trồng cây cà phê thì trúng nguyên một trái M79 nổ tung làm cụt luôn cả 2 tay!

674 - Nguyễn Văn Thu
NGƯỜI HIẾN XÁC
Cán bộ về hưu sinh 1918. Sống ở TPHCM (2011).
Đã hơn 90 tuổi vẫn sẵn sàng cho đi tất cả – làm từ thiện -- từ tiền bạc gia sản, đất đai đến cả cái thân xác mình sau khi v? v?i cát b?i! Vì nguy?n v?ng: “Th?i ho?t ??ng cách m?ng tơi ???c nhi?u ng??i c?u mang, ?ùm bọc. Giờ tôi có khả năng chẳng lẽ không giúp ít nhiều cho người nghèo, người khốn khổ?” Vì vậy dành dụm từng đồng tiền hưu để giúp đỡ người nghèo, bất hạnh, người khiếm thị: “Người khiếm thị còn biết nghĩ đến giúp đỡ bạn đồng cảnh ngộ, người sáng mắt như tôi lẽ nào dửng dưng?”. Tiền hưu hàng tháng chỉ xài chừng 500.000 đồng, ăn uống đạm bạc, dùng toàn đồ cũ loại đồng nát kể cả chiếc xe đạp lọc cọc: “Tôi còn khỏe ăn uống sao chẳng được. Trong khi đó nhiều người chẳng có cơm ăn, không có canh mà húp…” Còn cho vợ chồng con cái ngườøi nghèo từ Bến Tre lên thành phố kiếm sống cắm lều ở trên mảnh đất của mình không hề lấy đồng nào. Năm 2003 viết thư cho Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TPHCM để lại di chúc hiến toàn bộ tài sản sau khi mất cho hội dùng cho công tác giúp người nghèo mổ mắt. Nhưng sau đó nghĩ lại bèn quyết định đem bán hết gia sản gom được 500 triệu đồng năm 2005 đưa luôn cho hội: “Nếu để đến khi mình xuôi tay nhắm mắt biết bao giờ, như vậy người mù nghèo phải cam chịu cảnh sống mù lòa lâu quá. Chi bằng làm từ thiện được lúc nào thì nên làm ngay.” Thậm chí còn căn dặn người thân khi mình mất đi hãy lấy tiền Nhà nước cấp cho làm đám tang (dành cho cán bộ lão thành) tiếp tục góp quỹ từ thiện bởi mình đã làm đơn hiến xác cho trường Y rồi đâu cần làm lễ tang tốn tiền vô ích!

675 - Tiêu Dao Bảo Cự
TỪ “BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN” ĐẾN TRỞ VỀ TÂM LINH
Nhà văn tên thật Nguyễn Phước Bảo Cự sinh 1945 tại Huế. Sống ở Đà Lạt (2011).
Trước 75 dạy học ở Buôn Ma Thuột rồi Bảo Lộc song song với hoạt động chống Mỹ – Thiệu trong phong trào sinh viên trí thức ở Tây nguyên, viết văn làm thơ theo hướng này. Năm 1974 được kết nạp Đảng. Sau 75 được phân công làm ở Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc Bảo Lộc và Lâm Đồng. Rồi chuyển về Hội Văn học nghệ thuật Lâm Đồng, làm Phó Tổng biên tập tạp chí văn nghệ Langbian của hội. Năm 1988 tích cực ủng hộ nhà văn Bùi Minh Quốc - chủ tịch hội lúc đó – theo ông cùng mở cuộc “trường chinh” đi khắp nước vận động giới văn nghệ sĩ toàn quốc lấy chữ ký kêu gọi chế độ cộng sản hiện hành mở rộng tự do dân chủ. Kết quả cả 2 bị cách chức, khai trừ Đảng, đóng cửa luôn Langbian! Bản thân bị truy bức, tra hỏi, quản chế tại gia 2 năm. Đành tìm quên bằng nghề… làm vườn chăm sóc mảnh vườn “Động hoa vàng” của mình. Song song đó rút vào hoạt động viết lách thầm lặng, viết nhiều bài bình luận, kiến nghị chính trị gửi đăng trên các diễn đàn hải ngoại tiếp tục tranh đấu đòi quyền tự do dân chủ cho VN. Đặc biệt phản đối mạnh mẽ việc bắt giữ cầm tù một số bạn bè cùng chí hướng “trí thức bất đồng chính kiến” tại Lâm Đồng. Tuy nhiên càng về sau, quan điểm lập trường phản kháng có vẻ “mềm” hơn để đi đến những suy nghiệm ôn hòa rút ra từ thực tiễn xã hội: “Dù sao đi nữa, tôi vẫn giữ vững lập trường hòa giải, hòa hợp dân tộc theo quan niệm riêng của mình vì nếu nó chưa có hiệu quả tức thời thì ít ra cũng không gây thêm thương tổn…” Từ đó có cái nhìn chung cục mở rộng ra cả đất nước, dân tộc: “Hoàn cảnh đất nước có vô số câu hỏi được đặt ra cần có câu trả lời và hành động thiết thực. Thực tế cho thấy đã có những câu trả lời và hành động rất khác nhau. Điều quan trọng là cần có một nền tảng chung. Ngoài những giá trị phổ quát như tự do dân chủ, nhân quyền, phồn vinh, công bằng xã hội, không thể thiếu tình yêu và lòng bao dung, nhân ái. Việt Nam với một lịch sử đầy chia rẽ, hận thù, bất công, tàn phá, một hiện tại còn nặng về di sản quá khứ và chồng chất thiên tai nhân họa nếu thiếu những điều đó e rằng những mùa xuân tới sẽ không có được như mong mỏi của mọi người…” Bản thân cũng tìm về đời sống nội tâm nhiều hơn – từ bài học lắng lòng mình trở về với thiên nhiên, cây cỏ hoa lá Đà Lạt -- : “Bài học tâm linh không hề xa vời mà chính là một thái độ sống hàng ngày góp phần giải quyết những nan đề của cuộc sống… Cái đẹp và niềm say mê cái đẹp đã cứu tôi ra khỏi cảnh khốn cùng, cả về vật chất cũng như tâm linh.” Đến năm 1998 lệnh quản thúc được tạm dỡ bỏ. Năm 2009 cả 2 vợ chồng còn đi Mỹ chơi 6 tháng theo lời mời của bạn bè.

676 - Trần Mai Hạnh
NGƯỜI “PHƯỚC LỚN”
Thường dân sinh tại miền Bắc. Sống ở Hà Nội (2011).
Nhà báo Thông tấn xã VN trong chiến tranh chống Mỹ từng được cử vào lăn lộn một thời gian trên chiến trường Quảng – Đà. Sau 75 đường hoạn lộ ngày càng lên cao ở thông tấn xã. Bất ngờ khoảng năm 1987 gặp một tai nạn giao thông khủng khiếp vậy mà vẫn sống sót như một phép lạ: Tự mình lái xe máy chở một đồng nghiệp vừa thăng chức Trưởng Chi nhánh TTX tại TPHCM chạy ngược đường chui tọt xuống dưới gầm xe tải! Người đồng nghiệp bất hạnh ngồi sau chết ngay tại chỗ, còn mình lại thoát chết kỳ diệu, chỉ bị thương tích nặng mù một mắt gãy tay gãy chân. Người được xem là quá may mắn hưởng phúc trời quá lớn sau đó tiếp tục lên như diều vào Trung ương Đảng, làm giám đốc Đài Phát thanh Tiếng nói VN, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhà báo VN kèm Tổng biên tập tuần báo Nhà báo và Công luận của hội. Đùng một cái năm 2003 bị đưa ra tòa xử tội nhận hối lộ để chạy án cho tên trùm xã hội đen Năm Cam ở TPHCM! Lãnh án tù rồi sau đó được chiếu cố giảm án thả trước thời hạn vào khoảng năm 2008. Là “phúc trung hữu họa” hay “phước bất trùng lai”?

677 - Trần Thị Hải Lý
NỮ TƯỚNG CHỐNG LÂM TẶC
Cán bộ kiểm lâm sinh 1955 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2007).
Năm 1972 mới 17 tuổi đã tình nguyện đi bộ đội vào Đoàn 559 chiến đấu trên dãy Trường Sơn. Sau 75 làm công ty lương thực huyện an nhàn nhưng vì tình cảm gắn bó nhiều năm với rừng già Trường Sơn nên năm 1996 xin chuyển công tác qua hạt kiểm lâm huyện Triệu Phong. Một phần nữa cũng vì chồng làm ngành này. Bắt đầu từ đó dù phận nữ nhi nhưng phải liên tục đương đầu với nạn lâm tặc hung hãn liều mạng. Với tinh thần bộ đội một thời không hề nao núng nhường bước trước bọn cướùp gỗ mà luôn luôn kiên trì đối đầøu chặn bắt chúng quyết liệt. Đặc biệt nổi tiếng là “Nữ tướng xe Win” vì thường táo bạo phóng xe máy rượt đuổi chúng tận rừng sâu! Dù đối diện hiểm nguy thường trực song bản thân may mắn vẫn bình yên. Nhưng bù lại phải trả một cái giá quá đắt: Con trai đầu theo nghiệp cha mẹ năm 2005 mới 24 tuổi đã bị lâm tặcï phục kích giết chết vứt xác trong rừng sâu.

