Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

THƠ GIANG HỒ,NHƯ NHỮNG NGỌN GIÓ,KHÔNG NGỪNG PHIÊU LÃNG

"Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà"

Chẳng cần phải rà soát trong trí nhớ, nhiều người đã bật lên hai câu này mỗi khi chén thù chén tạc; lúc đắc chí vỗ đùi cười rơi nước mắt; khi một mình dạ hành nơi đất khách lạ xa…

Thơ của ai? Chẳng biết là thơ của ai. Chỉ biết rằng thơ hay quá, đọc lên nghe đã đời, sảng khoái cả tâm hồn, mà như một lời an ủi, ngọt dịu. Thơ ai vậy ta? Người đinh ninh thơ Nguyễn Bính. Kẻ đồ chừng thơ Nguyễn Duy. Có người lại "chắc cú" rằng thơ của Bùi Chí Vinh v.v… Thưa rằng chẳng phải. Người có hai câu thơ rất nổi tiếng trên "giang hồ" mà tên tuổi lại… hơi "mơ hồ" trên văn đàn đó chính là thi sĩ Phạm Hữu Quang quê Bắc Đuông, Thốt Nốt, Cần Thơ.

Phạm Hữu Quang sinh năm 1952, từng học Đại học Sư phạm với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh rồi chuyển về Đại học Cần Thơ. Ra trường, đi dạy vài ba năm rồi chuyển qua làm văn nghệ (Hội VHNT An Giang). Theo mô tả của nhà thơ Trần Hữu Dũng thì Phạm Hữu Quang có vóc người thấp đậm, râu ria xù xì như con gấu. Con người có bài thơ "Giang hồ" nghe "dữ dằn" vậy mà hiền khô, lại rất siêng làm thơ thiếu nhi. Bài thơ "Giang hồ", Phạm Hữu Quang viết tháng 5/1991. Anh mất ngày 28/4/2000, vừa đúng 49 tuổi (bốn chín chưa qua…).

Sau khi Phạm Hữu Quang mất, bạn bè thi hữu "kẻ góp của, người góp công" đã in cho anh một tập thơ có tên "Ngẫu hứng chiều sông Hậu". Nói cho đúng, thơ Phạm Hữu Quang không nhiều. Nhưng anh có bài "Giang hồ" quá xuất thần, dường như ai chỉ cần nghe đọc một lần là cũng có thể thuộc vài câu. Tất nhiên bài "Giang hồ" không chỉ có hai câu hay, mà còn có nhiều câu thấm thía, ví dụ:

"Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hóa rừng…"

Ồ! Thì ra xưa nay, người rong ruổi giang hồ cũng không phải là hiếm, nhưng mới đi ba bữa đã sầu một bữa, quặn lòng mình để cho thơ lên ngôi thì cũng chỉ riêng thi sĩ thứ thiệt mới có. Thật ra, giang hồ - xê dịch - rong chơi; nó vừa là hành động vừa là ý niệm của người thơ. Dấn thân để được đi mãi trên con đường sáng tạo luôn là ước muốn lớn lao của những ai làm nghệ thuật. Nhà thơ Thế Lữ từng viết: "Ta là một khách chinh phu/ Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ". Thấy chưa? Giang hồ, đâu phải chỉ "đã đời sông núi" riêng mình, mà đôi khi nó là sứ mệnh.

Bước chân giang hồ lắm khi cũng là định mệnh của không ít nhà thơ. Thi sĩ Nguyễn Bính có khá nhiều bài thơ thấm đượm cái phong vị của kẻ giang hồ thứ thiệt. Nhưng, có thể nói bài thơ "Hành phương Nam" của Nguyễn Bính được xem là một bài thơ giang hồ hay nhất, nổi tiếng nhất của ông. Nó như một cuốn "nhật ký" của thi sĩ trên đường lưu lạc vào phương Nam:

"… Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!".

Ở chợ Đa Kao - Sài Gòn, năm 1943, Nguyễn Bính viết bài thơ này. Bây giờ đọc lại vẫn thấy hay, thấm thía một nỗi buồn. Còn gì buồn hơn là ngồi say giữa chợ? Giữa chốn đông mà nào có ai thân? Có một chi tiết trùng hợp khá thú vị là: Nguyễn Bính cũng mất năm 49 tuổi, bằng số tuổi mà Phạm Hữu Quang "tạm trú" trên cõi đời. Mất ở tuổi ấy, thường coi như là "chết yểu", nhưng kỳ lạ thay, thơ của họ lại có sức sống vượt thời gian.--

Thơ giang hồ, thường là kết quả của những chuyến xê dịch. Sau những cuộc rong ruổi thỏa chí tang bồng là một niềm thương nhớ da diết. Đi chỉ là một phương thức nhằm thay đổi bối cảnh, không gian sống, chứ cũng khó lòng mà thay đổi tâm trạng, số phận. Thi sĩ Đynh Trầm Ca có hai câu thơ giang hồ rất tuyệt:

"Giang hồ nào có ai phong ấn/
Mà cũng từ quan, trở lại quê".

Và, thi sĩ Linh Phương cũng từng cho "xuất xưởng" một bài thơ có tựa "Giang hồ" khá hay:

"Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau
Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu
Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng".

Người ra đi bao giờ cũng mong được quay trở về. Xét cho cùng, sự trở về trọn vẹn nhất là trở về với hồn nhiên ấu thơ. Khi hồn ta còn tràn ngập tình thương trong sáng, khi đầu óc ta còn chưa mắc kẹt vào những dự án, toan tính bộn bề, mỏi mệt. Nhưng, làm sao quay ngược cây kim thời gian? Linh Phương thảng thốt:

"Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Thầm hẹn mai này qui cố hương
Ta về làm bạn cùng chim chóc
Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông".

Có đôi người đọc bài thơ "Giang hồ" này thích quá, bèn gọi điện thoại hỏi tôi có biết tung tích của thi sĩ? Linh Phương là chị hay anh? Tôi không biết nhiều lắm. Nhưng chắc chắn một điều, thi sĩ Linh Phương đích thị là… đàn ông; hiện sống ở Rạch Giá - Kiên Giang.
Giang hồ. Ừ nhỉ! Tại sao không giang hồ? Có ai cấm ta giang hồ? Dù chỉ là giang hồ vặt. Nhưng nói đến giang hồ thứ thiệt "chính tông" thì phải nói đến thi sĩ Bùi Giáng. Cái giang hồ của Bùi Giáng không chỉ tính ở dặm dài xê dịch mà nó nằm ngay trong bản thể của thi sĩ. Ông "đi vắng" ngay cả khi ông tồn tại. Ông ở đây mà hồn ở đâu. Ông quên lãng ngay chính bản thân, chính tên tuổi mình:
"Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa…".

Bùi Giáng rong chơi mải miết, rong chơi đến độ "quên cả đường đi lối về". Nhưng, trên con đường rong chơi của thi sĩ bao giờ cũng kè theo một "túi thơ" bên mình:
"Rong chơi râu tóc bạc phơ
Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người…".

Nói đến chuyện rong chơi của trung niên thi sĩ thì có lẽ còn nói… đến khuya. Người bảo Bùi Giáng điên. Kẻ nói Bùi Giáng nào điên, chỉ giả vờ. Người kêu Bùi Giáng loạn chữ. Kẻ nói Bùi Giáng "múa chữ" như làm xiếc v.v… Mỗi người mỗi ý. Nhưng rốt lại, Bùi Giáng vẫn là thi sĩ "một trăm phần trăm". Với thơ, ông chỉ định "đùa chơi" một tẹo. Nhưng rồi:
"Ta cứ ngỡ đùa vui trong chốc lát
Nào ngờ đâu đùa mãi đến điêu linh".

Thì đấy, "giang hồ muôn nẻo điêu linh". Giang hồ nào phải dành cho cho kẻ yếu bóng vía; ngán sóng, sợ gió. Nghe người giang hồ đã mê, đọc thơ giang hồ càng sướng. Thơ giang hồ còn nhiều. Trong một chốc, một lát; một buổi, một ngày không thể nào nhớ hết, liệt kê ra đầy đủ. Đó là chưa kể có nhiều bài thơ giang hồ còn nằm trong dân gian.

Thơ giang hồ như những ngọn gió không ngừng phiêu lãng. Thổi phóng túng vào tâm hồn những ai yêu thơ, yêu đời sống thiệt tình (!)


(http://vnca.cand.com.vn/">http://vnca.cand.com.vn/ )

PHẠM HỮU QUANG
GIANG HỒ

Tàu đi qua phố , tàu qua phố
Phố lạ mà quen ta giang hồ
Chẳng lẽ suốt ngày bên bếp vợ
Chẻ củi , trèo thang với … giặt đồ

Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày đi ta chỉ có tay không
Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi
Mây trắng trời xa trắng cả lòng

Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình
Gối trang sách cũ nằm nghĩ bụng
Cười xưa Dương Lễ với Lưu Bình

Giang Hồ có bữa ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chửa chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống
Đếm thấy thừa ra một gốc si

Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa thưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ . Thôi . Trời đất cứ liêu xiêu

Giang hồ ta chẳng hay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương
Sáng nay mới hiểu mình tóc bạc
Chợt tiếng trẻ thưa ở bên đường

Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hoá rừng
Chân sẵn dép giày trời sẵn gió
Ngựa về . Ta đứng . Bụi mù tung …

Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta mới khóc hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà


LINH PHƯƠNG
GIANG HỒ

Giang hồ từ thuở ta thất thế
Chí lớn không thành- thà ẩn cư
Viễn xứ. Ờ ! Thôi thì viễn xứ
Hết đời phiêu bạt chốn quê xa

Mẹ xưa vốn quen mùi rơm rạ
Đốt đồng khô khói phủ che trời
Hoàng hôn mỏi mắt. Chiều châu thổ
Vẳng tiếng kêu đò bên bến sông

Cha xưa cầm súng ra đánh trận
Bỏ xác trên rừng mấy mươi năm
Lần đi đưa tiễn- tay chưa nắm
Vạt áo che ngang mẹ khóc thầm

Em xưa kẹp tóc thề vội lớn
Cứ ngỡ tình xanh mãi biếc xanh
Tương tư xếp lá đôi bờ mộng
Mơ bóng trăng khuya- tiếng nguyệt cầm

Ta xưa thắp nến chờ đêm xuống
Đợi hồn thiêng khuất nẻo cha về
Mộ bia hiu quạnh. Ngày dâu bể
Phách lạc đâu còn chỗ nương thân

Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Vẫn thấy lòng đau rứt ruột đau
Thèm nghe tiếng dế thời thơ ấu
Ngắm cánh diều bay giữa vô cùng

Giang hồ. Ta giang hồ trăm bận
Thầm hẹn mai này quy cố hương
Ta về làm bạn cùng chim chóc
Lẫn với muỗi mòng chín cửa sông

NGUYỄN BÍNH
HÀNH PHƯƠNG NAM

Hai ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời, hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay !

Lòng đắng sá gì non hớp rượu
Mà không uống cạn, mà không say ?
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ thuở trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Trông lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Phân tán vì cơn gió bụi này
Ngươi đi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hãy hay
Ngày mai sán lạn màu non nước
Cốt nhất làm sao tự buổi này

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay ?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Hài cỏ gươm cuồng ta đi đây

Ta đi, nhưng biết về đâu chứ ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi !

