Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

NHÀ THƠ KIÊN GIANG TỪ TRẦN

Trái tim của nhà thơ - soạn giả - ký giả kịch trường Kiên Giang (Hà Huy Hà) đã ngừng đập lúc 6 giờ 30 ngày 31.10 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (quận 5, TP.HCM), thọ 86 tuổi.


Như Thanh Niên Online đã đưa tin về tình trạng nguy kịch củanhà thơ Kiên Giang, tác giả bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài trên áo tím, sau hơn 2 ngày hôn mê sâu (từ trưa ngày 28.10), nhà thơ Kiên Giang đã qua đời.

Được biết, sau khi tẩm liệm, linh cữu nhà thơ Kiên Giang sẽ được quàn tại Nhà Tang lễ TP.HCM (số 25 Lê Quý Đôn, quận 3). Lễ viếng bắt đầu từ 8 giờ ngày 1.11. Lễ truy điệu tiến hành lúc 7 giờ ngày 3.11, sau đó đoàn xe tang sẽ di chuyển và tạm dừng ở trụ sở Ban Ái hữu Nghệ sĩ TP.HCM (133 Cô Bắc, quận 1), nơi ông có nhiều năm gắn bó.

Nhà thơ Kiên Giang sẽ an nghỉ tại Nghĩa trang Hoa viên Chánh Phú Hòa (huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương), nơi người bạn chí cốt của ông, nhà văn Sơn Nam, cũng đã an nghỉ hơn 5 năm về trước.

 


Nhà thơ Kiên Giang - Ảnh: Đào Trung Phụng

Chị Ngọc Thùy, con gái lớn của nhà thơ, cho biết do đọc được trên báo có tin một bé sơ sinh bị bỏ rơi ngoài đường, nhà thơ đã gom chút tiền hưu, đón xe từ TP.Long Xuyên (nơi ông an dưỡng cuối đời) lên TP.HCM để giúp đỡ cho trường hợp này. Tuy nhiên, vừa tới  TP.HCM, chưa kịp thực hiện ý định thì ông bị đột quỵ vào xế trưa 28.10. Người nhà của cố nhà báo Phong Vân đã đưa ông vào cấp cứu tại Bệnh viện Quận 8, sau đó chuyển ông qua Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Q.5), và từ đó đến nay ông chưa tỉnh lại.

Nhà thơ Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17.2.1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá. Năm 17 tuổi (1946), đang là học sinh, Trương Khương Trinh đã có dịp tiếp xúc và gần gũi với nhà thơ Nguyễn Bính tại Rạch Giá và tôn Nguyễn Bính là thầy dạy làm thơ của mình (bài thơ Tiền và lá của ông chịu ảnh hưởng rõ nét của Nguyễn Bính). Sau này, ông làm thơ lấy bút danh là Kiên Giang (bài thơ nổi tiếng của Kiên Giang là Hoa trắng thôi cài lên áo tím được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc).

Ông còn là một soạn giả cải lương nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà, cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu và được coi là thầy của cặp soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng. Những vở cải lương mang dấu ấn Hà Huy Hà là Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới (vở này đã đưa cô đào Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm năm 1958). Ngoài làm thơ, soạn kịch bản cải lương, Kiên Giang còn là ký giả kịch trường của nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn trước 1975 như: Tiếng chuông, Tiếng dội, Lập trường, Điện tín…Ông từng bị tù vì là một trong những người tổ chức Ngày ký giả ăn mày, phản  đối Luật báo chí sửa đổi của chính quyền Sài Gòn năm 1974.

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che khuất người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím 
Em là cô gái tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông 
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông 
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ 
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Vẫn còn ấp ủ mộng băng trinh
Em lên xe cưới về quê chồng 
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím 
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, màu hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn trang lứa ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ngân vang lời tiễn biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím 
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
Tiền và lá
Ngày xưa, hớt tóc "miểng rùa”
Ngây thơ, mẹ bắt đeo "bùa cầu ông".
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào .
Đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời .
Anh moi đất nắn "tượng người",
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem "người đất" đổi tiền "lá rơi".
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời họp một mình tôi vui gì!
Kiên Giang
Hà Đình Nguyên

Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/
XIN THÀNH THẬT CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH NHÀ THƠ VÀ CẦU CHÚC LINH HỒN NHÀ THƠ THONG DONG NƠI CÕI KHÁC
Nguyễn văn Trai - Viêm Tịnh - Mặc Tuyền - Nguyên Minh - Nguyễn Sông Ba - Nguyễn Miên Thảo - Văn Viết Lộc - Cao Huy Khanh - Từ Hoài Tấn - Nguyễn văn Hiền - Phạm Tấn Hầu - Lê Ngọc Thuận - Nguyên Quân  - Hồ Đăng Thanh Ngọc và một số anh em văn nghệ sỹ