678 - Trần Thị Hiền
“HIỀN 58”
Thương binh sinh 1952 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Huế (2007).
Biệt danh “58” là nói về 58… mảnh đạn hiện còn nằm trong cơ thể người nữ thương binh này! Từ năm 15 tuổi đã vào bộ đội làm y tá và hậu cần gùi gạo. Năm 1972 và 1973 hai lần lọt vào ổ phục kích bị trọng thương vô số vết thương trong toàn cơ thể. Lần sau đồng đội tưởng đã chết suýt đem đi chôn! Đến khi kịp phát hiện thấy còn thở mới chuyển về Hà Nội cứu chữa nhưng bác sĩ không dám gắp ra 58 mảnh đạn còn nằm trong người toàn ở những chỗ nhược – trên mặt, trong đầu, ngực…. - do sợ nguy hiểm đến tính mạng, nhất là thời đó phương tiện y khoa còn nghèo nàn. Rồi được chuyển lên Vĩnh Phú an dưỡng. Sau 75 quay về quê nhà TT – Huế với chuẩn thương binh nặng 4/4. Lập gia đình với một đồng đội cũ. Cả 2 vợ chồng cùng làm việc ở hợp tác xã nhưng do con đông (6 con) nên gặp cảnh túng quẫn mắc nợ thóc của hợp tác xã trị giá lúc đó 1 chỉ vàng không trả được. Không mặt mũi nào ở lại hợp tác xã nên 2 vợ chồng bèn đưa con cái bỏ lên rừng tự lực cánh sinh, chủ yếu là đốn củi đem xuống núi bán lấy tiền đắp đổi qua ngày dù bản thân mất xương bánh chè đi đứng khó khăn. Chấp nhận sống cảnh “người rừng” bốn bề chim kêu vượn hú quanh năm lại thêm 58 mảnh đạn “nằm vùng” trong châu thân thường xuyên nổi lên gây bệnh nhức buốt cả người quằn quại mà chồng con không có cách nào đưa xuống núi về trạm y tế để cứu chữa. Dù vậy vẫn cắn răng chịu đựng đến năm 1991 dành dụm được 1 chỉ vàng đủ trả nợ, cả nhà mới dắt díu nhau từ giã rừng núi về làng quê trở lại với cuộc sống văn minh. Đời sống dần dần tạm ổn tuy các con đều chẳng đứa nào được học hành tử tế đành phải đi làm thuê làm mướn mà sống. Nhưng càng lớn tuổi thì 58 “di tích chiến tranh” trong toàn thân càng nổi lên quậy dữ – đặc biệt 2 mảnh đạn nằm ở màng tim và 2 mảnh khác trong màng phổi – khiến nhiều khi đau xé người tới mức như lên cơn động kinh hoảng loạn. Lên xe đi cấp cứu là chuyện thường ngày ở huyện: ““Tôi sống đây cũng như chết rồi”! Nhưng đành phải sống cảnh “như chết” đó vì chẳng còn cách nào có thể cùng lúc lấy ra hết 58 mảnh đạn kia – hay một phần thôi – do rất mất công, chi phí cao mà chưa chắc làm được bao nhiêu vì thời gian đã quá lâu tới mức có mảnh đạn còn lồi ra cả ngoài da.

679 - Trần Thị Hoan
ĐẾN MỸ ĐI TRÊN 2 ĐÙI CHÂN
Sinh viên sinh 1987 tại Bình Thuận. Sống ở TPHCM (2011).
Vừa ra đời đã bị di chứng CĐDC khiến cả 2 chân và cánh tay trái cụt quá nửa, chân cụt trên đầu gối. Vì vậy phải ngồi xe lăn hoặc nếu tự đi thì bước từng bước lủn củn trên phần thịt đùi còn lại. Đã vậy gia đình còn phải đi kinh tế mới trên huyện Đức Linh xa xôi nên không được đến trường. Một thời gian dài mới có ân nhân biết được tìm cách đưa về nuôi dưỡng ở làng Hòa Bình của bệnh viện Từ Dũ – TPHCM dành cho trẻ em nạn nhân CĐDC. Được giúp theo đuổi việc học, vào ĐH Ngoại ngữ – Tin học TPHCM. Từ đó năm 2010 được cử làm đại diện thế hệ thứ hai chịu tác động CĐDC qua Mỹ tham dự phiên điều trần về vấn đề tác hại của CĐDC trước quốc hội: “Tôi đã nói với họ rằng như tôi thế này vẫn còn may mắn lắm hơn nhiều bạn đồng cảnh ngộ. May mắn là tôi vẫn còn tinh thần minh mẫn nhưng có rất nhiều người không được như thế…”ä

680 - Trần Thị Huôi
HƠN 1.300 NGÀY ĐÊM SỐNG CÔNG VIÊN KHIẾU NẠI LÊN TRUNG ƯƠNG
Cán bộ về hưu sinh 1944 tại Sóc Trăng. Sống ở Sóc Trăng (2007).
Từ năm 14 tuổi đã theo cộâng sản đánh Mỹ, còn trẻ đã làm bí thư huyện. Chồng hy sinh trong chiến đấu để lại một con gái mới mấy tháng tuổi. Sau 75 làm thị ủy viên rồi Chủ tịch Hội Nông dân. Cả mẹ ruột lẫn mẹ chồng đều được phong Bà mẹ VN Anh hùng. Sau khi về hưu thương binh 4/4, mua một mảnh đất nhỏ dựng nhà trong đó có xây một chuồng heo nuôi heo cải thiện đời sống. Đùng một cái năm 1996 có người hàng xóm làm đơn kiện đòi lại mảnh đấùt làm chuồng heo nói trước kia là của mình. Chính quyền xem xét mới thấy đó nguyên là đất công – chỉ rộng 16,32m2 - nên ra lệnh thu hồi rồi đưa nhân viên công quyền đến phạt tiền đồng thời… đập luôn chuồng heo! Nhưng sau đó cứ để nguyên mảnh đất như vậy bởi nó bé tí tẹo đâu có làm được gì. Bản thân làm đơn khiếu nại lên thị xã lẫn tỉnh đều bị bác đơn. Gửi đơn lên Trung ương cử đoàn về kiểm tra cũng không qua được địa phương nêu đủ lý do biện minh việc làm quá đáng kể trên. Không nản lòng, đầu năm 2001 một thân một mình khăn gói ra tới Hà Nội bắt đầu cuộc chiến đấu đơn thương độc mã sống lây lất ở thủ đô hơn 3 năm trời để khiếu kiện lên vô số cấp thẩm quyền Trung ương. Không bà con quen biết gì ở đây nên đã chọn công viên Lý Tự Trọng hoặc bờ Hồ Tây làm nơi cư ngụ kiểu bụi đời, tự nấu ăn tại chỗ. Ngày đi khắp nơi nộp đơn kêu cứu (cả chừng 1.000 đơn), tối về căng lều nằm ngủ tạm kể cả trời mùa đông giá buốt (sáng phải giấu đồ sợ công an tịch thu!). Gặp khi con gái ở quê không gửi tiền ra kịp thì đi làm thuê làm mướn vạ vật (rửa chén nhà hàng, phụ bán cá ở chợ…) hoặc xin cơm thừa canh cặn ăn đỡ qua ngày. Tết cũng không có tiền về quê đành “ăn Tết” công viên. Cuối cùng cũng có kết quả: Năm 2003 Phó Tổng Thanh tra Chính phủ họp với tỉnh Sóc Trăng kết luận tỉnh đối xử như vậy là “không thích hợp”, nay tỉnh phải đền bù cho “nguyên đơn” một mảnh đất khác và hỗ trợ cuộc sống cho đương sự. Nhờ đó tháng 10.2004 mới chia tay Hà Nội trở về quê nhà, được cấp miếng đất khác và lãnh “bồi thường” thêm 100 triệu đồng. Nhưng bù lại, bản thân bị Thị ủy… xóa tên khỏi Đảng, lấy lý do bỏ sinh hoạt Đảng và không đóng Đảng phí… 5 tháng (con chậm nộp thay cho mẹ kẹt ở Hà Nội)! Thế là lại tiếp tục khiếu nại lên cấp ủy đòi lại Đảng tịch. Tỉnh không giải quyết nên lại gửi đơn ra Trung ương “kêu” tiếp. Đếùn năm 2006 Trung ương đã yêu cầu tỉnh kiểm tra sự việc song chưa thấy hồi âm. Chưa biết cuộc “trường chinh” khiếu nại Đảng lần này có tiếp tục “hiệp 2” hay không với người đàn bà luôn “tin sự hy sinh của gia đình tôi trong chiến tranh không uổng phí”.
(Còn tiếp)

EM XIN LỖI - ĐÔNG HÀ

Như con thú bị thương em ôm dấu thương mình
thương cái đau không dứt từ da thịt
cái đau buồn nứt vỡ vỏ trái tim
trái tim em đã kỳ công đắp vào bao nhiêu son phấn
đắp bao nhiêu cũng không hết phần lận đận
nên hễ trái trời lại tấy đỏ cả nhau

Nên đến bây giờ em không thể nghĩ về anh
bằng ánh mắt biếc xanh
bằng đôi môi rực lửa
bằng cái cả tin dối lừa
như thời tuổi trẻ

bởi vết thương chưa lành
say đám nữa làm sao ???

ĐH

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

VỀ,VỚI NỖI BUỒN - HOÀNG LỘC


rồi anh không thể không về
và anh không thể không chia nỗi niềm
mối tình một thuở và em
cho dù muốn nói gì thêm – cũng rồi

chỉ ơn em với đất trời
đã cho ta được một thời gặp nhau
ơn ngày thu trước thu sau
tìm chi chiếc lá buổi đầu héo khô

thương nhau là đã dại khờ
mất nhau là chuyện dường như đã từng ?
về – anh không thể về không
mang theo một mớ nỗi buồn rất xưa

2010

HL

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

GIỞ TRANG KINH BỖNG ... NGUYỄN MIÊN THẢO


nhớ em cơm chẳng muốn ăn
báo không thèm đọc,đêm không muốn nằm
nửa đêm ra đứng nhìn trăng
hình như trời đất ăn nằm với nhau
anh ngồi thức suốt canh thâu
giở trang kinh bỗng nhiệm mầu,thấy em

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

CÂY TRE CỨU NGƯỜI - HOÀNG HẢI VÂN

QUÍ TỪ TRONG RA NGOÀI

(Bài Bốn)

Chùm gửi cây tre là phương thuốc bí truyền của người Pu Péo ở Hà Giang. Khách quý đến bản Tiến Xuân, huyện Bắc Mê (Hà Giang) sẽ được mời uống nước chùm gửi cây tre nướng trên bếp than - Ảnh: Nguyễn Minh Sơn