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Người ơi ! Hề người ơi !
Người sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

TRĂNG ĐẤT KHÁCH - HOÀNG LỘC



alt

ta mấy ngàn đêm xa cố quán
từng đêm ta cũng đã mơ về
thấy em đứng với dòng sông trắng
cùng bóng sầu trên áo rất mây

thương khổ đời em không thể khác
mùa trăng con gái biệt tăm rồi
mối tình cứ phải ông trời buộc
mà giữ gìn nhau cũng hết hơi

ta đã nhiều năm trăng đất khách
vẫn ngang trời có bữa mây che
chỉ có lòng ta ôi chẳng khác
bởi tình em ngàn dặm theo soi...

8-2011

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2011

THANH MUỘI - LÊ NGỌC THUẬN


Lỡ sa lầy trong trận đồ quá khứ
Một cuộc tình không có dấu vân tay
Ta yêu người như trèo lên lưng cọp
Không còn đường di tản để về đâu

Dăm ba chén hé lòng say ta nhớ
Thuở mà em còn tóc hát gió lay
Thuở cà phê linh thiêng hơn rượu lễ
Thuở em cười ngồn ngộn một vầng trăng

Chừ đôi môi đã quá hạn hết thời
Ta hôn liều dù không tình bảo chứng
Rượu chiều nay như cô gái lỡ thì
Ngồi trang điểm ngắm mình trong đơn độc

Tóc Vương phi đã man khai lý lịch
Buồn của ta phá sản tự bao giờ
Bao năm qua đầu xuôi đuôi không lọt
Đành nâng ly núp bóng từ bi

Ta học đòi người xưa ẩn dật
Lại bộn bề tong bếp lửa mưu sinh
Thôi thì kiết già mà yêu vậy
Thanh muội ơi! mưa có tự mây trời

Khu vườn đó rượu quỳnh không còn nữa
Gốc khế già rơi rớt giọt sương khuya
Em đâu biết ta đã từng lặng lẽ
Đốt thuốc đứng chờ bên con phố xưa

LNT

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

HỒI CHUÔNG TẮT LỬA VÀ CÁI NHÌN HIỀN TƯỢNG LUẬN - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG



Thế Nguyên tên thật là Trần Gia Thoại, sinh năm 1942 tại Nam Định, mất năm 1989 tại TP. Hồ Chí Minh, nguyên là giám đốc nhà xuất bản Trình bầy, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Trình bầy, nhật báo Làm dân; thư ký toà soạn các tạp chí Đất nước, Nghiên cứu văn học ở Sài Gòn trước 1975. Tác phẩm đã công bố: Hồi chuông tắt lửa, Nuôi con nhơn tình, Từ dưới vực sâu, Nghĩ gì (hai tập, ký bút danh Trần Trọng Phủ), Cho một ngày mai mơ ước. Dưới đây là bài viết cùa nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương về tác phẩm Hồi Chuông Tắt Lửa của ông

Hồi chuông tắt lửa là một cuốn truyện vừa của nhà văn Thế Nguyên hoàn thành tháng 8 năm 1963 và được công bố lần đầu ở Sài Gòn năm 1964. Theo chúng tôi, đây là một trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, nhưng chưa được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm thích đáng. Tác giả là một trí thức Công giáo khuynh tả chịu ảnh hưởng tư tưởng thần học giải phóng và một số quan niệm mỹ học phương Tây, trong đó có chủ nghĩa hiện sinh và hiện tượng luận, vốn được giới thiệu ở miền Nam vào những năm 60 thế kỷ trước như một lý thuyết mỹ học và một kỹ thuật miêu tả trong sáng tạo văn học.
Bài viết này bước đầu soi chiếu vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Hồi chuông tắt lửa từ quan điểm hiện tượng luận của Husserl và Merleau-Ponty để phân tích cái nhìn và kỹ thuật miêu tả của nhà văn về vấn đề số phận con người với kinh nghiệm ở đời giữa những biến thiên của lịch sử dân tộc và tôn giáo. Vận dụng hiện tượng luận, trong trường hợp này, chúng tôi cũng muốn đào sâu ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm từ sự phân tích của người đọc, theo tinh thần tác phẩm là đối tượng thẩm mỹ cho một ý thức tiếp nhận.

MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC TẠO DỰNG
Câu chuyện của Hồi chuông tắt lửa khởi đầu bằng việc nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” nhận lời mời của một vị linh mục tham gia giảng dạy cho một trường trung học mới mở trong một xứ đạo ở một vùng quê thời kháng chiến chống Pháp. Từ đây bắt đầu những kinh nghiệm tại thế với những quan hệ chính trị, tôn giáo, tình yêu và tính dục mà nhân vật đó trải qua trong tương giao với những con người ở xứ đạo.
Chính trong những ngày ấy, nhân vật xưng “tôi” đã lần lượt rơi vào những tình huống tưởng chừng như mê cung không lối thoát. Ở đó, anh ta đã trải qua hai cuộc tình thoáng qua với một cô gái quê và một cô giáo đồng nghiệp cùng trường. Cô giáo này là bạn thân của người em gái vị linh mục, cả hai đều từng ở trong một dòng tu và chứng kiến cái chết bí ẩn của một người nữ tu khác. Người em gái này về sau mang thai với M., một tu sĩ rời bỏ chủng viện để hoạt động chính trị bí mật, và đã từ trần vì sinh non.
Cuộc sống ở xứ đạo với nhà thờ và ngôi trường được sắp xếp ổn định dưới bàn tay của cha T. Các tu sĩ và tín đồ ngoan đạo làm tròn bổn phận của mình. Thầy giáo, cô giáo chu toàn nhiệm vụ dạy học. Học trò, trong đó có đứa con đỡ đầu của cha T. là thằng Ánh, học hành tiến bộ, cả về kiến thức lẫn đạo đức, vì “việc học là cần thiết, nhưng giáo dục không phải chỉ nguyên rèn luyện đầu óc cho thông thái”(2).
Có thể nói, trong ý định chủ quan của mình, cha T. có ý hướng tạo dựng một xứ đạo lành thánh, ở đó những thế hệ tín đồ kế thừa và tiếp nối truyền thống trong một cuộc sống hoà hợp. Điều mâu thuẫn là để đạt được mục đích ấy, cha T. đã phải che giấu những điều khuất tất, xoá vết những tội lỗi để khoả lấp những nghi ngờ của các giáo dân.
Thế giới tưởng chừng phẳng lặng đó ẩn chứa những cơn sóng ngầm chỉ chờ cơ hội là bùng nổ. Mối tình tay ba của những người đồng nghiệp dẫn đến xung đột giữa nhân vật “tôi” và K., ngay lúc anh này vừa đính hôn với cô giáo. Bầu không khí trở nên căng thẳng hơn nữa khi K. nghi ngờ rằng Ánh là kết quả mối quan hệ bí mật giữa cô giáo và cha T.
Đỉnh điểm của xung đột là khi có sự xuất hiện của M., người từng gây ra những vụ mưu sát tàn bạo trước đôi mắt kinh hoàng của các nạn nhân. M. gặp cha T. trong toan tính nhờ sự giúp đỡ của ông để trốn thoát khỏi vùng đất do những người kháng chiến kiểm soát. Theo kế hoạch được sắp xếp, ông Bô Khương, một tín đồ mất trí, bị đưa ra xét xử chỉ vì tội ăn cắp vặt, nhằm thu hút sự chú ý của mọi người tại phiên toà, để M. dễ bề tẩu thoát.
Nhưng M. không chịu ra đi một mình. Ông ta tìm cách tra vấn bí mật mà chỉ cha T. và cô giáo nắm rõ, để biết sự thật rằng thằng Ánh là đứa con của ông với cô giáo. M. cướp thằng Ánh trong tay cô giáo để xuống một con đò đang đợi sẵn ở bến sông. Bị người du kích phát hiện, M. chứng kiến viên đạn kết liễu cuộc đời của Ánh thay cho chính ông ta.
Toàn bộ câu chuyện được gói trọn chỉ trong 100 trang sách ngắn, in chữ cỡ lớn, từ từ mở ra một thế giới khép kín trong lòng một đất nước tao loạn. Đó là thế giới được tái hiện với những bí ẩn của nó, đồng thời cũng là một thế giới được tạo dựng dưới kỹ thuật miêu tả của nhà văn.
Theo hiện tượng luận, thế giới đã hình thành và ý thức của con người về thế giới cũng hình thành cùng một lúc với kinh nghiệm của ta, trong hiện hữu tại thế của ta(3). Merleau-Ponty viết: “Thế giới gắn liền với chủ thể mà chủ thể không gì khác hơn là dự phóng của thế giới, và chủ thể cũng không tách rời với thế giới do chính chủ thể dự phóng nên. Chủ thể là hữu thể tại thế còn thế giới luôn mang tính chủ thể”(4). Thế giới Hồi chuông tắt lửa đã được tạo dựng cùng lúc với ý thức của nhân vật xưng “tôi” hình thành trong kinh nghiệm mà anh ta thu thập được và tìm cách bày tỏ kinh nghiệm đó với tha nhân.
Cũng theo nhãn quan hiện tượng luận, sự phân tích và giải thích không quan trọng bằng sự miêu tả. Trong Hồi chuông tắt lửa, Thế Nguyên không sa vào phân tích tâm lý như tiểu thuyết có cốt truyện tình cảm, cũng không lý giải và định hướng cho người đọc như tiểu thuyết có cốt truyện giáo dục. Ông miêu tả hiện tượng như người ta bóc những lớp vỏ của một củ hành để từng bước chạm vào cái hạt nhân bí ẩn bị che giấu. Nhưng nhà tiểu thuyết cũng không có tham vọng của một nhà văn hiện thực chủ nghĩa, tin rằng cái tôi nghệ sĩ có khả năng khám phá bản chất và quy luật của đời sống như nó vốn có.
Hồi chuông tắt lửa thuộc khuynh hướng tiểu thuyết đề cao cái sống thực. Trong tác phẩm, yếu tính của sự vật không phải là cái gì tự nó mà chỉ bộc lộ ra trong quan hệ hỗ tương với ý thức. Ở đây có một nghịch lý thú vị này: một mặt, Hồi chuông tắt lửa không nhằm tái hiện một thực tại có sẵn mà là triển khai việc khám phá một sự thực; mặt khác cuốn tiểu thuyết giả định rằng cả tác giả lẫn người đọc, nói theo ngôn ngữ của Husserl, chỉ đạt tới và nắm bắt những hiện tượng trong thế giới của kinh nghiệm sống, chứ không thể nào vươn tớibản chất của nó. Thoạt nhìn, dường như đó là một bước lùi so với chủ nghĩa hiện thực, nhất là tác phẩm hiện thực qua tiêu điểm zéro, trong đó người trần thuật có điểm nhìn bên trên như điểm nhìn của Thượng đế đối với các nhân vật của mình, nhờ đó mà hiểu biết thông suốt tất cả mọi sự, khiến nhân vật không thể che giấu được điều gì, ngay cả những động cơ thầm kín của nó.
Thật không dễ chấp nhận với một số người khi nhận xét rằng một “chủ nghĩa hiện thực” nào đó có thể là biến tướng của thế giới quan duy tâm, khi mà thực tại được tái hiện chẳng khác nào một mô hình được cấu tạo theo chính tâm trí của con người. Càng không dễ chấp nhận khi nhận xét rằng hiện thực khả tín nhất không phải là “hiện thực mãn nguyện” mà là hiện thực chứa đựng những yếu tố hoài nghi. Về một khía cạnh nào đó, hiện tượng luận tỏ ra tôn trọng “hiện thực”, vì nó xoá bỏ định kiến cho rằng cái tôi là trung tâm của chân lý nội tại thay vì chỉ là một chủ thể gắn liền với thế giới.
Vậy thế giới đã được tạo dựng trong Hồi chuông tắt lửa như thế nào?
Đó là thế giới của những bí ẩn chồng lên bí ẩn. Bí ẩn trong gia đình của cha T., nơi có một người con gái mang hoang thai đã chôn vùi tuổi thanh xuân của mình trong tình yêu mù quáng. Bí ẩn trong cuộc đời chị Agnès, người nữ tu hoá điên khi đối mặt với cái bóng đen ngoài vườn tu viện. Bí ẩn trong mối quan hệ tay ba của cô giáo, nhân vật “tôi” và K. Bí ẩn trong lai lịch và hành tung của M., đảng viên Quốc dân đảng đang bị chính quyền kháng chiến truy lùng. Bí ẩn trong nguồn gốc và tính cách của thằng Ánh. Bí ẩn trong hành động và động cơ của cha T. Bí ẩn trong cuộc đời và số phận của Bô Khương. Bí ẩn về con vạc mồi của bõ Khản…