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

HOA THIẾU PHỤ - LÊ NHO QUẾ SƠN

Chiều xưa dừng chân bên dòng suối cạn
Bắt gặp hoa mua nở tím ven bờ
Tôi đọc thấy trên hoa nỗi buồn vô hạn
Một tình yêu không dám tỏ bao giờ
Mối tình đó tôi ôm vào tuyệt vọng
Như loài hoa hiu hắt tím nơi này
Nào ai biết trong khu rừng tịch lặng
Nước vô tình trôi gió thản nhiên bay
Mối tình đó bên này lương tri dựng chắn
Bên kia trái tim thôi thúc điên cuồng
Như giữa hoàng hôn bật lên màu hoa tím
Tiếng kêu than đòi đền đáp yêu thương
Về phố mang theo một hồn cây lá
Những chiều mưa tôi nhớ chiều rừng xưa
Đã phai nhạt từ lâu bóng hình thiếu phụ
Sao vẫn não nùng màu tím hoa mua !
LÊ NHO QUẾ SƠN
( Thanh Niên 1994)

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

THI PHẨM " KÝ ỨC HOA CẨM CHƯỚNG ĐỎ " RA MẮT TẠI SÀI GÒN

               Sáng ngày 28.10 tại Cafe Cối Xay Gió của nhà thơ Trần Từ Duy, nhà thơ Nguyễn Miên Thảo đã tổ chức gặp gỡ anh em văn nghệ để giới thiệu tập thơ KÝ ỨC HOA CẨM CHƯỚNG ĐỎ của nhà thơ nữ Phan Lệ Dung (phu nhân của cố nhà thơ-nhà báo Thái Ngọc San).
               Có khoảng 80 văn nghệ sĩ quen biết (đa phần là gốc Huế)  và bạn bè thân hữu của nhà thơ đến dự. 
Ảnh  1 Nhà thơ Pham Lệ Dung
2 Anh chị em VNS và bạn bè
3 Nhà thơ Nguyễn Miên Thảo nói lời chào mừng 
4 Con trai: nhà báo Thái Ngọc Tây Nguyên (báo Thanh Niên),  hát tặng mẹ bài "Suối Tóc" của Văn Phụng...

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

KÝ ỨC HOA CẨM CHƯỚNG ĐỎ, CHÚT MEN SAY DỊU DÀNG - NGUYỄN THỊ DUYÊN SANH




Một buổi sáng mưa dầm và lạnh giá, thứ lạnh và mưa được xếp vào loại  đặc sản của Huế như nhiều người vẫn nói, Phan Lệ Dung và tôi ngồi trong căn phòng nhỏ ở Gác Trịnh. Dung kể cho tôi nghe về tập thơ đầu sắp ra mắt có tên gọi "Bản hoà âm khắc nghiệt". Tôi nhìn những tán cây long não bên ngoài song cửa đang lắc lay gió, nhớ hình như ai đó đã nói rằng thượng đế rất hào phóng khi ban phát đớn đau khắc nghiệt cho con người mà hân hoan hạnh phúc thì quá chi li, keo kiệt... Mãi vẫn chưa thấy in thơ. Hỏi, Dung bảo còn phải thay đổi nhiều thứ chưa ưa ý. Dùng dằng hơn nửa năm, tập thơ mới được ra mắt với nhan đề: "Ký ức hoa cẩm chướng đỏ".
    Cái tên gọi mới đọc lên thôi đã gợi nhớ trong những người quen biết, khi còn là nữ sinh áo trắng mười bốn mười lăm tuổi, cô bé Lệ Dung đã làm thơ.. Tôi nghĩ rằng lúc ấy, chắc Phan Lệ Dung cũng chưa nghĩ đến chuyện mình sẽ là nhà thơ. Cả sau này khi đã là người yêu, là vợ của nhà thơ Thái Ngọc San, những bài thơ do ngẫu hứng bất chợt cũng chưa làm dày thêm nỗi đam mê sáng tác ở Dung. Chỉ đến khi định mệnh lên tiếng gọi anh San đi xa. Trở thành goá phụ lúc tuổi già chưa đến mà thời thanh xuân thì đã bỏ lại đằng sau, Phan Lệ Dung đến với thơ như tìm về một đỡ nâng cho những ngày tháng chông chênh tưởng không gì đắp vá nổi...
    Đọc hết 41 bài thơ, tôi thấy Phan Lệ Dung đã đúng khi đổi tên cho tập thơ này. Bởi những bài thơ trang trải cảm xúc suốt từ miền thơ ấu cho đến khi đã là "thiếu phụ mỏng manh", đã oằn lưng gánh chịu nhiều đau thương mất mát trong những nỗi đời riêng chung, giọng thơ ở nhiều cung bậc cảm xúc vẫn không bi luỵ thống thiết. Do cách nói mộc mạc, dung dị tự nhiên làm phút chốc như nhẹ tênh đi những xót xa thấm đẫm một phận đời? Hay bởi những buồn đau một khi đã quá nặng, sẽ tự lắng dần để tâm hồn ta trở nên trong trẻo hơn?
    Đó là những tiếc nuối ngậm ngùi về một mái ấm đã khuyết lẻ khi một nửa yêu thương vừa ra đi:
            chiều nay
            gió về
            cửa nhà mình không khép
            con ở Sài Gòn
            anh Lỳ ở xa tận Quy Nhơn
            Ba cũng ở rất xa, xa lắm
            Mẹ ở nhà một mình
            nhớ con
                            (Thư gửi con gái đang học ở Sài Gòn)
    Là trở về với nỗi cô đơn thường trực khi những đứa con yêu đã lớn khôn, đã ra khỏi vòng tay mẹ:
            lâu quá mới được ôm vào lòng
            đứa con trai ba mươi tuổi
            chiếc xích lô sơn màu tím cũ kỹ
            chậm chạp lăn đều trên mặt đường Lê Lợi
            thả tiếng kêu cọc cạch
            rơi vào đêm
            ai cúng đầu năm đốt vàng mã bên đường
            khói bay lên thơm mùi than giấy