Nhà báo Nguyễn Minh Sơn (Báo Sài Gòn tiếp thị) kể tôi nghe, người Pu Péo ở bản Tiến Xuân, huyện Bắc Mê, Hà Giang có món độc đáo chỉ dành đãi khách quý đến thăm. Đó là nước tầm gửi cây tre nướng trên bếp than, anh Sơn nói đây là phương thuốc bí truyền của họ, uống vào rất tốt cho sức khỏe. Ông Ưng Viên bảo đây chính là “Quảng lịch ký sinh”, một kỳ thảo trong thiên nhiên. Tầm gửi trên cây dâu tằm, gọi là “Tang ký sinh”, cũng quý, nhưng đứng thứ nhì. Tầm gửi bám ở đoạn từ 2/3 cây tre trở lên là tốt nhất, bám ở dưới không tốt bằng. “Quảng lịch ký sinh” có tác dụng “điều khí thanh phế, thiện trị hàn tà, đả độc dũ phong”, rất tốt cho phổi, chống được tà khí làm lạnh phổi và giải độc. Nó còn có tác dụng bình quân năng lượng trong cơ thể, tốt cho thận và mạch máu. Chính vì vậy nó còn là vị thuốc ngừa và trị được chứng thượng mã phong. “Quảng lịch ký sinh” có thể sắc hoặc nướng lấy nước uống, làm gỏi ăn thì rất ngon; uống hoặc ăn nó sẽ không bị thượng mã phong, tức là về mặt đề phòng chứng thượng mã phong, dùng “Quảng lịch ký sinh” là hữu hiệu. Nhưng trị thượng mã phong thì rất khó, vì nó là chứng đứt mạch máu não gây tử vong cấp, nguy hiểm hơn nhiều so với các chứng đột quỵ hoặc đứt mạch máu não thông thường. Để trị bệnh này, phải kết hợp “Quảng lịch ký sinh” với “Trúc thượng ngự”. Hai thứ kết hợp sắc lấy nước trị bệnh. “Trúc thượng ngự” là đọt của cây tre (khác với “trúc tâm” là đọt của lá tre). Đó là đoạn 1/3 của cây tre tính từ trên xuống. Ngày xưa các bà vợ có ông chồng ham mê tửu dục thường lấy vỏ “trúc thượng ngự” vót thành kim giắt lên tóc, phòng khi chồng uống rượu quá nhiều, thận bị lạnh, nhưng không kìm được chăn gối, dễ đứt mạch máu gây thượng mã phong. Khi ấy, lấy trâm châm liền vào huyệt nhân trung, vào xương cùng (xương cụt) và huyệt đồng tử liêu nằm ở hốc mắt (để không cho đồng tử nở ra). Sau đó lấy nước thuốc nói ở trên nhỏ vào mũi và miệng, xác suất cứu được mạng khoảng 70%. Hai thứ này còn chữa được bệnh “thương phòng” (còn gọi là “phòng thử”). Đàn ông khi ra mưa ra gió bị nhiễm cảm, những lúc ấy hệ đề kháng của cơ thể tăng lên để dồn sức chống đỡ. Do hệ đề kháng tăng lên nên tạo cảm giác ham muốn tình dục. Trường hợp đó mà chăn gối thì 70% đàn ông sẽ ngộ chứng thương phòng. Khác với thượng mã phong gây tử vong cấp, thương phòng gây tử vong chậm với triệu chứng: người bắt đầu yếu đi chỉ sau 2-3 tiếng chăn gối, tiếng nói yếu, môi xanh, kế tiếp mặt xanh như tàu lá, xuất hiện “tán đại nguyên dương” (nguyên khí của cơ thể đồng loạt phát tán) làm khắp người lạnh buốt, nhưng mồ hôi thì ra dầm dề kể cả trong mùa đông. Sớm thì 2 ngày, chậm thì 11 ngày sẽ tử vong. Bệnh này dùng “Quảng lịch ký sinh”, “trúc thượng ngự” phối hợp với một số vị thuốc khác chữa rất hữu hiệu. Dường như những gì “bám” vào cây tre đều quý, trong đó có kiến và mối. “Trúc chương - lang tử” là trứng của một loài kiến và mối sống trong thân cây tre khô. Dùng kết hợp với kiến cao cẳng (loài kiến mang ký sinh tạo trầm hương tự nhiên), bào chế thành thuốc trị các chứng tai biến méo miệng, ăn nuốt nhễu nhão khó khăn, đớ lưỡi không nói rõ tiếng, sặc khi uống nước, hốt khóc hốt cười và thường bí tiểu tiện... Một loài rắn nhỏ sống trong ruột tre hư, ban đêm thường nhảy lách tách trong bụi tre để kiếm mồi, rắn đó gọi là “Trúc xà” (còn gọi là “Trúc điểu” hoặc “Trúc hoa xà”). “Trúc xà” cực độc nhưng cực quý, dùng để bào chế thuốc trị chứng có nguy cơ gây mù mắt, làm lành vết thương, trị chứng hư phổi, nhiễm trùng thận do sởi, đậu mùa... Và như mọi người đều biết, tre được người dân Việt Nam từ xưa tới nay dùng làm vật kiến trúc, làm công cụ lao động và dụng cụ trong nhà, ngay cả ở đây tre cũng chứng tỏ tính ưu việt so với nhiều loại vật liệu hiện đại. Điều kỳ lạ là có thứ vật liệu từ tre làm thuốc cũng được mà làm vật liệu xây dựng cũng được, chẳng hạn như tre ngâm bùn. Tre ngâm bùn lâu ngày gọi là “trúc bồi” (khác với “trúc nịch” là gốc tre già ngâm bùn), có tác dụng “kiện tỳ trường vị” dùng để bào chế thuốc trị chứng ăn khó tiêu, bụng luôn phát ách. Trong xây dựng, nó chính là vật liệu dùng để làm nhà, không bị mối mọt và rất lâu hư hỏng, bền chắc hơn sắt thép. Dùng cọc tre đóng dưới móng nhà nơi có nước phía dưới là sự độc đáo của kỹ thuật xây dựng Việt Nam, vì những cái cọc đó gần như là vĩnh cửu. Trong các công trình kiến trúc cổ, trong đó có các tháp Chăm, ngày xưa không có vữa liên kết như ngày nay nhưng kết cấu nền móng và tường vô cùng bền chắc, đặc biệt là chống được sét và không bị rêu phong. Bởi tiền nhân đã dùng “Trúc hồ”, còn gọi là “Trúc ngọc cương”, là chất dịch từ cây tre ngâm giã nhuyễn kết hợp với dịch nước ô dước, bồ lời, vôi sữa, mật mía... Thứ vật liệu xây dựng đó khiến các nhà nghiên cứu ngày nay phải kinh ngạc. Còn rất nhiều, rất nhiều thứ vô giá khác từ cây tre mà trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát và sơ sài. Lâu nay chúng ta quá coi thường cây tre trong khi tre là nguồn tài nguyên quý như châu báu. Mấy chục năm qua, các lũy tre, các vườn tre ở miền Trung dần dần mất đi, không mấy ai có ý định khôi phục. Sự đối xử phũ phàng đối với cây tre gần như là một sự phản bội. Nhưng rất may mắn là khác với trầm hương, cây tre chưa đến mức đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Theo ông Ưng Viên, chúng ta hoàn toàn có thể khôi phục và phát triển tre của đất nước, ở cả nông thôn và thành thị. Ở thành thị, trong phạm vi gia đình, nhà nào có đất nên trồng một bụi tre mỡ, ai không có đất cũng có thể trồng một bụi tre gai trong chậu kiểng. Cần lưu ý, tre mỡ là loại tre to có gai. Còn tre gai, không giống như tên gọi, nó là loại tre thân nhỏ nhưng... không có gai. Ở nơi công cộng, cứ cách 50 hay 100m nên trồng một khóm tre. Nơi nào rộng lớn, nên tạo một quần thể tre cho thành phố. Ở nông thôn, cần khôi phục lại các lũy tre trong phạm vi làng xã, còn trong vườn của mỗi gia đình cần trồng nhiều bụi tre, kết hợp với chuối, mít, ổi và các loại cây ăn trái khác. Như đã nói, rễ tre không hề làm xấu đất, vấn đề là biết cách trồng xen sao cho tre và các thứ cây khác cây nào cũng có phần đất dinh dưỡng.


H H V

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

ÁO RÁCH VÀ NẮM BỤI - NGUYỄN NGỌC TƯ

Hai thằng nhỏ leo qua rào, một đứa bị kẽm gai cào rách toạc áo. Cái vết rách hình chữ L bên hông nó thò ra mảng da đen thùi lùi, đen đến nỗi cảm giác làm thâm kim luôn cái áo màu cam lợt. Xui rủi là tôi cũng có mặt ở đó, và đang chụp hình chúng và chú thích hiện lên trong đầu ngay khi màn trập máy ảnh chưa mở, “qua một hàng rào kẽm gai của resort đang xây dở…”.

Nhưng cái chú thích cùng tấm ảnh dường như đã cháy xém trước ánh nhìn trừng trừng của đứa bé kia. Nó chửi thề ô bô lô a ba la rồi hỏi bộ giàu là giỏi lắm sao? Bỗng dưng tôi thấy mình cầm máy ảnh là có tội, ăn mặc tử tế là có tội, tôi trắng hơn nó cũng là có tội. Và tôi có tội vì đã đến hòn đảo thiên đường này chơi, nên người ta mới xây cất chỗ nơi đón tôi, nên áo thằng nhỏ rách.
Bây giờ là cuối tháng mười một ta, gió biển thổi bề nào cũng lạnh. Thằng phong phanh ái ngại nói với thằng (đã) phong phanh mà còn rách, má mầy đánh đòn cho mà coi. Tôi nhớ mình hồi xưa trèo cây làm xước cái áo len mới, lúc về đi lùi vô nhà, phòng khi má đánh thì chạy cho lẹ. Cái áo lành lặn thời niên thiếu là cả một gia tài. Như đứa trẻ xứ biển này đây.

Thằng áo rách vẫn còn đứng nấn ná mếu máo hoang mang bên rào. Bạn nó đã chạy về trước vì tới giờ cơm. Nỗi sợ, nhớ tiếc làm cho những tia lửa trong mắt nó dịu lại khi tôi lân la lại bâng quơ gợi chuyện nọ kia. Hỏi nhà nó khoát tay về phía xóm nằm bên kia bãi cát, nom cái nhà nào cũng giống hệt cái nào, giống cả những cuộn khói còm nhom đang bay lên.