Nhưng bí ẩn không phải là bí ẩn tự nó. Bí ẩn bao giờ cũng nằm trong tương quan với một cá thể. Bí ẩn với người này có thể là điều dễ hiểu đối với người kia. Đồng thời, bí ẩn luôn có thể gây ra hoài nghi và ngộ nhận. Cốt truyện của Hồi chuông tắt lửa là cốt truyện của những hoài nghi và ngộ nhận được xâu chuỗi. Tác giả, thông qua điểm nhìn của người kể chuyện, lần lượt vén màn những bí ẩn đó và giải toả những ngộ nhận. Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, với sự “giúp đỡ” của nhân vật K., đã dần dần chiếu những tia sáng mong manh vào thế giới mờ đục của câu chuyện Hồi chuông tắt lửa.
Hiện tượng luận quan niệm thế giới cũng như sinh hoạt tại thế của ta có tính chất mờ đục, không thể thấu hiểu. Thế giới mờ đục trước hết là vì thế giới bị che giấu: cả chị Agnès, cả người em gái của cha T. và cô giáo đều che giấu mối tình bi đát của mình trong câm lặng. Cha T. che giấu tấn thảm kịch của những người phụ nữ, đồng thời che giấu kẻ gây ra nguồn cơn của tấn thảm kịch đó, để tự mình nhận lấy sự kết án của K.
Thế giới là mờ đục, theo hiện tượng luận, còn vì con người chỉ có thể nhìn thấy một mặt nào đó của nó. Nói khác đi, thế giới không phải là một toàn thể mà là một trắc diện qua cái nhìn của mỗi người, trong từng tình huống cụ thể. Cho nên mờ đục gắn liền với đặc tính của thế giới. Nhưng bằng lối miêu tả hiện tượng luận cộng với thủ pháp “do thám” của tiểu thuyết điều tra hình sự, Thế Nguyên đã từng bước phơi bầy sự thật về thế giới và con người sau những tấm mặt nạ. Có thể nói Hồi chuông tắt lửa biểu hiện sự giằng co giữa quan niệm tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực và nhãn quan hiện tượng luận nơi Thế Nguyên.
Trong nhãn quan hiện tượng luận, tiểu thuyết là một phương thức “trở về với chính thế giới”, như lời kêu gọi của Husserl, và do đó tự đặt cho nó nhiệm vụ miêu tả sự vật và hiện tượng đã xuất hiện trong kinh nghiệm sống thực của chủ thể như thế nào. Muốn vậy, chủ thể phải xoá bỏ những thiên kiến, gạt bỏ những ảo tưởng. Thuật ngữ Reduktion của Husserl trong tiếng Đức, Réduction trong tiếng Pháp được Trần Thái Đỉnh dịch là “Giảm trừ”(5), Lê Tôn Nghiêm dịch là “Giản lược”(6), còn Phạm Công Thiện thì dịch là “Quy hồi”(7). Đằng sau sự khác biệt này, có thể tìm thấy một điểm kết nối: muốn “quy hồi” để thế-giới-tự-nó trở thành thế-giới-cho-ta, thì phải giảm trừ hay giản lược những định kiến về thế giới, “cho nó vào trong ngoặc đơn”.
Lịch sử văn học đã ghi nhận những hình mẫu có tính lý tưởng về “người tình nhân chung thuỷ”, “người cách mạng hy sinh”, “người tu sĩ đạo đức”; đồng thời cũng ghi nhận những nỗ lực “phá chấp” để có được cái nhìn trẻ thơ về thế giới khi nó xuất hiện lần đầu tiên trong kinh nghiệm sống của chủ thể. Trong Hiện tượng luận về tri giác, Merleau-Ponty nhìn nhận: “Không có gì khó bằng biết thực đúng cái ta nhìn”(8). Đây càng là một nỗ lực khó khăn trong bối cảnh của những đố kỵ và định kiến. Boccaccio, Rabelais… tầm cỡ như vậy mà đã không yên trong bối cảnh văn hoá Phục hưng nhiều cởi mở huống hồ Thế-Nguyên-tuổi-hai-mươi trong xã hội miền Nam đầy thù hận và cố chấp giữa những năm 60 thế kỷ trước…
Hiện tượng luận không chấp nhận kinh nghiệm do tri giác đem lại một cách đương nhiên mà không tìm hiểu, khám phá, sáng tạo. Kinh nghiệm và tri giác chính là kinh nghiệm và tri giác của tôi, do tôi và cho tôi. Và ngay khi tôi có kinh nghiệm về thế giới thì cùng một lúc tôi bừng tỉnh và phản tỉnh về thế giới. Đó là ý nghĩa của luận đề ý thức là ý thức về một đối tượng và đối tượng là đối tượng cho một ý thức. Kinh nghiệm về thế giới thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của chính các hiện tượng, đồng thời với sự thay đổi của ý thức tôi về hiện tượng đó.
Nếu cha T., ông M. và những người kháng chiến có thể giữ một trạng thái tinh thần không suy suyển trước mọi sự thật vì họ là những người “cứng lòng tin”, thì những người như cô giáo, anh K. và nhân vật xưng “tôi” chắc chắn phải ít nhiều phản tỉnh trước tấn thảm kịch. Có điều Thế Nguyên không nhằm miêu tả sự phản tỉnh và chuyển biến về tâm lý đó, vì ông không đi theo cung cách miêu tả của tiểu thuyết truyền thống. Mặc dù không hẳn là chuyện-kể-hành-vi-luận, trong đó câu chuyện được kể lại bởi một người trần thuật biết ít hơn các nhân vật của mình, Hồi chuông tắt lửa đã giản lược sự phân tích tư tưởng và tình cảm của nhân vật. Tác giả kể một câu chuyện về đời người và người đời mà không truy tìm và cắt nghĩa động cơ của họ. Nhà văn miêu tả mà không lý giải khiến cho tác phẩm dường như treo lửng mọi phán đoán.
Thế nhưng, về phía những người đọc, chúng ta lại có nhu cầu cắt nghĩa thế giới và phán đoán những con người trong đó với những động cơ của họ. Hiện tượng luận không chủ trương giải thích thế giới nhưng lại mở cánh cửa cho những sự giải thích khác nhau về thế giới và gợi mở cho người đọc lấp đầy những khoảng trống của văn bản bằng sự tiếp nhận của mình.
Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa là một thế giới tưởng chừng đạo đức, bình an, lành thánh ở một xứ đạo; đồng thời cũng là một thế giới che giấu những mưu mô, thủ đoạn, giả dối nên chỉ chờ cơ hội để bùng nổ. Vì vậy đó là một thế giới mờ đục, không thể thấu hiểu, con người chỉ có thể nhìn thấy một trắc diện của nó, nên dễ gây ra ngộ nhận. Tác giả miêu tả những hành vi ở bề mặt của nhân vật mà không đi sâu phân tích động cơ, tâm lý, cũng không lý giải và định hướng mà để người đọc tự mình phán xét.