            sau lưng tiếng còi tàu rời rã
            có tiếng chim non kêu đêm
            trên hàng cây long não
            mắt tôi nhạt nhoà.
                     (Mồng một tết tiễn con lên tàu vào Sài Gòn)
    Hoặc là những xót đau về cái chết trong chiến tranh:
            tới ngã ba ông Rồng
            người đứng đông như kiến
            bu quanh mấy xác chết máu me la liệt
            không có tiếng người khóc
            chỉ có tiếng gió thổi mắc trên cành cây
            không thoát ra được
            chị dặn em
            nhắm mắt đi qua kẻo tối về nằm chộ
                               (Trời đang mưa trong núi)
     Hay khi chứng kiến phút ra đi của người thân:
            nhớ cái cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng
            khi cánh tay cha buông thõng xuống thành giường
            mẹ đã khóc thành tiếng
            đầu giường kia mặt em tôi tái ngắt
            tôi hốt hoảng chạy ra đường
            kêu làng kêu xóm
            con chim chù huýt trên cành cây cất tiếng gọi hồn
                                      (Một ngày ảm đạm)
      Và nhiều nhất, vẫn là với những mối tình. Dẫu là những hoài niệm về những ngọt ngào lẫn đớn đau đã qua. Hay bồi hồi bởi cơn gió tình yêu mới hôm nào thoảng đến:
           và một chiều nắng muộn
           anh đi
           gió mang cánh hoa màu đỏ bay về phía cuối trời
           nắng buổi chiều
           nhoà nước mắt tôi
                      (Ký ức hoa cẩm chướng đỏ)
           mùi hương nồng thắm
           như còn phảng phất đâu đây
           anh hôn em ngọt ngào
           anh hôn em hân hoan
           ngoài kia trời nhả nắng hanh vàng
                         (Giá như anh về thật)
            đã hơn một năm
            mình xa...
            phố nghèo vắng bóng
            anh không nói gì
            nắng phai chiều dạo ấy
            anh đi trước
            tôi dứng nhìn theo
            con đường ngập lá
            khoảng cách mênh mông
            sao lại thấy gần
            đời hai phía còn vấn vương
            mong một ngày gặp lại
                              (Thì thầm)
            gửi anh một chút xót xa
            đường vạn dặm
            anh phiêu bạt cánh chim lãng tử
            em thiếu phụ mỏng manh
            biết khi nào gặp lại
            ôi, đất trời phiêu lãng anh.
                            (Gửi anh)
        Lâu nay tôi vẫn thường bị chinh phục bởi vần điệu trước khi cảm xúc về nội dung của thơ. Nhưng khi đọc "Ký ức hoa cẩm chướng đỏ", hình như tôi đã thay đổi. Tuy từ đầu đến cuối, chỉ không hơn vài cặp câu có vần một cách ngẫu nhiên, thơ Dung vẫn bàng bạc âm hưởng của ca dao. Có lẽ không gian trong hoài niệm của Dung rất gần gũi và quen thuộc với cánh đồng, con trâu, với cánh cò, đôi chim chiền chiện...
            cái nắng, cái nắng đa tình mênh mang đi khắp
            sao không về thắp lửa bên em
            nắng hời, nắng ơi.
            em còn nụ hôn lận trong khoé mắt
            đợi đêm về khoe với gió đông
            em còn nỗi buồn giấu trong vạt áo
            ai biết mà cảm thương.
                            (Điệu ru nắng)
            ngày mai cắt lúa đồng xa
            giữ chân cho khéo kẻo sa đồng lầy
            ngày ấy buổi chiều choàng lên cánh đồng
            tiếng hò đưa lả lướt
            con cò trắng bay lên
            cuốn cả đồng vàng vào đôi cánh
                          (Cánh đồng hoài niệm)
     Những bài thơ như những lời kể chuyện mộc mạc chân chất. Mộc mạc nhưng không thô thiển. Và vì thế mà người đọc thấy như đang ở trong đời thực, cho dẫu cuộc đời cứ dắt ta loanh quanh, dùng dằng mãi với những khóc cười, được mất. Với "Ký ức hoa cẩm chướng đỏ", Phan Lệ Dung đã khiến tôi có cảm giác như vừa ra khỏi men say của một thứ cocktail, trong đó hương ngọt ngào hân hoan thì rất nhẹ mà vị tiếc nhớ u hoài thì cứ mãi đằm sâu...
Huế, 12-10-2014
Nguyễn Thị Duyên Sanh