Bãi cát đó người ta cũng sắp rào lại để xây một trung tâm thương mại của đảo. Nghĩa là con đường ra ngoài bãi biển của tụi nhỏ ngày càng bị ngăn lại bằng nhiều lớp rào gai tường cao hơn. Nó kể mấy tháng trước chiều nào nó cũng dắt em ra ngoài bãi biển để đút cơm, “cho con nhỏ vọc nước là đút nhiêu nó cũng ăn hết, ở nhà dễ gì…”. Thằng áo rách kể và kể, về đứa em nhỏ và bọn trẻ trong xóm, về những cuộc chạy chơi vui đến rã rời và có vài đứa suýt chết đuối, về những con cá trôi dạt mà nó lượm được đem về muối chiên ăn thum thủm bùi bùi.

- Con chó Phèn của nhà tui chôn ở đó.

Giờ bãi biển, nơi con chó “khôn như quỷ, lúc sắp chết còn biết chảy nước mắt” đang nằm yên nghỉ, đã thuộc về những người xa lạ.

Và mai đây bầu trời cũng thuộc về người khác, khi tòa lầu mọc lên và ngăn trở mọi tầm nhìn. Tôi nghĩ vậy khi nghe thằng nhỏ ba hoa nói nếu leo lên mấy cây dương chỗ gần nhà nó, là có thể thấy được hòn Rái Nhỏ tuốt luốt ngoài khơi. Nó vừa kể vừa mân mê chỗ áo rách, như không làm sao quên được cú xé tàn nhẫn làm lạnh buốt mấy cái be sườn bén ngót. Bìa vải nào cắt vào tay nó mà cơn oán giận quay trở lại, thằng nhỏ đẩy tôi về bên kia biên giới bằng bóng tối trong mắt nó, “chị cũng phe tụi nó…”. Tụi nó ở đây là hàng rào gai hay chủ của hàng rào gai?

Chữ phe của nó làm tôi nhớ ông cậu họ già nua của mình, có lần gằn giọng hỏi bây coi coi vầy là mây che phía nào? Câu hỏi, cũng là kết luận của một câu chuyện xóm làng mà ông già đang uất giận. Mấy nhà máy thủy sản làm ô nhiễm nguồn nước nuôi trồng quanh đó, kêu than mấy năm trời không ai giải quyết nên một bữa bà con kéo lại công xưởng nói chuyện phải trái. Mười lăm phút sau khi mọi người vẫn còn nhao nháo đừng ngoài rào thì nhà chức trách tới xua tan tác. Mây không đứng giữa để đôi bên đều râm mát đều được tưới tắm mà dường như nghiêng hẳn về một phía không một chút giả vờ xuề xòa.

Bây cũng phe tụi nó, ông già nói vậy rồi bỏ đi một nước, khi nghe tôi ngập ngừng cái câu “bà con mình cũng có chút không phải…” mà tôi đã phải xóc cả rổ lời để lựa ra những cái nhũn nhặn, mơ hồ nhất. Lúc đó tôi tự hỏi từ bao giờ xuất hiện những ranh giới và tôi buộc phải chọn hoặc đứng về phía này hoặc phía kia, không được ở giữa?

Như thằng nhỏ rách áo ngay từ đầu đã mặc định tôi thuộc về phía những kẻ lấy mất bãi biển của nó, vì tôi được ra đó chơi mà không phải leo rào. Chỉ cần trả tiền thôi, thứ mà đứa bé kia không có. Thằng nhỏ rạch ròi tới mức bỏ tôi lại, nó băng sang bên kia đường một mình.

Và khi chiếc xe hơi màu trắng sữa ngang qua tung đám bụi cát chia cắt hẳn tôi và thằng nhỏ, tôi đã kịp thấy nó hốt một nắm vỏ ốc ném vói theo, kèm theo một cái đá gió rất khẳng khái. Sau những vòng bánh xe thản nhiên quay có mấy tiếng chửi thề của chính thằng nhỏ lả tả rơi.

Ủa sao tôi thấy buồn thấy đầy dự cảm bâng quơ? Ủa sao tôi không thấy hành động của thằng nhỏ tuyệt vọng như đã từng, khi nhìn theo bóng ông cậu mình lúi húi chống gậy đi trong chiều muộn?

NGT

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2011 ( KÌ 66)

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ
661 - Duy Khánh
NỖI NHỚ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Ca sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Nguyễn Văn Diệp sinh 1936 tại Quảng Trị – Mất 2003 ở Mỹ (68 tuổi).
Từ Huế vào Sài Gòn cuối những năm 1950 theo đuổi nghiệp ca nhạc, bắt đầøu nổi lên với giọng ca đậm chất chân quê miền Trung qua những ca khúc thời kháng chiến chống Pháp của Phạm Duy như “Ngày trở về”, “Nhớ người thương binh”, Quê nghèo”, “Vợ chồng quê”… (từ đó lấy nghệ danh có ghép tên “Duy”). Nhưng thời vàng son nhất là từ giữa những năm 1960 nổi tiếâng là một giọng ca trong “Tứ trụ nhạc sến” (cùng Hùng Cường, Nhật Trường, Chế Linh) trong đó có các bài hát ca ngợi “lính Cộng hòa”. Đồng thời còn sáng tác hơn 30 ca khúc mang chất dân ca Huế (nơi lớn lên vào trọ học) mượt mà truyền cảm như “Thương về miền Trung”, “Ai ra xứ Huế”, “Xin anh giữ trọn tình quê”… Sau 75 ở lại tuy không bị đi cải tạo song cấm hoạt động ca nhạc (do từng hát nhạc lính chế độ cũ) khiến buồn chán đâm ra ra say sưa quên đời. Một thời gian sau được phép hoạt động biểu diễn trở lại mới thành lập nhóm nhạc Quê huơng tập hợp giới nghệ sĩ cũ (Châu Kỳ, Bảo Yến, Nhã Phương… ) rấùt ăn khách. Thỉnh thoảng viết nhạc trở lại trong đó thể hiện cả tâm tư muốn gắn bó với quê hương như bài “Sao đành bỏ quê hương” năm 1979. Ly dị vợ rồi lấy vợ khác. Năm 1988 cùng vợ sau và con đi bảo lãnh qua Mỹ. Tới đây tiếp tục sự nghiệp biểu diễn, lập hãng thu băng riêng mang tên Trường Sơn – một cái tên ưu ái của Cách mạng! - ra nhiều đĩa CD độc quyền giọng ca Duy Khánh. Tuy cũng có hát lại “nhạc lính Cộng hòa” nhưng đa phần chủ yếu vẫn hướng về những chủ đề quê hương thân thương đầy tình tự dân tộc, đó là các chủ đề “Quê hương ta” 1990 (như tên nhóm nhạc cũ ở TPHCM), “Mẹ trong lòng người đi” 1991, “Vườn dâu xanh” 1991, “Những mảnh tình quê” 1992… Tình tự dân tộc một lần nữa đã bày tỏ qua một trong số ít sáng tác cuối cùng “Điệu buồn chia xa” được tâm sự viết nên khi có dịp đứng trên bờ biển Thái Bình Dương trên đất Mỹ dõi mắt trông về phía xa vời “bên tê bờ là VN, nhớ về mối tình xưa cùng bạn bè còn ở lại quê nhà…” Nhưng chưa kịp thực hiện ước nguyện “Sớm muộn tôi cũng về “ (băng nhạc 1991) thì đã vội ra đi…

662 - Hoàng Hồng Kiên
MẸ CON ĐỀU LÃNH CHẤT ĐỘC DA CAM
Người khuyết tật nữ sinh 1980 tại Lạng Sơn. Sống ở Lạng Sơn (2009).
Mẹ là cựu chiến binh đánh Mỹ bị mìn mất một tay một chân lại còn nhiễm CĐDC nên sinh mình ra liệt cả 2 chân từ nhỏ. Cố gắng tự học ở nhà, đến 15 tuổi mới biết đọc biết viết. Được cấp cho xe lăn nên năm 2001 tự tìm đến Hội Người mù Hà Đông xin làm nghề đi bán chổi do hội viên người khiếm thị làm. Từ đó qua năm sau có dịp làm quen với trung tâm thể thao người khuyết tật tại đây, được hướng dẫn tập luyện môn dua xe lăn. Nhờ thểâ lực tốt của dân miền núi nên nhanh chóng đạt thành tích cao, thi đấu giải Tiền – SEA Games 2003 đoạt 2 HCV 1 HCB. Đến ParaGames Thái Lan 2005 tiếp tục giành 4 HCV 1 HCB. Trước đó năm 2004 gặp và lấy chồng cũng là vận động viên khuyết tật. Qua năm 2006 hai vợ chồng cùng ra làm ăn riêng tự làm chổi cùng đi bán đắp đổi qua ngày. Năm 2008 lại qua Thái Lan dự ParaGames mới dự nội dung thi đấu đầu tiên thì bị ngã chấn thương phải đưa vào viện. Nhưng hôm sau vẫn chích thuốc giảm đau xuấùt quân chiếm 2 HCV 3 HCB. Về nướùc thì có tin vui mang thai con đầu lòng. Bây giờ con là tất cả nên chồng đưa vợ về quê nhà Lạng Sơn để có cha mẹ săn sóc đỡ đần. Sinh con xong lại làm chổi bán tiếp và nay thêm nghề muối măng món quê hương bán ngay phố chợ Kỳ Lừa nổi tiếng xứ Lạng.