MỘT THẾ GIỚI BỊ SỤP ĐỔ
Âm mưu của ông M., có sự giúp sức, vô tình hay hữu ý, của cha T., nhằm cướp đi đứa con với cô giáo – chính là thằng Ánh – trên đường trốn thoát, đã bất thành khi bị những người kháng chiến phát hiện. Viên đạn oan nghiệt đã cắm vào ngực thằng bé. Thế Nguyên viết trong đoạn cuối cuốn tiểu thuyết, khi xác Ánh được đưa từ con đò dưới bến sông về nhà thờ:
“Khi chúng tôi về tới cửa nhà nguyện, cuộc phụng vụ vừa xong. Cha T. còn quỳ lại sau hồi chuông tắt lửa. Bóng bõ Khản lênh khênh chụp cái bù đài lên từng ngọn nến. Ánh sáng leo lét nhỏ dần, chặt đôi gương mặt bõ. Mọi người lục tục rời hàng ghế. Khi thấy chúng tôi, họ dừng cả lại như bất động. Ngay lúc ấy một làn chớp loé lên. Bóng ông Bô Khương vụt hiện ra rất nhanh ngoài sân cỏ, mang hình ảnh cứu chuộc thê thảm trên đỉnh đồi Golgotha, đồng thời với một tiếng sét kinh hoàng. Tôi run rẩy bấu chặt tay vào bờ tường nhìn xác thằng Ánh xám ngắt loạng choạng trên tay ông M. Đầu cô giáo gục xuống, gương mặt hoàn toàn nằm trong bóng tối. Dư âm tiếng sét còn lại vang rền. Tôi nghe chừng cả một khoảng trời cao vừa sụp đổ…”(9).
Trong tác phẩm này, hồi chuông tắt lửa là hồi chuông cuối ngày thứ sáu tuần thánh, báo hiệu tất cả đèn nến trong giáo đường tắt dần để tưởng niệm ngày Chúa chịu nạn. Ngẫu nhiên, hồi chuông tắt lửa cũng trùng hợp với hồi chuông báo tử, cầu nguyện cho linh hồn bé nhỏ của Ánh.
Một thế giới được tạo dựng, với những sự thật được phát hiện của nó, đã nhanh chóng sụp đổ. Nhưng đây không phải là lần sụp đổ đầu tiên và duy nhất. Thế giới trong Hồi chuông tắt lửa đã sụp đổ từng mảng khi mà những hiện tượng được con người tri giác đã dẫn đến sự vỡ mộng; còn những tương giao đã biến con người thành những công cụ.
Thuộc vào dạng thứ nhất là trường hợp mối quan hệ của Bô Khương đối với người cha thiêng liêng: một lần chứng kiến hành vi bất nhẫn của vị cha cố đỡ đầu, ông đã rời bỏ nhà dòng, rơi vào khủng hoảng và mắc bệnh tâm thần, trở thành kẻ “ném đá” vào thế gian theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đó cũng là trường hợp ông M. hiện ra vừa như thủ lãnh một nhóm hoạt động bí mật, vừa như một Don Juan thời hiện đại. Con người có hành tung bí ẩn nhưng cũng có sức hấp dẫn của một người đàn ông táo bạo đó là nguồn cơn tấn thảm kịch của cả ba người phụ nữ: Agnès, em gái cha T. và cô giáo. Ba người phụ nữ này, nói cho cùng, cũng chỉ là phương tiện của M.
Việc Agnès đem vá chằng chịt những mụn vải nhỏ lên bộ áo dòng khi còn lành lặn không phải là một trò chơi vô nghĩa. Khi chia sẻ trọn vẹn cái bí mật của hai người bạn tu, cô giáo đã phát hiện ra bộ mặt thật của một con người và cũng là của một thế giới:
“Đôi khi tôi đã nghĩ rằng không được làm “thánh” thực đáng buồn. Nhưng rồi bản thân va chạm với thánh thần, chia sẻ cái gia tài giả dối, lường đảo, phụ bạc trắng trợn của chính bậc tu hành, tôi mới sáng mắt ra mà nhận thấy rằng chỉ làm “thánh” thôi, chỉ làm “thánh” dưới mắt kẻ chung quanh thôi mới thực là đáng nản”(10).
Thuộc vào dạng thứ hai là quan hệ giữa K. và nhân vật xưng “tôi” với Hạnh, một người con gái quê thật thà, dễ bị lợi dụng. Đứng về phương diện luân lý, việc cha T. triệu tập đám đông tín hữu trong buổi lễ để làm bình phong cho M. trốn thoát, vô hình trung cũng xem họ như là công cụ.
Thật ra, những nhân vật của Hồi chuông tắt lửa không phải không có ý hướng và nỗ lực đi tìm và xây dựng những mối tương giao nhân bản. Thoạt đầu, giữa nhân vật xưng “tôi” và cô giáo đã tìm thấy một sự đồng cảm trong tình cảnh của những người ở dưới vực sâu:
“Người ta có thể xuống tới nhiều chặng thất vọng khác nhau. Riêng tôi, đứng ở nấc thang chót bắc xuống vực tuyệt vọng, thấy ông quơ tay tìm tòi dưới đáy vực, ngại gì một víu tay đối với ông. Chúng ta đã tới đáy: sự thực không có gì lạ ngoài cô đơn và lạnh lẽo!”(11).
Không phải ngẫu nhiên mà người đàn bà này có thể viết cho người-tình-một-đêm của mình lá thư để trút hết uẩn khúc của lòng mình:
“Chia sẻ trọn vẹn sự bí mật đời tôi đối với ông, tôi không cảm thấy mất mát điều gì. Trái lại nỗi cô đơn của lòng tôi như một vết dầu. Đã từ lâu, vết dầu đó cứ lần lần thấm sâu vào từng ngõ ngách trong cơ thể tôi. Đã từ lâu tôi đi trong đêm tối như một người tù ánh sáng. Đã từ lâu tôi không còn thấy hoả ngục nơi người khác: Tôi đã gặp nó ngay trong nỗi cô đơn của hồn tôi. Ông cũng vậy, phải không ông?
“Vậy thì, câu chuyện kể trong đêm giữa hai người tù ánh sáng vẫn còn mang nguyên vẹn sự bí mật tuyệt vọng của nó…”(12).
Hai chủ đề “Con người bị kết án phải cô đơn” và “Hoả ngục chính là kẻ khác” trong tác phẩm Jean-Paul Sartre đã được kết hợp trong một cảnh ngộ, qua một lời tự bạch. Tại sao gọi đây là “sự bí mật tuyệt vọng”? Phải chăng bởi vì đây là bí mật không thể hoá giải, và nếu bí mật được hoá giải có nghĩa là một thế giới sẽ sụp đổ.
Lần đầu tiên hình ảnh về màu lửa cháy báo hiệu cho sự hủy diệt đã xuất hiện ngay từ cuối chương hai của cuốn tiểu thuyết:
“Lúc tôi đọc xong lá thư của cô giáo, mặt trời đã đổ dưới rặng tre và buổi chiều là cả một đám cháy. Đám cháy ấy đang chuyển màu trước mắt tôi: từ đỏ thẫm, xám, lẩn màu cứt sắt. Thế rồi cái đám tàn tro kia bay mịt mù lên không gian, phủ kín bầu trời quang đãng. Đột nhiên trong một phút, toàn thân tôi chết cứng, tay chân không thể nào co ruỗi được như thể có một thứ băng giá nào đã làm tê liệt các động mạch”(13).
Cô giáo không phải là người muốn tạo ra đám cháy. Cô vẫn muốn nuôi giữ bí mật, có thể vì đó là kỷ niệm thiêng liêng của cô, cũng có thể vì cô không muốn nó cản trở con đường trở về cuộc sống bình thường trong quan hệ với K. Cô tin vào sự dàn xếp của cha T. sẽ giúp cô thoát khỏi tình trạng hiểm nghèo hiện tại.
Nhưng cái giá mà cô giáo, cha T. và cả M. phải trả cho những toan tính của mình thật quá đắt. Chính họ đã đẩy thằng Ánh vào tâm điểm của xung đột. Ánh vừa là đầu mối kết nối hai cực của một thế giới, vừa là tiêu điểm tranh chấp của hai cực đó: một cực là mưu mô, thủ đoạn; một cực là cả tin, ngờ nghệch. Khi điểm kết nối này bị phá hủy, và thế giới không còn đặt nền tảng trên những tương giao nhân bản mà là nguồn cơn của “kinh sợ và bàng hoàng”, thì thế giới ấy phải sụp đổ.
Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa đã sụp đổ vì đặt trên nền tảng của sự giả tạo và giả dối, vì những thiên kiến và ngộ nhận không thể hoá giải. Thế giới bị sụp đổ còn vì thiếu những tương giao nhân bản, con người không phải là mục đích cao nhất mà là phương tiện của nhau. Cuối cùng, thế giới phải sụp đổ vì những mặt nạ lần lượt bị bóc trần và bi đát thay, vì cái ác, sự sa đọa không bị trừng phạt mà sự ngây thơ, vô tội bị huỷ diệt thay cho cái ác.

MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC CỨU CHUỘC
Trong một bài viết về Hồi chuông tắt lửa ngay sau khi tác phẩm ra đời và nhận được sự hồi đáp không mấy thuận lợi của độc giả, Nguyễn Văn Trung rất nhạy cảm khi nói đến chủ đề cứu chuộc của tác phẩm: “Tôi có cảm tưởng là tác giả muốn thể hiện một ý tưởng thần học về sự “cứu chuộc” qua hai nhân vật: Bô Khương và đặc biệt là linh mục T.”(14). Sự hy sinh của Bô Khương được nhìn nhận như “một sự “cứu chuộc” vô ý thức vì nạn nhân không biết được ý nghĩa việc làm của mình. Bô Khương gợi lên hình ảnh con chiên trong sạch bị hy sinh để đền tội cho mọi người trong Cựu ước”(15).
Không phải ngẫu nhiên mà Thế Nguyên đưa vào văn bản thiên truyện đoạn sách Thánh, qua giọng đọc của thầy già xứ, nói về việc dân chúng Israel mỗi nhà hiến một con chiên hay một con dê để ăn thịt trong ngày Chúa vượt qua. Cũng chính tác giả ghi chú thích ở cuối trang thay cho nhà xuất bản:
“Theo Cựu ước, lễ ăn thịt chiên là để kỷ niệm ngày giải phóng dân Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đằng khác, việc hiến dâng còn mang ý nghĩa như một sự Cứu chuộc, một bí tích: mọi tội ác của người ta sẽ đổ lên đầu con chiên đực trong sạch kia và khi con vật được thiêu huỷ đi, nó mang luôn theo tất cả những vết tích nhơ bẩn đó”(16).
Ý tứ ở đây gắn liền với sự hy sinh của hình tượng Bô Khương, bị mấy đứa học trò thủ vai quân Du-dêu lùng bắt ngoài chợ, vậy là đã rõ.
Theo Nguyễn Văn Trung, trái với sự hy sinh mà không biết mình hy sinh của Bô Khương là thái độ hy sinh có ý thức và có chủ tâm của cha T. Nhà phê bình viết:
“Thằng Ánh là kết quả của những oan trái, tội lỗi và cái chết vô tội của nó càng nói lên sự oan trái, tình cảnh tội lỗi của những con người. Nhưng sự có mặt của nó cũng như những hành động của cô giáo là yếu tố đưa đến ngộ nhậnmà cha T. sẽ phải chịu đựng, một sự chịu đựng có ý thức biết trước, cố ý, vì muốn đảm nhiệm một thái độ linh mục đích thực giống thái độ của Chúa Kitô trên thánh giá: gánh lấy những tội lỗi, oan trái của cuộc đời […].
“Chỉ mình cha T. nắm những bí mật của một cuộc đời đó dù biết có thể bị hiểu nhầm và sẽ phải chịu đựng những đau khổ vì sự hiểu nhầm đó, một hiểu nhầm đụng tới chính điều làm cho chức linh mục được tôn kính là đức trinh khiết. Thật cao cả biết bao thái độ của cha T. trước những lời tố cáo của K. Ngài không oán giận mà còn tha thứ, cầu nguyện cho những người hiểu nhầm mình. Ngài cũng không phán đoán họ vì phải chăng phán đoán là kết án và bao giờ cũng là sai lầm khi phê phán đụng tới những lý do thuộc về lương tâm của một người. Đó cũng là thái độ của Chúa Yêsu trên thánh giá đối với những kẻ đóng đinh Ngài”(17).
Mặc dù chia sẻ phần nào sự đánh giá của Nguyễn Văn Trung đối với những thiện ý của nhân vật T., chúng tôi cho rằng xét cho cùng thì cha T. vẫn không phải là biểu tượng của sự cứu chuộc trong Hồi chuông tắt lửa. T. không phải là người duy nhất nắm giữ những bí mật của M., cũng không phải là người biết rõ tất cả mặt trái của M., so với cô giáo. Nhưng trước một con người mà ông biết là sa đọa, liệu lương tâm ông có yên ổn khi ông không tỏ ra một biểu hiện nào để ngăn cản tội ác. Dù việc M. cướp thằng Ánh trên tay cô giáo dẫn đến cái chết thảm khốc của nó là việc ngoài ý muốn mà T. không lường trước, nhưng ông vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về tấn thảm kịch ấy.
Tuy vậy, đó chưa phải là lý do chủ yếu để ta đặt dấu hỏi về “đức trinh khiết” của cha T. Điều chủ yếu khiến ta đặt dấu hỏi về điều đó chính là thái độ của cha T. trong quan hệ với Bô Khương. Phải chăng Bô Khương cũng chỉ là một phương tiện trong những toan tính của cha T.? Việc Bô phải đền tội cho người khác trong ngày thứ sáu tuần thánh phải chăng cũng là một vở kịch nhằm che đậy một âm mưu chính trị dưới lớp vỏ tôn giáo? Và như vậy, phải chăng chủ đề “cứu chuộc” đã bị nhìn nhận trái với tinh thần nhân bản?
Chính vì vậy mà theo chúng tôi, biểu tượng của sự cứu chuộc trong Hồi chuông tắt lửa không phải là Bô Khương, càng không phải là cha T. Biểu tượng đó chính là Ánh, dù thằng bé chưa ý thức đầy đủ về số phận của mình, càng không thể tự cắt nghĩa về cái sống và cái chết của mình. Ánh chính là biểu tượng của “đức trinh khiết” mà tất cả người lớn có thể soi vào. Ánh đã làm vật hiến tế cho những toan tính của người lớn. Nó phải trả món nợ tinh thần cho những kẻ đã tạo ra hình hài và linh hồn nó bằng chính mạng sống của nó. Cái chết của Ánh vừa như một phi lý của hiện sinh, vừa có ý nghĩa như một cứu rỗi cho những tội ác, sa đọa của người lớn.
Một chi tiết có sức ám ảnh là hình ảnh con búp bê bằng len thắt nơ đỏ mà Agnès để lại đã làm chứng cho tấn bi kịch của người bạn gái cô giáo và rồi của chính cô. Có thể xem Ánh là hoá thân của con búp bê mà ba người phụ nữ cả tin này muốn sở hữu cho riêng mình. Đứa bé có tật hay ngủ gục và học hành chểnh mảng đó thật ra là một “thiên sứ” mà Thượng đế gửi xuống để cứu chuộc cho những kiếp người tội lỗi.
Có thể nói Hồi chuông tắt lửa là một tác phẩmpha trộn chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện sinh và kỹ thuật miêu tả hiện tượng luận.Sự pha trộn đóthể hiện sự giằng co trong tâm thức của bản thân tác giả. Trên hành trình tư tưởng và trong sáng tác nghệ thuật, Thế Nguyên đã tìm đến hiện tượng luận như một sự hoà giải giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện sinh, rồi từ hiện tượng luận về hiện sinh đi tới một hiện tượng luận về xã hội, nhưng thời cuộc không cho phép ông đi đến cùng chọn lựa nghệ thuật của mình. Càng về sau, nhà văn càng mạnh mẽ phê phán những biểu hiện của điều mà ông gọi là “tính chất sì-nốp-bít” (thói học đòi làm sang) của xã hội miền Nam(18). Ông bài bác thứ “văn chương hiện sinh” theo đuôi, làm dáng, đồng thời đề cao văn chương hiện sinh dấn thân, trong đó con người phản tỉnh về thân phận của mình, thông qua những kinh nghiệm sống trong một hoàn cảnh cực đoan của đất nước. Hoạt động thực tiễn tạo điều kiện cho Thế Nguyên tìm thấy ở phong trào dân tộc một điểm kết nối giữa tinh thần xã hội và đức tin Kitô giáo.
Nhưng rồi chính Hồi chuông tắt lửa và tác giả của nó cũng không tìm được sự dung hợp và chỗ đứng trong lịch sử. Nhà văn đã chịu chung thân phận với nhân vật của mình, thân phận con người ở “giữa hai làn đạn”.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5, tháng 5-2011.
_________________