663 - Hoàng Minh Nhân

TRẢ NỢ ĐẤT QUẢNG Nhà
thơ sinh 1942 tại Quảng Nam – Mất 2011 tại Quảng Nam (70 tuổi).
Năm 1954 mới 13 tuổi đã theo cha tập kết ra Bắc. Lớn lên học tốt nghiệp kỹ sư lâm nghiệp được phân công làm công tác nghiên cứu rồi được cấp suất đi làm nghiên cứu sinh nước ngoài. Nhưng lại từ bỏ tất cả để đẩy cuộc đời mình đến một bước ngoặt chỉ vì 2 niềm khát vọng ấp ủ lâu nay: Muốn quay về quê nhà trong Nam và chuyển hướng qua sự nghiệp văn chương. Vì thế xin đi học trường viết văn, ra trường liền tình nguyện vào miền Trung chiến đấu đánh Mỹ. Sau 75 còn tiếp tục được điều lên Tây nguyên truy quét tàn quân Fulro. Sau đó mới chuyển ngành về Đà Nẵng làm việc ở Hội Văn nghệ tỉnh. Có thời gian sáng tác nhiều (in 8 tập thơ cùng một số truyện ngắn, công trình biên khảo) vừa làm công tác bồi dưỡng cây viết trẻ. Đến tuổi về hưu vẫn không ngưng làm việc, tự bỏ tiền túi ra lập Tủ sách Đất Quảng in hơn 30 cuốn sách chuyên đề quê hương và con người xứ Quảng thân thương – Hội An, Chu Cẩm Phong, Hoàng Hữu Nam, Phan Bôi, Hồ Nghinh, Phan Huỳnh Điểu… -- xem như là “món nợ phải trả cho một vùng quê mà mình đã gắn bó suốt đời…”
664 - Natalie Trần
“NỮ HOÀNG YOUTUBE”
Sinh viên Việt kiều Uc tên Việt là Trần Đình Tố Hân sinh 1986 tại Uc. Sống ở Uc (2011).
Trước 75 cha mẹ ở Sài Gòn, cha dạy đại học và mẹ làm luật sư. Đến năm 1981 cả hai vượt biên đến Uùc, cha dạy học còn mẹ làm nhân viên bưu điện. Sinh ra tại Sydney, lớn lên học đại học ngành truyền thông điện tử. Từ đó, bắt đầu năm 2006 tham gia mạng xã hội YouTube bằng một loạt phim ngắên video tự quay về các cảnh sinh hoạt đời thường ở nhà của mình tung lên mạng nhanh chóng được mọi người hoan ngênh theo dõi ngày càng đông. Đến nay đã có hơn 273 phim video đó (mỗi phim kéo dài khoảng 2- 4 phút nhưng phải thực hiện các công đoạn công phu trong 4 tiếng đồng hồ) được hơn 350 triệu người xem trên khắp thế giới (riêng ở Uùc được xem nhiều nhất nước), trên 920.000 thành viên đăng ký thường xuyên. Từ thành công đó, hàng năm được YouTube chia lợi nhuận quảng cáo 101.000 USD. Các tác phẩm video “nhật ký đời thường” của mình được yêu thích nhờ tính hài hước tinh tế thông minh mà rất thực tế – một nét đặc trưng thể hiện bản chất lạc quan yêu đời của người Việt luôn vươn lên từ cảnh sống khó khăn nghiệt ngã đến đâu - bình dị và chân thực truyền đạt qua hình ảnh lẫn lời bình. Không chấp nhận tài trợ sợ bị ảnh hưởng làm sai lạc ý hướng, nội dung phản ánh hiện thực bình thường, không có gì lớn lao như nó vốn có của mình nhằm chia sẻ cảm nghĩ về cuộc đời, thế giới gần gũi với mọt người: “Tôi không xuất hiện để làm thay đổi thế giới. Tôi là 2 phút khi bạn đang chờ ai đó. Tôi là 2 phút khi bạn đang nghỉ trưa hay trướùc khi ăn tối. Tôi hạnh phúc vì điều đó.” Cuối năm 2010 còn được tạp chí Uùc Independent Critics bình chọn xếp hạng 88 trong “100 phụ nữ các nước có gương mặt đẹp nhất thế giới” (không xét các yếu tố ngoại hình khác như thi hoa hậu) đứng trên cả diễn viên điện ảnh gốc Tây Ban Nha Penelope Cruz. Đặc biệt còn được đánh giá là một trong số ứng viên có nụ cười dễ mến nhất.

665 - Nguyễn Thị Cúc
MUỐN CHẾT THAY CON
Người khuyết tật sinh 1959 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2009).
Năm 1986 trong khi dọn cỏ vườn nhà đã bị trúng phải một quả mìn nằm vùi lấp dưới hố nổ tung tiện đứt cả 2 chân lên tới đùi, khi đó đã có một con trai 3 tuổi. Phải gắng gượng sống để nuôi con. Vừa lê lết làm lụng vừa cố giữ vững tinh thần bằng cách tranh thủ giờ rảnh tập luyện thể thao dành cho người khuyết tật đi thi đấu môn đẩy tạ giành được nhiều huy chương hội thao toàn quốc. Sinh thêm 2 con nữa. Tuy nhiên tai ương vẫn chưa dứt, năm 2007 đứa con trai đầu lòng bấy giờ đã là sinh viên lại gặp tai nạn giao thông qua đời. Lòng đau như xé kêu trời sao mình tật nguyền lại không chết đi thay cho đứa con khôi ngôi lành lặn học hành giỏi giang như thế? Nhưng rồi vẫn phải tiếp tục sống thôi để còn lo cho 2 đứa con còn lại. Dựa vào thể thao để nuôi dưỡng ý chí sống còn, 50 tuổi rồi vẫn siêng năng tập luyện làm gương nghị lực cho con.

666 - Trùng Quang
NỮ SINH VIÊN HẢI NGOẠI LỚN TUỔI NHẤT
Nhà hoạt động văn hóa xã hội sinh 1911 tại miền Bắc. Sống ở Mỹ (2004).
Trước 75 ở miền Nam hoạt động trong các hội phụ nữ, dạy nghề, dạy sinh ngữ và sáng tác thơ văn nhắm đối tượng là giới phụ nữ. Năm 1980 vượt biên qua Mỹ tiếp tục tham gia viết lách cho các báo Việt ngữ. Năm 1996 sau sinh nhật 85 tuổi bắt đầu đi học ĐH Cộng đồng Evergreen San Jose, mỗi ngày lên xe bus đều đặn đến trường, được tôn vinh là nữ sinh viên cao tuổi nhất bang California. Đi học về một mình tự đi chợ nấu ăn lo cho mình. Năm 2004 cho in cuốn “Bình Ngô đại cáo” dịch Nguyễn Trãi. Được TP San Jose và Quận Cam tặng bằng Vinh danh Phụ nữ, đặc biệt về những cống hiến cho nền văn hóa và sự thăng tiến của nữ giới VN ở hải ngoại.

667 - Trương Đình Liệu
LẬP VƯỜN RAU ĐỠ NHỚ NHÀ
Việt kiều Mỹ về hưu. Sống ở Mỹ (2005).
Cựu đại tá chế độ cũ phải đi học tập sau 75. Trong thời gian đó vợ mất sớm, mẹ vợ thương tình mai mối cho một cô cháu gái thay vợ nhưng không chịu vì bản thân còn tù tội. Đến khi ra trại thì nói… già rồi còn đèo bòng làm gì! Chấp nhận đi H.O qua Mỹ vẫn ở vậy nuôi con khôn lớn. Thay vào đó tìm niềm vui bằng cách lập cả một vườn rau quê VN trong sân nhà đủ loại rau 3 miền từ ngò gai, húng tàu, húng quế, tía tô, rau răm, rau má, bắp cải đến cả các loại cây trái ổi, đào, cam, quýt, chanh, lựu, bưởi, roi, mận… Ngày ngày làm cỏ, tưới cây “nghe mùi rau răm đỡ nhớ nhà”! Cả gia đình mấy thế hệ con cháu đềøu xúm vào lo chăm sóc, thu hoạch quá trời ăn không hết phải xay ra nước uống cũng không hết phải đem cho bớt, gặp ai đồng hương cũng mời… cho!
668 - Ty Cope
CHA NUÔI GIÚP TÌM CHA RUỘT
Việt kiều Mỹ tên cũ Nguyễn Đức Thắng sinh 1968 tại Khánh Hòa. Sống ở Mỹ (2011).
Năm 1972 cha mẹ chia tay nhau, một mình mẹ nuôi 3 con không nổi nên mới đem mình cho cô nhi viện Cam Ranh. Trong thời gian ở viện cô nhi được một lính không quân Mỹ làm tình nguyện viên ở đây chăm sóc. Tháng 3.1975 khi Khánh Hòa sắp giải phóng, cả trại cô nhi được đưa xuống tàu thủy chạy vào Sài Gòn. Nhưng đếùn Sài Gòn thấy tình hình cũng rối ren, hỗn loạn nên tàu chở các em chạy thẳng qua Singapore luôn. Sau đó tất cả được chuyển qua Mỹ và tại đây gặp lại người lính Mỹ quen biết từ trại cô nhi Cam Ranh, được người lính tốt bụng này nhận làm con nuôi. Lớn lên làm giáo viên cấp 2, lấy vợ sinh được 2 con gái. Rồi cũng chính người ân nhân lính Mỹ xưa kia tham gia lập nên một trang web “Trẻ mồ côi Cam Ranh”, từ đó mới tiếp nhận được thông tin tìm con của cha mình từ VN gửi đến. Thế là năm 2010 đưa vợ con về quê hương cũ gặp cha ở Khánh Hòa, rồi lên Pleiku gặp lại mẹ già 67 tuổi vẫn còn sống. Từ đó tự đặt ra cho mình một “mệnh lệnh trái tim” như người cha nuôi đã nhắc nhở: Hàng năm đều trở về làm từ thiện giúp các trại trẻ mồ côi cùng số phận như mình trước đây.

669 - Văn Quang
Ở LẠI LÀM “CHỨNG NHÂN SỐNG”
Nhà văn sinh 1933 tại Thái Bình. Sống ở Bình Phước (2011).
Từ miền Băc di cư vào Sài Gòn, nhập ngũ trường sĩ quan Thủ Đức. Ra trường dần dần trở thành một sĩ quan cao cấp ngành tâm lý chiến (trung tá), từng làm quản đốc Đài Phát thanh Quân đội VNCH. Cùng lúc còn viết tiểu thuyết tình cảm bình dân và phóng sự hài cho báo ngày, tạp chí. Sau 75 đương nhiên đi cải tạo ở Vĩnh Phúc rồi chuyển về Bình Thuận. Ra tù khoảng năm 1988 nhưng không đi H.O qua Mỹ như hầu hết đồng đội cũ mà vẫn ở lại TPHCM vì tự thấy không cần thiết do bây giờ con cái đều đã đi vượt biên hếùt rồi không phải lo cho tương lai. Và mặt khác còn muốn “Ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn.” Từ đó tận dụng kinh nghiệm làm báo, viết báo trước đây đã nhanh nhạy nắm bắt thị trường bằng cách mày mò đi học vi tính để về nhà làm nghề vô dữ liệu thuê rồi từ đó phát triển thành một cơ sở trình bày sách báo, in vi tính cho các trùm xuấùt bản, phát hành tư nhân. Làm ăn khá tốt, “Sống được, không cần đi đâu nữa”! Khi cuộc sống đã ổn định, sống khá thoải mái rồi thì đến năm 2002 quyết định bỏ thành phố lên Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Phước mua đất xây nhà sống gần như ẩn cư ở một vùng đất khá hẻo lánh. Xem như đi tìm một kinh nghiệm sống mới gần gũi với giới nông dân ở nơi trước đây từng là… mật khu Việt Cộng qua đó “cho tôi có một cái nhìn sâu hơn, xa hơn, thật hơn về toàn bộ những gì dân tộc mình trải qua những triều đại mà mình đã sống”. Cũng từ đó cầm bút trở lại viết nhiều loạt bài ký sự “Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” mô tả những đổi thay trong xã hội VN hiện nay đăng trên báo hải ngoại với ý thức “Viết thế nào để vẫn đi theo con đường mà mình đã lựa chọn,không chịu một áp lực nào, không vì một lý do gì có thể khống chế tư tưởng mình.” Song song đó còn tình nguyện làm cầu nối với các tổ chức từ thiện hải ngoại tìm cách giúp đỡ giới thương phế binh chế độ cũ mà lâu nay trong chế độ mới đã hoàn toàn bị bỏ rơi.

670 - Văn Tần
ANH HÙNG LAO ĐỘNG TỪNG VƯỢT BIÊN
Bác sĩ sinh 1938 tại Quảng Trị. Sống ở TPHCM (2011).
Sinh ra trên vùng đất địa đầu giới tuyến máu lửa khốc liệt nên có nhiều người thân đã bỏ mình trong khói lửa chiến tranh từ cả 2 phía: Mẹ, chị và cháu ruột trúng bom chết dưới hầm, chú ruột bị chôn sống, cậu ruột bị bắn chết. Lớn lên vào Sài Gòn học ĐH Y, nhà nghèo để có tiền ăn học phải tình nguyện vào ngành quân y để được lãnh lương. Bởi thế ra trường phải làm bác sĩ quân y phục vụ tiền tuyến. Sau 75 là đại úy vì vậy đương nhiên đi cải tạo. Được cho về sớm (chỉ học tập 4 tháng) liền đi vượt biên bị bắt nhưng may mắn được Sở Y tế bảo lãnh về sử dụng trong tình hình TPHCM và cả miền Nam thiếu hụt trầm trọng bác sĩ do phần lớn đều đã di tản ra nước ngoài, theo chủ trương của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt hồi đó. Từ đó dựa vào tài năng (học trò ruột của cố bác sĩ Ngô Gia Hy đáng kính nguyên hiệu trưởng ĐH Y khoa Sài Gòn), đức độ tận tâm tận lực với bệnh nhân nên dần dà trở thành chuyên gia hàng đầu về khoa niệu gắn liền tên tuổi với Bệnh viện Bình Dân ở TPHCM. Được phong Anh hùng Lao động năm 2005. Suốt đời chỉ biết bệnh viện, đi sớm về trễ cả đời bám phòng mổ. Mỗi tháng đều đặn mổ từ 30 – 40 ca khó cho bệnh viện, tổng cộng đã mổ khoảng 30.000 ca. Kiên quyết không mở phòng mạch tư, không mổ “dịch vụ” kiếm tiền. Thậm chí còn không xài ĐTDĐ bởi “không có thời gian và sợ bị phân tán tư tưởng khi làm việc.” Cả đời tập trung cho chuyên môn, đau đáu với sinh mạng bệnh nhân trong tay mình. Có lần sau một ca mổ thấùt bại không cứu được người, đã chán chường bỏ lên chùa định… đi tu! Nhưng rồi vẫn quay về với bệnh nhân, đặc biệt bệnh nhân nghèo chịu nhiều thiệt hại, đau khổ vì chiến tranh: “Người nghèo, rất nhiều người nghèo, họ cần tôi!” (Còn tiếp)

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

ĐÂU RỒI CỦA NHỮNG NGÀY XƯA - TRẦN VẠN GIÃ


Đâu rồi của những ngày xưa
Tôi về tìm lại trong mưa cuối mùa
Xa xa vọng tiếng chuông chùa
Bờ sông có ngọn gió lùa sau cây

Trong tôi dòng chảy vơi đầy
Bồng bềnh theo nhánh sông gầy gió đông
Biết rằng: sắc tức thị không…
Mà sao cháy bỏng trong lòng ai ơi
Loanh quanh chửa hết vòng đời
Mây bay trắng bạc một thời ngày xưa
Hát câu: Kẻ đón người đưa
Còn tôi đi sớm về trưa một chiều
Cây buồn gió cũng lặng thinh
Ngày xưa. Ngày xửa giật mình chiêm bao.

TVG

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

CÂY TRE CỨU NGƯỜI - HOÀNG HẢI VÂN

LÀM ĐẸP CHO CÁC BÀ HOÀNG VÀ CHỮA BÊNH NAN Y

(Bài Ba)

Hoa tre

Ngày xưa không có mỹ phẩm đắt tiền như bây giờ, không có bác sĩ thẩm mỹ chuyên hút mỡ căng da, các bà hoàng hậu, công chúa, cung tần mỹ nữ làm đẹp bằng cách nào? Ông Ưng Viên bảo cách làm đẹp của các bà hoàng và cung tần mỹ nữ hoàn toàn bằng những thứ trong tự nhiên, không hề dùng bất cứ một thứ hóa chất nào nhưng hữu hiệu hơn nhiều so với các phương cách Âu - Mỹ hiện nay. Đơn giản và có hiệu quả nhất là bằng các chế phẩm từ cây tre. Hoa tre - Ảnh: Kiến thức ngày nay Để chống dư thừa mỡ, nhất là vùng bụng, dùng kết hợp ba thứ: “trúc tạo”, “trúc nha” và “trúc nhự”. Ba thứ được trích lấy dịch, trộn ba thứ dịch ấy lại bôi lên xác trúc nhự đã lấy hết dịch. Đem chế phẩm này trải lên vạt giường tre, người nằm ép bụng xuống. Bên dưới, lấy than đốt lên xông, tốt nhất là dùng than ổi, thứ nhì là than đước. Tác dụng: Làm săn cơ, khi cơ săn mỡ sẽ được đào thải qua hô hấp da; ba vị thuốc quý này còn làm ổn định mạch máu dưới hệ tiêu hóa, tác động đến hệ thần kinh thực vật, làm thông suốt kinh mạch, khiến cho cơ thể thon chắc, khỏe khoắn. “Trúc nhự” là dịch tre non, cách lấy khá đơn giản, dễ nhất là cắt sâu vào thân cây tre non ở vị trí hai phần ba cây tre tính từ dưới lên, sau đó bẻ cụp cây tre xuống, cột vào vị trí bẻ cụp một dụng cụ (ống tre hoặc chai lọ) để hứng dịch. Sau một đêm đã có dịch chảy ra dùng được. Trúc nhự có mùi thơm rất dễ chịu, vì vậy mà cơm lam ngon hơn cơm thường. Lấy dịch “trúc tạo” và “trúc nha” phức tạp hơn, chủ yếu bằng phương pháp đốt nóng lên. Làm đẹp cho phụ nữ còn có một loạt các chế phẩm khác từ tre dùng để xoa, bóp hoặc làm các món ăn từ “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc phấn”, “trúc bì”... Nhiều chế phẩm từ tre đặc trị bệnh phụ khoa cũng góp phần cho việc làm khỏe làm đẹp nữ giới. Dân quê miền Trung mỗi khi bị sốt nóng lạnh thường lấy một đoạn tre tươi đốt lên hứng lấy nước uống. Ông Ưng Viên nói, thứ nước đó là “trúc lịch”, có tác dụng trị bệnh hư hỏa (cơ thể sốt cao nhưng trong người lạnh run) và chứng viêm sinh thực nữ... Dân gian băm cả đoạn tre bỏ vào ấm sắc uống cũng hạ được sốt. Cũng có thể băm nhỏ đoạn tre, gồm cả mắt, nướng lên ép lấy nước, cũng có tác dụng tương tự, thứ này gọi là “trúc lịch sái”. Nếu là tre non nướng chín vắt lấy nước, gọi là “trúc liêu giao”, được dùng để bào chế mỹ phẩm, làm gia vị ăn uống, hương liệu xông. “Trúc liêu giao” kết hợp với trầm hương thiên nhiên, chè, nếp dùng để trị chứng đau một bên đầu, xây xẩm kinh niên, huyết áp cao lẫn huyết áp thấp, chứng tỳ vị hư hàn ẩu thổ ẩu tả. Nó cũng có thể dùng phối hợp với một số vị thuốc khác để trị chứng liệt dương, lãnh cảm, trị bệnh tim và thống phong. Măng vòi tre đài nướng vắt lấy nước gọi là “trúc thượt”. “Trúc thượt” phối hợp với mật ong, chè và trầm hương tự nhiên dùng bào chế thuốc trị các chứng ung nhọt độc, mạch lươn (rò hậu môn) ở phụ nữ. Nhánh tre đài chỉ có gai mà không có lá, có măng nứt ra, cả nhánh tre này gọi là “trúc lự”, dùng bào chế thuốc trị ban và thương hàn. Cái vỏ tre cũng hữu dụng không kém. Phần ngoài cùng là “trúc phấn”, dùng làm mỹ phẩm, thuốc sát trùng và điều kinh nữ. Bóc đi lớp trúc phấn, còn lại là “trúc bì”, cũng dùng làm mỹ phẩm, làm thuốc trị vết thương và làm dịch bôi cho sinh thực nữ. Ruột tre tươi gọi là “trúc ẩn”, chuyên trị bệnh phụ nữ (huyết trắng, nấm ký sinh...), có thể hấp cơm hoặc chưng với đậu đen. Ruột tre sau khi chưng với đậu đen, bào chế thành thuốc bôi hoặc dùng nấu canh với cá, phụ nữ ăn rất tốt. Ruột tre ngâm muối gọi là “trúc diêm”, ngoài việc chữa bệnh phụ khoa còn dùng bào chế thuốc trị viêm họng, trị liệt dương. Hoa tre, gọi là “trúc ba” hoặc “trúc cái”, là vị thuốc chữa được nhiều bệnh. Trong hai loại tre làm dược liệu, chỉ có tre mỡ ra hoa, còn tre gai thì không (trong các loài tre khác có loài ra hoa quanh năm nhưng không có tác dụng chữa bệnh). Tre mỡ thường sống đến 60-70 năm, cây nào tồn tại đến cuối đời đều ra hoa, sau khi ra hoa thì tre sẽ chết. “Trúc ba” là vị thuốc cấp trị hen suyễn, làm cắt cơn cho những người bị hen suyễn nặng. Nó còn đặc trị bệnh hôi miệng, chế phẩm thuốc từ hoa tre dùng ngậm trị được bệnh amidale đã viêm mủ mà kháng sinh không còn tác dụng. Đặc biệt, hoa tre xông cùng với trầm hương thiên nhiên có thể tái tạo khứu giác của người bệnh. Như đã đề cập, cả cây tre có hoa (trừ hoa) đều được gọi là “trúc thạch”, nhưng nếu dùng toàn thân cây tre này, kể cả hoa, băm ra sắc thành thuốc, gọi là “trúc ngọc lộ”. “Trúc ngọc lộ” phối hợp với một số dược liệu khác bào chế thành thang thuốc chữa được căn bệnh “Lục mạch tuy đều hình nhục thoát tử vô sầu tuyệt” nan y nói ở phần trước. Về căn bệnh nan y thứ hai “tam quan tuy tuyệt uất đàm bạo nộ”, có thể dùng “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc liên hổ” bào chế với một số thảo dược khác, tất cả không quá 12 vị, nhưng các vị từ tre vẫn là vị quân (vị thuốc chủ đạo) để chữa trị. “Trúc liên hổ” là chất thải trên mặt đất của một giống trùn ở dưới đất giữa bụi tre, chuối và mít. Ngoài công dụng nói trên, nó cũng được dùng hầm với thịt bê (lao nhục tử) có thể phối hợp trị bệnh lao sác. Trong một bụi tre thường có những cây tre đực săn chắc, thường được chọn làm cán cuốc, làm đòn gánh, đòn xóc hoặc đan lát những dụng cụ lâu bền. Sở dĩ gọi là tre đực vì nó chỉ đứng một mình, dưới gốc không mọc măng, trên cây không có măng vòi. Cái mắt nào của tre đực bị côn trùng đục làm hỏng biến thành một cái rốn lõm sâu vào, cái mắt đó gọi là “trúc thị”. “Trúc thị” dùng làm thuốc trị ban, làm tan huyết khối và làm mỹ phẩm. Đối với các dược liệu trị bệnh từ cây tre, dân tộc ta có hàng ngàn năm tích lũy kinh nghiệm, cho nên dân gian sử dụng rộng rãi tre trong ăn uống và chữa các bệnh thông thường, chỉ có lợi chứ hoàn toàn không có hại gì cho sức khỏe, vì toàn bộ cây tre không có bộ phận nào độc hại. Tuy nhiên, các vị thuốc từ tre bào chế cùng với các dược liệu khác để đặc trị, nhất là đặc trị các bệnh nan y, nhất thiết phải do thầy thuốc giỏi thực hiện, vì mặc dù tre không độc hại, nhưng do sự tương tác giữa các dược liệu với nhau, nếu không bào chế đúng cách đúng liều đúng lượng có thể dẫn đến kết quả không như mong muốn. (Còn tiếp) H H V (TNO)