(2), (9), (10), (11), (12), (13), (17) Thế Nguyên: Hồi chuông tắt lửa, in lần thứ ba, NXB Trình bầy, Sài Gòn, 1969, tr.8, 107, 34, 28, 35, 36, 96. Có tham khảo bản in Hồi chuông tắt lửa trên tập san Văn, số 6, Sài Gòn, ngày 15-3-1964.
(3), (5), (8) Trần Thái Đỉnh: Hiện tượng học là gì? NXB Hướng mới, Sài Gòn, 1968, tr. 99, 61, 29.
(4) Merleau-Ponty: Phénoménologie de la perception, Gallimard, Paris, 1945, tr.491.
(6) Lê Tôn Nghiêm: Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học Husserl về cuối đời, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1, Sài Gòn, ngày 01-6-1969, tr.83.
(7) Phạm Công Thiện: Hiện tượng học về hiện tượng học của Husserl, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1, Sài Gòn, ngày 01-6-1969, tr.24.
(14), (15), (16) Nguyễn Văn Trung: Hồi chuông tắt lửa, trong sách Nhận định, tập VI, NXB Nam sơn, Sài Gòn, 1972, tr.267, 268. Bài viết này đã từng được NXB Nam sơn in kèm theo sách Hồi chuông tắt lửa để “thanh minh” cho Thế Nguyên.
(18) Thế Nguyên: Nghĩ về “văn chương hiện sinh” hay là tính chất “sì-nốp-bít” của xã hội miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6, Sài Gòn, 1968, tr.85.




Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

ĐỨNG GIỮA ĐỒNG KHÔNG - VŨ HỮU ĐỊNH




một bầy sáo nhỏ qua sông
một em tôi đã cầm lòng đi xa
như con sông nhỏ thật thà
sớm hiu hắt tạnh, chiều sa mưa nguồn

một bầy sáo đã đi luôn
một em tôi đã để buồn lại đây
con chim quyên đã lạc bầy
xuống sông vọc nước đợi ngày xế ngang

một bầy sáo nhỏ bay hoang
một em tôi đã bỏ làng đi xa
tôi ngu ngơ giữa chiều tà
em đi để lại mình ta giữa đồng.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

NHỮNG CON TEM TRÊN VÁCH - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Ngày trước trẻ con ở làng quê không biết chơi tem. Năm thì mười họa, khi gia đình được báo lên trụ sở xã nhận thư người thân, thì con tem đã bị bóc trụi, chỉ còn trơ dấu hồ dán. Ngoài thị trấn không có bưu trạm, hễ nghe trong xóm có người sắp sửa đi Sài Gòn làm ăn, lối xóm lại truyền tin nhau viết thư rồi gửi thêm mấy đồng nhờ người ấy vào trong đó mua tem để bỏ vào thùng. Thư gửi đi rồi, chờ mấy tháng trời không thấy hồi âm là chuyện thường. Thời chiến, con người còn lạc mất nhau, huống hồ là một lá thư!

Lần đầu tiên tuổi thơ tôi nhìn thấy một con tem là ở nhà người bác họ hàng xóm. Một người con gái của bác, bị gia đình ép duyên, đã bỏ nhà trốn đi ngay đêm trước lễ đính hôn. Chị vào miền Nam mưu sinh, không để lại một tin tức gì để người đàn ông mà chị từ chối có thể dò tìm. Nhưng thương cha nhớ mẹ, vài ba tháng chị lại gửi một lá thư về địa chỉ người bạn gái ngoài thị xã nhờ trao tận tay cho gia đình.

Bác tôi ân hận thì đã muộn. Nhưng những cánh thư thưa thớt cũng làm le lói lên trong lòng bác niềm hy vọng rằng con gái mình đang có cuộc sống yên lành và một ngày nào đó sẽ tìm đường trở về quê quán. Mỗi lần nhận thư chị, bác lại gọi tôi sang đọc chầm chậm cho bác nghe. Trong thư, người viết hỏi thăm gia đình, an ủi cha mẹ thì nhiều mà chẳng bao giờ hé lộ về tình cảnh hiện tại của bản thân mình. Người bác thật thà và đứa bé khờ dại là tôi làm sao đọc được nỗi uất nghẹn chưa hề nguôi ngoai ẩn giấu giữa các dòng chữ. Những lá thư không ghi nơi chốn và ngày tháng, con dấu bưu điện thì mờ, duy có hình ảnh trên con tem hiện ra rõ ràng mà thôi.

Hồi đó cả bác và tôi đều chưa hiểu rằng những hình ảnh ấy chẳng có mối liên hệ gì với nơi chốn gửi thư. Vậy nên bác cứ phỏng đoán theo trí tưởng tượng của mình. Này là bãi biển Hà Tiên. Này là thác Gougah Đà Lạt. Này là Thảo cầm viên Sài-Gòn. “Chắc chị Sáu mày đi chơi đến mấy chỗ này rồi gởi thư về cho bác đây!”. Có lần nhận con tem in hình chiếc tàu lửa với dòng chữ “Khánh thành việc hoàn tất trùng tu thiết lộ xuyên Việt”, bác tôi lại nghĩ: “Mai này chị Sáu mày sẽ được đi xe lửa về nhà”. Một lần khác, con tem vẽ phong cảnh một nhà máy đang nhả khói, bên cạnh những ngôi nhà khang trang có vườn tược bao quanh, lại in thêm ba chữ mà cả bác và tôi đều không rõ nghĩa: khu trù mật. Bác bảo tôi đi hỏi thầy giáo. Nghe thầy giải thích, bác mừng rỡ ra mặt: “Chị Sáu mày sống ở chỗ sung túc, đông đảo như vầy sướng hơn ở quê mình nhiều”.

Những lá thư đọc xong, bác lại cẩn thận xếp vào cái tráp để trên đầu giường. Còn các con tem thì bác gỡ ra dán lên bức vách gỗ cạnh chỗ nằm, ngang tầm mắt, để mỗi ngày, sau khi đi làm đồng về, bác lại nhìn vào đó mà tưởng nhớ đứa con gái bất hạnh không biết đang lưu lạc nơi chân trời góc bể nào.

Nhưng bộ sưu tập tem của bác tôi dừng lại nửa chừng. Một bệnh dịch tai ác đã cướp đi chị Sáu giữa tuổi thanh xuân nơi đất lạ quê người. Hơn hai tháng sau khi chị đã yên nghỉ dưới mồ, những người dân nơi chị tá túc mới báo tin được cho gia đình. Năm đó chiến tranh lan rộng, giao thông gián đoạn, bác tôi phải chờ đến ngày hoà bình mới đưa được hài cốt chị về lại quê nhà.

Bây giờ bác tôi cũng đã mất. Những con tem trên vách của bác lâu năm không ai ngó ngàng, bị mối ăn, đã rơi rụng dần. Tôi đi chợ tem, tình cờ mua được mấy con tem cũ, chợt nhớ và ghi lại câu chuyện này.

2002.


Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

ÁO LỤA VÀNG - TRẦN DZẠ LỮ



Từ em mặc áo lụa vàng
Nắng nghiêng ngả phố,mưa bàng hoàng theo…
Từ anh một cõi hắt hiu
Cũng nghe sửng sốt bao chiều nhớ thương
Lụa ơi sao cứ bồn chồn
Đêm đêm anh mở cửa hồn… đợi em !
Từ em vén mớ tóc tiên
Gió mê muội gió, anh điên đảo…đời !
Mắt em là ánh sao trời
Tàn khuya anh chết…tuyệt vời biết không ?
Lâu rồi ôm mối tình câm
Biết chắc Vực Thẳm …vẫn xăm xăm tìm…

Trần Dzạ Lữ
( SàiGòn tháng 7 năm 2011)

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIỀN 1975 - 2011 (KÌ 81)



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

811 - Chu Quang Đức
THẦY DẠY KHÔNG THỂ CẦM PHẤN
Giáo viên sinh 1984 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2011).
Chịu ảnh hưởng di chứng CĐDC từ bố bộ đội thời chống Mỹ ở miền Nam, sinh ra người thấp bé, chân bị liệt không đi được, cánh tay bị rút ngắn khiến không cầm được vật dụng.

Dù vậy vẫn nỗ lực học hành thành đạt, thi đậu ĐH Sư phạm Hà Nội ngành tin học. Tuy nhiên ra trường do thể hình bị khuyết tật quá nặng nên không được trường nào nhận về.

Không nản chí quay về nhà mở lớp dạy tin học tại gia ở huyện Mê Linh. Ngồi xe lăn vẫn dạy tốt tuy không thể cầm phấn viết bảng giảng bài như người thường song bù lại đã có máy tính “công cụ vạn năng” giúp thay thế hoàn hảo.

Từ đó nhanh chóng nổi tiếng thầy giỏi trò kéo đến học đông đảo đạt kết quả thi đậu nhất huyện hơn cả học ở trường phổ thông chính quy.

812 - Đào Thị Kiều
CHẾT 6 CON NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM
Nông dân sinh 1951 tại Đồng Nai. Sống ở Đồng Nai (2011).
Thuở nhỏ gia đình sống gần sân bay Biên Hòa nên có thể đã bị ảnh hưởng CĐDC lúc nào không biết. Đã vậy năm 20 tuổi lấy chồng đi kháng chiến chống Mỹ sau đó chống nạng trở về – với một viên đạn cùng 8 mảnh bom còn nằm trong thân thể - nên cũng không biết có dính CĐDC hay không.

Hậu quả là năm 1970 sinh con gái đầu lòng nằm liệt một chỗ chỉ ú ớ kêu khóc chứ không nói được, đến nay 41 tuổi vẫn còn sống trong tình trạng như vậy, thân thể toi tóp cân nặng hơn 10kg là cùng.

Sau đó sinh tiếp 6 con nữa đều dị dạng và lần lượt qua đời khi chỉ mới được 17 ngày hoặc 7 tháng rưỡi hoặc 19 tháng, lâu nhất có đứa sống đến 37 tuổi rồi cũng qua đời. May mà đứa cuối cùng con gái sinh năm 1989 thể trạng tương đối bình thường.

Nuôi con bệnh nặng như thế mà nhà quá nghèo – chồng làm ruộng, vợ làm công nhân đập đá - không còn biết xoay xở thế nào cho con đỡ bệnh hơn. Có khi trời mưa nhà dột khiến 2 vợ chồng phải đứng suốt đêm giăng tấm ny lông che mưa cho bầy con bệnh tật nằm thiêm thiếp.

Nỗi đau mất 6 con trong tình cảnh cùng quẫn quá bi thảm như thế đẩy người mẹ đến 3 lần… tự tử song được cứu sống kịp thời. Lần đầu uống thuốc rầy được hàng xóm đưa đi bệnh viện súc ruột. Lần thứ hai thì chồng phát hiện ngăn cản. Lần thứ ba cũng chồng nghi ngờ khuyên can tới mức phải quỳ xuống… lạy vợ “Anh lạy em, em và con đừng chết!”.

Đành vẫn sống với thêm bao nỗi đời đau thương oan nghiệt tiếp tục đổ xuống: Năm 2004 chồng qua đời chưa được bao lâu, nhà vắng người đưa đến thảm họa 2 đứa con gái bệnh hoạn nằm ở nhà bị một kẻ xấu… hãm hiếp (sau đó bị bắt bỏ tù 14 năm đã chết trong tù)!

Bây giờ chỉ còn niềm an ủi cuối cùng là con gái út lên đại học sắp tốt nghiệp: “Giờ tôi không tự tử nữa đâu vì con gái út là lẽ sống của tôi.”

813 - Ea Sola
ĐIỆU MÚA CHIẾN TRANH
Nữ biên đạo múa Viêt kiều Pháp tên cũ Nguyễn Thủy sinh tại Gia Lai. Sống ở Pháp (2011).
Cha VN, mẹ Pháp (gốc Ba Lan – Hungary), sinh ra và lớn lên ở miền Nam vào thời cao điểm chiến tranh chống Mỹ.

Năm 1974 theo gia đình qua Pháp định cư.

Học múa và kịch nghệ tại Paris từ cuối những năm 1970. Sau đó có thời gian làm nghệ sĩ biểu diễn đường phố múa hiện đại và kịch nói.

Năm 1989 quay về lại VN bỏ ra 5 năm nghiên cứu nghệ thuật cổ truyền VN trong đó chú trọng múa và âm nhạc truyền thống.

Từ nguồn cảnm hứng dân tộc đó đã sáng tác nhiều vở diễn múa hiện đại lồng trong nội dung đề tài mang âm hưởng chiến tranh – cuộc chiến tranh mà mình từng là chứng nhân – gây tiếng vang vì tính sáng tạo độc đáo, mới mẻ và sâu sắc. Gồm “Hạn hán và cơn mưa” 1995, “Ngày xửa ngày xưa” 1997, “Cánh đồng âm nhạc” 1998, “Thế đấy thế đấy” 1999, “Khúc cầu nguyện” 2000, “Ký ức – Hạn hán và cơn mưa” 2005, “Đường bay” 2008, “Hình hài trắng” 2009…

Chủ đề chiến tranh như một ẩn dụ nghệ thuật trở di trở lại nhiều ở đây bắt nguồn từ hồi ức không thể quên từ thời thơ ấu: “Tôi đã lớn lên trong một cuộc chiến tranh. Tôi từng bị sốc vì chiến tranh…”

Nhưng chiến tranh hiện hình qua đây bàng bạc bóng bẩy như những ký ức nhắc nhở mọi người đừng bao giờ “tái phạm” nữa: “Vấn đề là làm thế nào để những ký ức về chiến tranh có thể khơi dậy ý thức của con người về giá trị của hòa bình và thái độ kiên quyết nói KHÔNG với bạo lực… Những cảm hứng về sự tổn thương của một dân tộc trong chiến tranh được gắn liền với tiếng nói chống bạo lực – một vấn đề mang tính toàn cầu.”

Đặc biệt tất cả tác phẩm trên đều được trình diễn ra mắt trên quê hương VN rồi sau đó mới đưa đi công diễn Châu Au như lời cảm tạ của một đứa con: “Tôi là người con lai luôn mang trong mình những suy nghĩ băn khoăn về bản thân, mảnh đất nơi tôi sinh ra, nơi tôi đã ra đi và lại quay về…. Bởi ký ức VN vọng lại trong tôi là tiếng hát tuyệt đẹp, sâu thẳm. Tôi vừa muốn nghe lại vừa muốn hiểu tại sao nó đẹp như thế… Ngày trước khi rời VN tôi nức nở. Khi trở về tôi cũng nức nở. Còn bây giờ tôi không khóc nữa. Vì tôi biết nếu có ra đi tôi cũng sẽ lại trở về.”

815 – Heidi Neville-Bub
“NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẴNG”
Công dân Mỹ gốc Việt tên cũ Mai Thị Hiệp sinh 1968 tại Đà Nẵng. Sống ở Mỹ (2002).
Mẹ buôn bán ở chợ Đà Nẵng đã có chồng và 3 con nhưng chồng bỏ đi theo Việt Cộng nên mẹ ở lại phải làm sở Mỹ rồi lấy lính Mỹ để có tiền nuôi con mới sinh ra mình. Tuy nhiên sinh ra thì người cha lính Mỹ về nước bỏ rơi mấy mẹ con.

Đến trước ngày giải phóng miền Nam, mẹ sợ có con lai Mỹ bị liên lụy nên đem con cho cô nhi viện ở Đà Nẵng, sau đó đứa con được đem vào Sài Gòn theo chiến dịch Babylift đưa qua Mỹ.

Tại Mỹ được một phụ nữ Mỹ độc thân nhận làm con nuôi. Sống tại bang Tennessie nổi tiếng phân biệt chủng tộc (nơi phát sinh tổ chức K.K.K) nên mang mặc cảm về màu da. Đã vậy, bà mẹ nuôi rất khó tính có ý muốn cắt đứt mối quan hệ huyết thống gốc Việt cũ của mình, nói dối gia đình cũ của mình đã chết hết, thậm chí khi có tin về mẹ ruột ở VN đã giấu không cho con nuôi biết.

Sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm lại bị mẹ nuôi o ép quá đáng tới mức sinh ra trầm cảm có lúc tính quyên sinh. Nhờ bạn bè an ủi giúp đỡ mới quyết định bỏ nhà ra ngoài sống riêng tự kiếm việc làm nuôi thân.

Năm 1992 lấy chồng bạn học cũ đi lính hải quân, sinh 2 con gái.

Bắt đầu tìm hiểu về gốc gác, lai lịch mình, từ từ may mắn năm 1996 được bạn Việt kiều giúp đỡ tìm liên lạc được với mẹ ruột còn sống ở Đà Nẵng. Năm 1997 trở về Đà Nẵng gặp lại mẹ ruột và 3 anh chị cùng mẹ khác cha.

Cuộc đời lưu lạc cùng hành trình tìm về quê mẹ đã được nhà làm phim Mỹ quay thành bộ phim tài liệu mang tên “Người con gái Đà Nẵng” từng được đề cử tranh giải Oscar 2003 hạng mục phim tài liệu xuất sắc.

816 - Hoàng Xuân Hùng
TỪ CHỐI CHÍCH MORPHINE GIẢM ĐAU
Nhà kinh doanh nhỏ sinh 1953 tại Hà Nam. Sống ở Hà Nam (2011).
Năm 17 tuổi đi bộ đội vào Nam chiến đấu.
Sau 1975 tiếp tục được điều qua chiến trường Campuchia. Tại đây năm 1979 giẫm phải mình bị cưa cụt 2 chân lên tận trên đùi không lắp chân giả được.

Cuối năm 1980 được đưa về trại thương binh ở quê nhà Hà Nam. Phải tập đi lại bằng cách vịn hai tay vào 2 chiếc ghế con để tự lo mọi sinh hoạt cá nhân. Tình cảnh đó khiến một nữ điều dưỡng cùng quê ở trại sinh lòng khâm phục rồi yêu thương đến chỗ tự nguyện kết hôn với người thương binh tàn phế nặng bất chấp bao lời dị nghị của bà con, hàng xóm. Lương thương binh cộng nữ điều dưỡng không đủ làm đám cưới may nhờ đồng đội, bạn bè thông cảm cho vay tất cả 7.000 đồng (thời này) lo liệu đám cưới.

Bắt đầu từ đó đối đầu với thực tế cuộc sống khắc nghiệt 2 vợ chồng phải tự lực cánh sinh, sau đó còn nuôi 2 con trai ăn học nữa. Được giúp đỡ giới thiệu cho làm đại lý bia rồi tiến lên phát triển thêm đại lý cám heo, đại lý xay xát gạo… Bản thân tập đi và lái xe ba bánh đi bỏ mối hàng không nề hà cực nhọc ngày đêm.

Bên cạnh đó còn vết thương cũ (mỏm xương cụt nơi điểm cưa chân) gặp khi trái gió trở trời luôn gây đau nhức tận cùng. Được bác sĩ cho phép chích morphine giảm đau nhưng sợ quen dùng thành nghiện sẽ khiến bản thân mình tàn tạ làm khổ thêm vợ con nên kiên quyết không dùng mà tự nghiến răng gồng mình chịu đựng cho qua cơn!

Dần dà thuận vợ thuận chồng tát biển Đông, nhờ chăm lo làm ăn buôn bán mà cuộc sống ngày càng dễ thở. Nuôi được 2 con trai đều đã tốt nghiệp đại học với đầy lòng tự hào về bố mình: “Từ bé đến lớn chưa bao giờ tôi có mặc cảm về bố mình. Bố có thể làm được mọi việc như những người bố bình thường khác…”

817 - - Hoàng Xuân Giang
TRĂNG TRỐI GỬI LẠI QUÊ HƯƠNG
Nhạc sĩ Việt kiều Canada sinh 1946 tại Huế – Mất 1994 ở Canada (49 tuổi).
Cháu ruột nhà bác học Hoàng Xuân Hãn, em ruột nhà thơ Hoàng Xuân Sơn (Canada).
Trước 1975 học đại học ở Sài Gòn, cùng anh Hoàng Xuân Sơn tham gia hoạt động trong nhóm văn nghệ sinh viên Văn khoa Sài Gòn thành lập Quán Văn, điểm xuất phát âm nhạc Trịnh Công Sơn – Khánh Ly.

Sau 1975 qua định cư tại Canada mới bắt đầu viết nhạc theo dòng ca khúc lãng mạnh đầy chất nghệ sĩ Huế. Đăng nhạc, thơ văn – cả tranh nữa - trên báo hải ngoại.

Bắt đầu thời Đổi mới cuối thập niên 1980 là một trong những người quay về VN sớm nhất tính chuyện phát triển du lịch. Vì vậy khi trở lại Canada đã bị giới chống Cộng hô hào “tẩy chay” không giao du, không phổ biến tác phẩm vì tội “nối giáo Cộng sản”!

Dù vậy năm 1994 khi biết mình mắc bệnh ung thư gan nặng không qua khỏi đã quyết định quay về nước – đặc biệt quê nhà Huế thân thương - một lần nữa để thăm bạn bè, vui chơi hoài niệm một thời tuổi trẻ sôi nổi. Nhân đó in tập nhạc đầu tay cũng là cuối cùng 20 bài nhan đề “Hãy nhìn tôi như thế” (Trịnh Công Sơn viết lời tựa).