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

CHI TIẾT - NGUYỄN NGỌC TƯ

Sáng nay lại khổ sở vì chi tiết.
Hăm hở vác máy ảnh, giấy bút lại cơ quan tiếp dân, không gặp nhân vật đâu, chỉ thấy vài người dân cặp nách giấy tờ, bồn chồn đứng nép bên cổng, vẻ chờ trông. Một lão nông liên tục đổi chân trụ. Chị phục vụ chắc đã quen với mấy cảnh này, nên chỉ mời cà phê cho mỗi mình nhà báo. Cô ngó ngoài sân, thấy cồn cào, như thể những giọt cà phê nghi ngút khói kia từ phin rơi thẳng xuống lòng chứ chẳng phải vào ly. Cuối cùng nhân vật cũng tới, chực thấy anh qua cổng thì bài báo của cô lập tức rụi ngọn, như bị hắt nước lạnh. Không, chính xác là bị cây tăm đang đỏng đảnh ngoắc ngoắc trên khóe miệng nhân vật chọc thẳng vào mắt.
Nói cho cùng thì cây tăm không có lỗi, nó được tạo ra là để xỉa răng, nhưng nhiều lúc nó biến thành biểu tượng của sự phè phởn, thoả mãn, vô cảm. Một người có cởi mở, nhiệt thành đến đâu, cái tâm tốt đến đâu, cũng bị đè bẹp bởi bề ngoài vô duyên và vô tình khi cây tăm cứ nhịp theo lời nói. Cô nghĩ vậy. Cô xách xe ra về, tự trách mình hay làm hư việc bởi những chuyện không đâu.
Chi tiết “hành” cô không phải lần đầu. Có lần xuống địa phương, hăm hở lặn lội trên những con đường quê vòng vèo, thấy những đứa trẻ đi học về ngoi ngót trong mưa thương quá, nhác thấy anh chủ tịch xã cười khoe tám cái răng bịt vàng choé, bỗng thấy mệt muốn ngất đi. Có lần đi mua mấy hộp sữa cho con, thấy chị bán hàng chửi người ăn mày xoi xói, cô bỏ đi mua chỗ khác. Có lần đi Đất Mũi thấy người ta xây ở đó một nhà rông kiểu… Tây Nguyên, cô hết muốn quay lại. Có lần định viết gương người tốt việc tốt một cán bộ Đoàn, nhưng ngặt nỗi anh này hay khệ nệ cái cặp táp dày ù, móng tay thì để dài. Có lần …
Cô tự làm cuộc sống của mình mệt ngoài. Nhưng không từ bỏ được, vì ngấm nỗi buồn chi tiết trước khi vào nghề viết lách. Cô dở toán bởi thầy dạy toán hay giơ tay ra bộ đếm tiền vào đầu tháng, làm thót ruột mấy đứa học thêm. Cô ghét tham gia những cuộc thi của trường chỉ vì câu nói “làm cho có phong trào để cuối năm trường mình được xếp loại khá” của người phụ trách. Có những quán cà phê cô chỉ đến một lần, nhưng lần đó bị tra tấn bởi thứ nhạc kiểu như “Em biết tôi yêu em mà em từ chối tôi làm tôi đau, tôi thương, tôi buồn” (chú thích: thấy dài ngoằng vậy chứ chỉ là tên của bài hát thôi). Thần tượng nhà thơ nọ nhưng bắt gặp cọng bún khô queo vắt trên bộ râu ông, cô buồn hết mấy bữa. Cô hay rước bực dọc vào mình, chỉ vì tấm panô tróc sơn loang lổ ở quãng trường, tiếng chuông điện thoại bằng giọng con gái ỏng ẹo, hay lá cờ xiêu vẹo trên cổng cơ quan… Đáng ra được thanh thản, nhưng cô cứ rối bời.

Cô hay tự lừa dối mình rằng, ta là người phóng khoáng. Té ra không phải, cô rất trọng tiểu tiết. Có lần gặp lại người yêu cũ, cô ngồi nhắc lần gặp đầu tiên, mắt anh lúc đó, miệng anh cười lúc đó, tóc anh lúc đó. Và kiểu áo anh hay mặc, những câu anh thường nói… Cô ngó anh, cười bảo, đi đâu, gặp mùi nước hoa cũ, là em nhớ, ngày xưa thơm bựng trên áo anh. Mỗi câu nói như một mũi kim buốt vào lòng, cô cảm giác vậy. Anh ta ngẩn ngơ, vậy a, vậy à, rõ ràng, chi tiết làm anh ta anh ta xúc động đến thảng thốt. Cô đọc được sự bối rối của một kẻ không nhớ ra những gì người khác nhớ, tăm tắp.
Rốt cuộc dường như chỉ phụ nữ là nhớ đằm, nhớ sâu…
Những chuyện không đâu

NNT

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

DÂU BỂ MUÔN CHIỀU VẪN CỐ HƯƠNG - ĐỨC PHỔ

DÂU BỂ MUÔN CHIỀU VẪN CỐ HƯƠNG

(Hồi tưởng ngày về Huế 2003 và gặp lại bằng hữu ở đó)


Mười năm xa Huế như cơn mộng
Tỉnh lại . Thăm Hương lệ chực tràn
Rượu thấm dăm thằng ngồi Thương Bạc
Rưng rưng Thừa Phủ … bẵng đò giang!

Chếnh choáng giọng tình người ở lại
Những ngày Thượng Tứ ngựa chen mây
Mười năm xe pháo quen tứ xứ
Một mãnh hồn hoang lấm bụi ngày!

Hồ dễ lòng trơ khi cạn máu
Ngựa về tàu cũ xót thương ai(?)
Mười năm đỉnh Ngự trong ngùi mắt
Đổi một đời – nhặt nhánh thu phai!

Chiều quanh Nam Giao leo ngược dốc
Tình nghe chan chứa những truông đồi!
Mười năm xa xứ mòn sức vóc
Đâu dễ hư hao một hạnh người!

Ngồi uống tàn canh đêm Vĩ Dạ
Hồn đầy sương và …tóc pha sương!
Mười năm ly khách về,chăng lạ (?)
Dâu bể muôn chiều vẫn cố hương!

ĐÚC PHỔ

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY MẤT NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN

NGHI ÁN TRỊNH CÔNG SƠN VƯỢT BIÊN...TRONG NƯỚC
Ngày 30.4.75 đang ở Sài Gòn nhưng ngay sau đó đã hăng hái tình nguyện lên đường quay về Huế quê nhà tuổi thơ và tuổi trẻ để góp sức xây dựng lại quê hương điêu tàn sau chiến tranh như trong một ca khúc của mình. Thật oái oăm mà khắc nghiệt là nếu cứ ở lại Sài Gòn thì đã không phải trải qua một đoạn đời cay đắng khổ sở sau này ngay trên quê Huế thân thương (sinh Đắc Lắc song từ nhỏ đã theo cha mẹ gốc Huế quay về sống ở Huế).