Họp mặt đầm ấm cùng bạn bè, kỷ niệm mà không cho ai biết mình bệnh… sắp chết rồi đến thời điểm “chuông nguyện hồn ai” thì an nhiên quay lại Canada chấp nhận cái chết định mệnh đã an bài.

Với lời từ biệt cuối cùng đã để lại trên quê hương: “Hãy nhìn tôi như thế vì đời lãng quên tôi, vì tôi nhỏ bé, vì tôi sẽ biến mất trước khi cuộc đời vội vã nhớ lại như một thoáng ăn năn vô vị…”

818 - Hồ Điệp
GIỌNG NGÂM MẤT TÍCH
Nữ nghệ sĩ ngâm thơ sinh 1930 tại Hà Nội – Mất tích 1987 ở Campuchia (58 tuổi).
Từng là cô đầu hát ca trù ở miền Bắc nên sau khi di cư vào Nam 1954 nhanh chóng trở thành giọng ngâm thơ nổi tiếng miền Nam trong chương trình tiếng thơ Tao Đàn (do cố thi sĩ Đinh Hùng sáng lập) trên sóng phát thanh quốc gia kéo dài gần 20 năm.

Năm 1987 cùng một nhóm 11 người vượt biên theo đường bộ qua Campuchia song từ đó mất liên lạc, tin tức luôn!

Đáng chú ý trong số con cái sau này có con trai lớn Nguyễn Quốc Quân (sinh 1953 tại Hà Nội) cũng đã vượt biên theo đường bộ qua được Thái Lan rồi vào Mỹ từ năm 1981. Học đại học tốt nghiệp tiến sĩ, năm 2002 gia nhập đảng Việt Tân chống Cộng ở Mỹ giữ chức vụ “Trung ương” và đến năm 2007 được đưa về TPHCM âm mưu tổ chức gây rối chống chế độ VN hiện hành thì bị bắt đưa ra tòa lãnh án 6 tháng tù. Mãn án năm 2008 bị trục xuất về lại Mỹ.

819 - Hồ Hữu Tường
THỜI NÀO CŨNG TÙ!
Nhà tư tưởng, hoạt động chính trị sinh 1910 tại Cần Thơ – Mất 1980 (71 tuổi).
Học Pháp trở về (bạn của triết gia Jean-Paul Sartre) tham gia hoạt động chính trị từ thời Pháp, từng theo cộng sản Đệ tứ Quốc tế chống Pháp nên bị Pháp bắt giam đày ra Côn Đảo.

Còn viết báo viết sách với nội dung chính trị, nổi tiếng với bộ truyện “Phi Lạc sang Tàu” viết theo phong cách văn hài.

Sau 1954 từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thay vào bằng lập thuyết chủ nghĩa dân tộc, đề xuất miền Nam theo thể chế trung lập không cộng sản không tư bản. Tiếp tục hoạt động chống chế độ Ngô Đình Diệm nên năm 1957 bị bắt ra tòa tuyên án tử hình, sau được quốc tế can thiệp nên lại đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Năm 1964 chế độ NĐ Diệm bị lật đổ mới được thả về. Năm 1965 đắc cử dân biểu Hạ viện vào phe đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, chủ trương kêu gọi Liên Hợp Quốc bảo trợ cho miền Nam trung lập. Sau đó nghiêng về ủng hộ giới Phật giáo, làm viện phó ĐH Vạn Hạnh.

Ngày 30.4.75 từ chối đi di tản vì tin mình là người “yêu nước” không có gì phải lo lắng.

Nhưng thực tế không hoàn toàn như thế khi năm 1977 bị bắt do nghi ngờ có tham gia hoạt động chống chính quyền mới. Đưa ra giam ở Bình Thuận, cho trồng coi vườn thuốc nam của bệnh xá.

Tuổi già sức yếu qua bao lần gian nan tù tội lại thêm bệnh hiểm nghèo (xơ gan) nên khi thấy khó lòng qua khỏi, trại giam mới cho về. Tuy nhiên xe đưa về chỉ còn cách nhà 100m thì… trút hơi thở cuối cùng trên xe! Trong lúc đó vợ lại đang trên đường vào trại thăm nuôi, còn con trai nằm tù tội vượt biên bị bắt ở Bến Tre.

820 – Hồ Mơ
CHA NUÔI CỦA “MA RỪNG”
Nông dân sinh 1937 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).
Người dân tộc Pa Cô (nên còn tên Am Khanh) thời trẻ đi bộ đội đánh Mỹ từ năm 1956, được phong “Dũng sĩ diệt Mỹ” 4 lần. Năm 1969 bị thương nặng được đưa ra Bắc chữa trị cưa mất một chân.

Sau chiến tranh về quê ở bản Prin gần biên giới Lào làm ruộng rẩy. Vợ mất sớm để lại 2 con.

Một mình “gà trống nuôi con” đã cực nhọc rồi mà lòng lại nảy sinh tình thương đối với đám trẻ mồ côi trong bản. Một phần vì nhớ thủa nhỏ mình cũng từng mồ côi mẹ và phần khác nhờ đi bộ đội có được học tập kiến thức nên thương trẻ em người dân tộc mồ côi cha mẹ ở trong bản theo hủ tục lạc hậu thường bị xem là “ma rừng” phải chôn sống theo cha hoặc mẹ vừa qua đời. Vì thế đã tìm mọi cách để xin – hoặc thậm chí “cướp” lấy cháu ôm bỏ chạy! – về nuôi.

Cứ như thế đã nuôi được 8 em, có em còn sơ sinh phải bồng đi xin cho… bú ké sữa mẹ! Lớn lên còn lo dựng vợ gả chồng cho chúng, từ đó có thêm 20 đứa cháu nội ngoại. Tất cả đều xem là “những khúc ruột của tau cắt ra, là tài sản lớn nhất đời tau đó”.

Không chỉ thế, dù chỉ còn một chân nhưng từ năm 1999 còn tự tay lầm lũi cuốc đất vác đá san đất… làm đường, mở một con đường mới thông thương buôn làng với xã lên huyện giúp bà con đi làm ruộng rẫy, vận chuyển hàng hóa đỡ vất vả. Làm ròng rã suốt 3 năm mỗi ngày từ sáng sớm đến tối mịt, về sau bà con thấy vậy hiểu ra lợi ích nên cùng chia nhau xúm vào làm phụ. Đường hoàn thành dài 3km cho ô tô có thể chạy qua, được đặt tên “tự phát” là đường Hồ Mơ!

Chưa hết, còn làm nhà ngoài bìa rừng tự nguyện đóng vai “kiểm lâm nhân dân” giữ rừng Cù Nhoi, rừng phòng hộ đầu nguồn của huyện Hướng Hóa. Song song đó còn dùng kinh nghiệm học hỏi từ bộ đội để dạy đồng bào cùng mình làm ruộng lúa nước bậc thang, trồng sắn, nuôi trâu bò…

Làm biết bao nhiêu việc vậy mà vẫn thấy chưa đủ: “Tau ước sao đừng có… ban đêm, mặt trời cứ sang hoài như ri thì làm được biết bao nhiêu là việc”!

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

HÀNG NGÀN NGƯỜI TRUNG QUỐC LAO ĐỘNG KHÔNG PHÉP Ở CÀ MÂU



Sở LĐ-TB-XH tỉnh Cà Mau cho biết, trên công trình Nhà máy đạm (NMĐ) Cà Mau (Khu Khí - Điện - Đạm Cà Mau, thuộc xã Khánh An, H.U Minh, Cà Mau) hiện có 1.056 công nhân Trung Quốc lao động không phép. Công trình do Công ty CP Khoa học kỹ thuật Ngũ Hoàng (Trung Quốc) trúng thầu xây dựng.
>> Lao động nước ngoài tràn ngập Việt Nam
Hết hạn cấp phép vẫn vô tư làm việc
Theo ghi nhận của PV Thanh Niên, lao động người Trung Quốc ở công trình NMĐ Cà Mau làm những công việc thủ công rất đông. Họ xuất cảnh sang VN làm các công việc như xây hồ, khiêng gạch, bẻ sắt…
Chiều ngày 8.8, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Văn Tiến Thanh, Phó trưởng ban quản lý dự án cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau thừa nhận, hiện công trình NMĐ Cà Mau có 1.056 lao động Trung Quốc không phép, trong đó có 607 lao động đã quá thời hạn cấp phép. Lý giải tình trạng này, ông Thành cho rằng do không tuyển được lao động người VN nên họ sử dụng lao động người Trung Quốc. Thậm chí sử dụng cả lao động không tay nghề đưa từ Trung Quốc sang.
Theo như lời ông Thanh, việc không tuyển lao động VN là do hiệu suất làm việc của lao động VN thấp so với lao động Trung Quốc. Nhà thầu lấy mặt bằng của Trung Quốc trả lương nên người VN không thích vào làm. Hiện lao động thủ công được trả khoảng 100.000 đồng/9 giờ/ngày. Quan trọng hơn là lao động VN không đáp ứng đủ về số lượng cũng như chất lượng mà dự án yêu cầu.
Trong khi đó, ông Lê Thanh Tòng, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB-XH tỉnh Cà Mau cho rằng, lao động người Trung Quốc ở công trình NMĐ Cà Mau, phần đông là lao động phổ thông. Và những việc họ làm, lao động địa phương thừa sức làm. Nhưng không hiểu tại sao lại không tuyển lao động tại chỗ?
Lao động không phép là bình thường (!?)
Khi PV thắc mắc tại sao lại có tình trạng lao động nước ngoài không phép với số lượng khá đông và kéo dài trong thời gian như thế, ông Văn Tiến Thanh lý giải: “Hàng ngàn lao động nước ngoài hoạt động không phép ở VN là chuyện bình thường. Bởi có nhiều ông Tây sang đây làm việc, chắc chắn có ông có tay nghề, có ông không. Việc này đâu có gì đâu, mà dư luận phải la ầm lên?”.
Trái lại, ông Lê Thanh Tòng lo lắng: “Lao động phổ thông rất nhiều, lao động nước ngoài ồ ạt sang là không cần thiết. Trong khi đơn vị sử dụng lao động nói rằng họ thiếu lao động, nhưng họ không hề có động thái nhờ địa phương giúp tìm lao động. Ngày kiểm tra vừa qua (ngày 4.8 - PV) là lần kiểm tra thứ 4 của chúng tôi đối với việc sử dụng lao động nước ngoài ở công trình NMĐ Cà Mau sau ngày khởi công. Nhưng cứ lần kiểm tra sau, thì số lượng vi phạm cao hơn lần trước. Chúng tôi đã 3 lần đề nghị phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quản lý, sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại VN đối với đơn vị này, đồng thời đề nghị Bộ Công an trục xuất về nước 16 đối tượng lao động không phép”.
Để khắc phục trình trạng lao động Trung Quốc không phép ở công trình NMĐ Cà Mau, ông Văn Tiến Thành cho biết: “Ban sẽ làm công văn đính kèm danh sách lao động Trung Quốc cho UBND tỉnh, Sở LĐ-TB-XH, công an xem xét. Mấy ổng làm căng thì cứ trục xuất, nhưng trục xuất đi một người thì phải thế lại một người cho dự án. Việc bổ sung hồ sơ lao động là việc của nhà thầu, họ chây ì, tôi không thể làm thay họ”.
Vào khu “căn cứ” lao động Trung Quốc
Chiều tối cùng ngày, PV Thanh Niên có mặt trong khu “căn cứ” của lao động người Trung Quốc ở công trình NMĐ Cà Mau. Đó là những dãy nhà biệt lập với bên ngoài nhếch nhác, ẩm thấp và bẩn. Nhiều công nhân cởi trần, độc quần đùi chọc ghẹo những nữ thợ nấu ăn. Đặc biệt, những công nhân này, không quên tự thưởng cho mình sau một ngày lao động bằng những chai bia hơi. Thậm chí có công nhân còn giải trí bằng cách xem phim đồi trụy.
Bước chân vào một khu nhà của lao động Trung Quốc, PV không khỏi giật mình khi đập vào mắt là hình ảnh những công nhân trên người đầy những hình xăm.
Theo một số công nhân người bản xứ, thì những công nhân này họ sinh hoạt, ăn uống đều nằm trong khu “căn cứ” tách biệt với bên ngoài. Nhưng tối đến, họ bắt đò sang khu chợ ngang bên kia sông tìm gái “giải sầu”, làm cho khu chợ quê yên bình ngày nào giờ lại náo loạn cả lên.
Giải thích lý do lao động Trung Quốc sống tách biệt với bên ngoài, một cán bộ xã (xin được giấu tên) nói: “Đó là “chiêu” của nhà thầu. Họ đa phần là những lao động phổ thông, cũng “quậy” mát trời nên đưa họ vào ở tách biệt với bên ngoài tránh va chạm với người bản xứ, chính quyền địa phương để ít bị “dòm ngó””.