Bởi đâu ngờ cách mạng chiến thắng Huế lúc ấy mang nặng ảnh hưởng Mao-ít đã đưa một số văn nghệ sĩ có hoạt động xem như “cộng tác” với chế độ cũ, chỉ có lập trường kêu gọi hòa bình chung chung chứ không chịu móc nối hoạt động nội thành hoặc thoát ly vào mật khu – như mình và Đinh Cường, Ngụy Ngữ - ra kiểm điểm công khai! Rồi đưa đi thâm nhập lao động thực tế với yêu cầu sáng tác phục vụ chế độ mới… Trước bao nhiêu o ép đó, cuối cùng phải chọn biện pháp ra đi rời khỏi quê hương mà mình từng ấp ủ nguyện vọng trở về đóng góp.


Đây là một nghi vấn lịch sử chưa có lời giải chính thức công khai. Nó nằm trong bối cảnh sau ngày 30.4.1975 từ Sài Gòn họ Trịnh tình nguyện trở về Huế “góp phần xây dựng lại quê hương” như phong trào thời đó kêu gọi. Nhưng giấc mơ đó đã sớm tan vỡ trước một thực tế nghiệt ngã của buổi sơ khai thời Hậu chiến có hòa bình rồi nhưng chưa có hòa hợp với biết bao hận thù, thành kiến nghi kỵ còn đó. Nhất là đối với những nhân thân “chưa xác minh”, những nhân vật có quan điểm lập trường “mơ hồ” như Trịnh qua những thông điệp Ca khúc da vàng “nội chiến từng ngày”, “Hát cho người nằm xuống”… bị lên án mà mãi đến nay vẫn chưa được giải tỏa.


Ngay cả các lực lượng cách mạng cũng có sự phân biệt quyền lực với nhau theo chủ trương quản lý thời này “Nhất trụ, nhì khu, tam tù, tứ kết” tức là ưu tiên lãnh đạo cho thành phần cán bộ địa phương bám trụ chiến đấu, sau đó mới đến ở mật khu về, ở tù về rồi mới đến dân tập kết vào. Huống gì là dân văn nghệ nửa nạc nửa mỡ không chống mà cũng không theo Cộng như Trịnh!


Mặt khác cần chú ý tình hình chính trị Huế thời đó nằm trong “liên bang” Bình Trị Thiên có vị trí chiến lược khép cửa miền Bắc dưới chân đèo Hải Vân tách biệt miền nam từ Đà Nẵng trở vào với đôi bên hai chính sách quản lý khác nhau: Áp dụng chế độ nội bất xuất ngoại bất nhập ngặt nghèo đi đâu cũng phải được cấp phép; vẫn còn dùng 2 loại tiền nên về đây phải đổi tiền Bắc mới xài được…. Từ đó Huế vốn là kinh đô phong kiến kẻ thù cộng sản dưới quyền Bí thư Bùi San và Giám đốc sở Trần Hoàn phụ trách văn hóa thông tin trở thành gần như một “đặc khu” độc lập khép kín thí điểm công xã, thành trì Mao-ít cực tả, cộng sản hơn cả miền Bắc! Từ đó mới có câu ca dao truyền miệng để đời “Bùi San cùng với Trần Hoàn, Cả hai xúm lại phá đàn Nam Giao”!


Tội nghiệp họ Trịnh người trói gà không chặt, hiền lành “mô Phật”, hoàn toàn ngây thơ chính trị bị rơi vào cảnh “botay.com” như thế.


Quá bế tắc, năm 1979 nhân một chuyến công tác vặt vào TPHCM – nơi đã có sẵn nhà từ trước - mới quyết định bỏ Huế “trốn” vào ở luôn tại TPHCM tìm sự che chở của những người thông cảm mình (giới văn nghệ sĩ chế độ mới như Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy cùng bí thư lúc đó là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) nơi một thành phố có tư tưởng cởi mở thoáng hơn.


Thế là từ đó hẳn đã bị cấp lãnh đạo Huế xem như một kẻ “phản bội”, đào ngũ, chạy trốn, thậm chí có thể là… phạm pháp nữa kia! Nên nhớ lúc đó như thế là đã bỏ… hộ khẩu mà đi không xin phép tất không được chuyển hộ khẩu phải tạm trú bất hợp pháp ở nơi khác.


Có lẽ đấy là nguyên nhân sâu xa đưa đến thái độ lạnh lùng, “dị ứng” của Huế đối với Trịnh – và nhạc Trịnh - kéo dài cho đến hàng chục năm sau. Huế chưa bao giờ tổ chức một lễ tưởng niệm đàng hoàng xứng đáng cho Trịnh, chưa hề có một Nhà Lưu niệm dành cho anh, đi khắp nơi cũng chẳng tìm thấy đâu một dấu vết nào của anh được trân trọng hay gìn giữ nghiêm túc.


Trong lúc đó dù sinh thời Trịnh có nói ca khúc của mình không hề đưa vào một từ “Huế” nào hết nhưng ai từng ở Huế biết Huế đều thấy toàn bộ không khí, âm hưởng, khung cảnh, con người trong đó đều rặt chất Huế. Từ mưa, cây cối, hoa lá, vườn hoa, dòng sông Hương, thiếu nữ “dời gót hài”, tóc bay vờn trong gió công viên, “chiều một mình qua phố” trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, “nhìn những mùa thu đi” dưới vòm cây trường Đồng Khánh, “chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người” ở Bãi Dâu… Có thể dùng nhạc Trịnh để qua đó vẽ nên một toàn cảnh Huế thời đó, qua đó lần mò đi truy tìm những dấu tích Huế xưa biến nó thành một cuốn “Tổng phổ Dư địa chí Huế”.


Chẳng những thế, người con này còn vang danh bốn biển, đã làm rạng danh xứ Huế khắp nước, là một tâm điểm để khách du lịch tìm đến.


Thế mà Huế đã từ bỏ một di sản đẹp như vậy cho một nơi xa lạ như Bình Quới (TPHCM) làm hết (mà lại làm quá tốt!) dù Festival Huế 2006 lại dùng khúc nhạc dạo đầu buổi khai mạc là bài… “Diễm xưa”! Nhưng Festival Huế lần đầu tiên trước khi mất, chẳng ai thèm gửi một tấm thiệp mời đến. Đến lúc qua đời mộ phần mình (và mẹ) cũng không được gửi về quê nhà như cố nhạc sĩ Châu Kỳ sau này được thỏa tâm nguyện từ TPHCM đưa về yên nghỉ trên đồi thông Nam Giao. Khác hẳn vài nghệ sĩ Việt kiều sau này làm sao gắn bó với Huế bằng được, không để lại dấu ấn đậm đà về Huế lại được ưu ái quá mức (cấp cho cả biệt thự, cho cả người không phải dân Huế gốc)!


Tuy nhiên sự đố kỵ, ghét bỏ, ruồng rẩy nếu có thì chỉ là của một số quan chức “chính trị” nào đó nặng quan điểm bảo thủ giáo điều ấu trỉ (trong đó không thể không nhắc đến vai trò của Giám đốc Sở VHTT lúc ấy cũng là một nhạc sĩ Huế đàn anh nổi tiếng – cố nhạc sĩ Trần Hoàn) chứ đâu phải toàn dân Huế? Cần nhắc đến giai thoại sau khi Trần Hoàn ra Bắc, năm 1986 Trịnh mới “dám” quay về lại, được mời lên sân khấu trình diễn thì lại chỉ xin hát độc một bài duy nhất “Em là hoa hồng nhỏ” gọi là “phi chính trị” rồi thôi làm mọi người ngỡ ngàng. Rõ ràng “sợ” Huế – Huế của cách mạng - quá rồi!


Xét cho cùng việc bỏ Huế ra đi – sau khi đã trở về với đầy thiện chí - là nhằm đi tìm con đường “tự cứu” hợp lý thôi, “vượt biên” vào TPHCM chứ có phải… qua Mỹ đâu (sau này có dịp đi Mỹ thăm Khánh Ly rồi cũng về đấy thôi)? “Đất lành chim đậu” – ngay trong lãnh thổ một quốc gia tự hào là đã thống nhất kia mà - là quy luật thế thôi. Mặt khác, nên nhớ nhờ được “giải phóng” một lần nữa ở TPHCM mới nở rộ thêm giai đọan sáng tác thứ ba Ca khúc Hòa bình - sau giai đoạn thứ nhất Tình khúc Tuổi trẻ và giai đoạn thứ hai Ca khúc Phản chiến. Lẽ ra Huế thời đó và cả bây giờ phải tự vấn rằng mình đã làm gì để bị chảy máu chất xám tới mức đó mới đúng.


Thật buồn cười nếu ngày đó không vì tình yêu Huế mà Trịnh hăm hở vội vã quay về mong làm việc “dựng lại người, dựng lại nhà” để vẫn “cố thủ” ở Sài Gòn thì hẳn sự tình đã khác (trường hợp tình nguyện trở về “dại dột” như vậy cũng đã xảy ra cho nhiều đứa con quê hương khác nữa). Biết đâu lại được Huế tôn vinh lâu rồi!


Tại sao Huế cứ để kéo dài tình trạng cố tình bỏ quên mà không chịu tiếp nhận đứa con lưu lạc trở về để cùng làm giàu thêm gia tài của mẹ, gia sản của quê hương? Không phải chỉ kêu gọi hãy “ôm Huế vào lòng” mà chính Huế cần mở rộng vòng tay ôm con cái vào lòng, bây giờ cả những đứa con bỏ nước ra đi cũng được chào đón gọi về kia mà.


Điều này mãi đến năm 2011 Huế mới chịu làm, bước đi bước đầu tiên đặt tên Trịnh cho một con đường nhỏ, cụt (600m) mới mở từ cầu Gia Hội men theo một nhánh sông Hương đâm xuống bến đò Cồn (nhìn qua sau lưng cồn Hến) mà lúc chưa đặt tên đã được mệnh danh là “con đường bia bọt” Huế! Dù sao thì cũng có còn hơn không nhưng chưa đủ.


CAO HUYKHANH

Trích " VN hồ sơ hậu chiến 1975-2011"