Gia Bách (TNO)

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

RƯỢU THÁNG BẢY - LÊ NGỌC THUẬN



Nụ hôn không giấy tờ tùy thân
Tình yêu đã mơ hồ vỡ nợ
Vạn cổ sầu không ai cầm cố
Trái tim này không chốn dung thân

Là kẻ thất tình thành mãn tính
Để buồn bay tung tóe khắp nơi
Là kẻ giang hồ không máu mặt
Cùng đường buông đao ngồi làm thơ

Uống rượu ta không là hảo hán
Mười ly quên hết cả đường về
Cơn say thời đó còn quay lại
Bàn rượu bây giờ vắng những ai?

Hai chữ vô thường,ta rất hiểu
Nhung làm sao ém được lòng đau
Bỗng dưng chợt thấy hồn rưng rức
Ta nhớ Vương phi-nhớ bạn bè

Ngậm ngải tìm trầm chừ thất thế
Hóa con hổ già mất vuốt nanh
Quanh quẩn một mình nơi cố quận
Chỉ biết gầm với bóng thời gian

Hai mươi năm tu chưa ngộ đạo
Chửi thề inh ỏi gữa dương gian
Xá tội vong nhân rằm tháng bảy
Say – không thành thánh cũng thành thần

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

TƯ LIỆU KHÁCH QUAN THỪA NHẬN CHỦ QUYỀN VIỆT NAM


Một trong những bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được gộp làm một với tên "Paracel" vẽ ở biển Đông cách xa các đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam - Ảnh: tư liệu

Để giải quyết cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh danh nghĩa lịch sử, cách tốt nhất là nên tham khảo ý kiến bên thứ ba.

Người phương Tây đã từng nói về sự quy thuộc của quần đảo Paracel vào An Nam. Các nhà truyền đạo Pháp trên tàu Amphitrite trên đường sang TQ đã ghi trong một bài tiếng Pháp năm 1701: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các tai nạn đắm tàu ở đó” ([1]).

Jean-Louis Taberd ghi nhận:

“Pracel hoặc Paracels (Bãi cát vàng), mặc dù quần đảo này không có gì ngoài các đá, bãi và độ sâu lớn hứa hẹn nhiều bất tiện lợi hơn, Vua Gia Long đã nghĩ tới việc mở rộng lãnh thổ của ngài bằng cách chiếm thêm vùng đất buồn bã này. Năm 1816, ngài đã tới đây long trọng cắm cờ, chính thức chiếm hữu các đảo đá này, mà không một ai tranh giành gì với ngài cả”([2]).

Về phần mình, J.B.Chaigneau, cố vấn của nhà vua An Nam, đã viết trong cuốn hồi ký về nước Cochinchine:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh… một vài đảo có dân cư không xa biển và quần đảo

Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành. Chỉ tới năm 1816, Hoàng đế mới chiếm hữu quần đảo này”([3]).

Dubois de Jancigny trong Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Ceylan có viết: “Chúng tôi quan sát thấy rằng từ ba mươi tư năm nay, quần đảo Paracel (người An Nam gọi là Cát vàng), một ma hồn trận thật sự của các đảo nhỏ, các đá và các bãi cát đầy ngờ vực của các nhà hàng hải và có thể được coi là hoang dã và vô tích sự nhất trong số các điểm của quả địa cầu, đã được người An Nam (Cochinchine) chiếm hữu. Chúng tôi không để ý liệu họ có tạo nên một công trình nào trên đó không (nhằm mục đích, có thể, bảo vệ nghề cá); nhưng chắc chắn rằng Vua Gia Long đã gắn thêm vòng hoa này vào vương miện của người, bởi vì ngài đã thân chinh tới đó chiếm hữu, việc này xảy ra vào năm 1816 khi ngài long trọng kéo cờ của An Nam lên đó”([4]).

Gutzlaff trong bài Địa lý Vương quốc Cochinchine xuất bản năm 1849 tại London (Anh) cũng ghi Cát Vàng (để chỉ Paracel) thuộc Cochinchine. Gutzlaff viết:

“Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không biết bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ đảo Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa tới tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết được mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc” ([5]).

Trong Địa lý tóm tắt của Ý (Compendio di Geografia) do Adriano Balbi soạn năm 1850, trang 641 mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: Cũng thuộc vương quốc này còn có quần đảo Paracel, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, nhóm đảo Hải Tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này tr.644-648 về địa lý Trung Hoa không viết gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngay cả các sách TQ cũng công nhận việc quy thuộc các đảo này vào An Nam. Chúng ta có thể đọc được điều đó trong phần tựa cuốn Hải Lục năm 1842 trong đó Vương Bính Nam đã so sánh các điều mắt thấy tai nghe do Tạ Thanh Cao, một thủy thủ TQ từng đi nhiều nước nhiều vùng về kể lại:

“Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên giậu của An Nam”.

Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người TQ) năm 1696 ([6]) quyển III đoạn thuật lại chuyến đi về Quảng Đông bắt đầu đi từ Quảng Nam viết: “…bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là "Vạn lý Trường Sa", mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm ([7]). Các quốc vương thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào". Đoạn văn mô tả này đã xác nhận việc hành xử chủ quyền của thời Chúa Nguyễn qua hoạt động thu lượm hóa vật của Đội Hoàng Sa.

Các mô tả về Paracel từ các nguồn nước ngoài chứng tỏ Hoàng Sa không phải là các đảo ven bờ biển Trung VN. Trong khi có khá nhiều nguồn tài liệu trung gian chứng minh sự chiếm hữu Paracels của các Chúa và Vua Nguyễn, không có một nguồn tư liệu nước ngoài nào chỉ rõ sự chiếm hữu các đảo này của TQ.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Trích dẫn theo P.B Lafont, Sđd, tr.248.

[2] J.L Taberd, Ghi chép về địa lý Nam Kỳ trong the Journal of Bengal, Calcutta, serie VI, September 1837, tr.737 - 745.

[3] Tập san của người bạn cũ của Huế, số 2,1923, tr.257.

[4] M.A Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Xeylan, Paris éd, Firmin Didot Freres, 1850, tr. 555.

[5] Journal of the Geographical Society of London (Tạp chí Hội Địa lý London), quyển 19 (1849), London, John Murray, 1849, tr. 93-94.

[6] Hải ngoại ký sự là ghi chép chuyến đi của tác giả Đại Sán Hán Ông, tên là Thạch Liêm từ chùa Trường Thọ tỉnh Quảng Đông đến vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi triều Vua Khang Hy (1695) và trở về Trung Quốc vào năm sau (1696). Sách nguyên bản chữ Hán gồm 6 quyển đã được Viện Đại học Huế dịch trọn bộ ra Quốc ngữ năm 1963. Sau này người TQ đã dựng nên một chiến dịch nói xấu tác giả, chứng minh ông là người không bình thường, là kẻ điên để giảm bớt tính chân thực của tác phẩm. Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr. 43.

[7] Phạm Hoàng Quân cho rằng ở đây có lỗi dịch Hán-Nôm, thất canh lộ không phải là 7 ngày đêm, canh ở đây là đơn vị chiều dài. Tuy nhiên ông cũng công nhận một canh khoảng trăm dặm. Như vậy về khoảng cách Hải ngoại ký sự mô tả khá chính xác khoảng cách từ bờ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cách dịch đúng được đề xuất là: “Quãng ấy cách Đại Việt bảy canh đường, chừng bảy trăm dặm”.




Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIỀN 1975 - 2011 (KÌ 80)



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

801 - Đỗ Hữu Vinh
THA THỨ CHO VỢ LẤY MỸ
Cán bộ về hưu sinh 1940 tại Đà Nẵng. Sống ở Đà Nẵng (2002).
Làm thợ may ở Đà Nẵng nhưng bên trong có hoạt động ngầm cho cộng sản. Lấy vợ bán gạo ở chợ sinh được 1 trai 2 gái.

Năm 1965 hoạt động bị lộ nên bỏ trốn vào mật khu để lại vợ con ngoài thành phố.

Vợ bị bắt giam tra hỏi, nhà chồng chẳng những không giúp đỡ gì còn tìm cách xa lánh sợ liên lụy. Vợ khai báo hoàn toàn không biết gì về chồng là Việt Cộng, cảnh sát mật vụ không khai thác được gì nên phải thả ra.

Từ đó để một mình nuôi 3 con, vợ phải xin đi làm tiệm giặt ủi cho lính Mỹ. Tại đây gặp gỡ và sống chung với một trung sĩ Mỹ sinh được một bé gái thì chồng Mỹ về nước không đoái hoài gì. Thế là bây giờ một mình phải nuôi cả 4 con.

Trước ngày giải phóng Đà Nẵng tháng 3.1975 vợ sợ mình có con lai Mỹ sẽ bị cộng sản truy bức nên đem bé gái con lai cho cô nhi viện sau đó được đưa qua Mỹ.

Bấy giờ người chồng đi kháng chiến trở về gặp lại vợ con tuy biết vợ từng lấy Mỹ có con song vẫn rộng lòng bao dung bỏ qua, cho rằng vợ làm vậy cũng là vạn bất đắc dĩ để nuôi con mà thôi dù bên gia đình mình rẻ rúng con dâu là “con đĩ”!

Không chỉ thế, sau này người chồng còn khuyến khích vợ tìm cách liên lạc tìm lại đứa con lai nay đã lưu lạc trên đất Mỹ. Kết quả may mắn năm 1996 nhờ sự giúp đỡ của tổ chức Việt kiều ở Mỹ đã bắt được liên lạc được với con gái nay làm con nuôi ở Mỹ và năm 1997 em đã trở về gặp lại mẹ ruột ở Đà Nẵng.

802 – Đỗ Kế Giai
“LÀM TRÒN TRÁCH NHIỆM MỘT TƯỚNG LÃNH”
Việt kiều Mỹ nguyên Thiếu tướng VNCH sinh khoảng 1933 tại VN. Sống ở Mỹ (2011).
Là Tư lệnh lực lượng Biệt động quân VNCH vào thời điểm trướùc 30.4.1975.
Trong những ngày cuối cùng của chiến cuộc, được phía Mỹ đề nghị đưa đi di tản song đã từ chối với lý do “không thể bỏ đi lúc này vì còn trách nhiệm một tướng lãnh với binh sĩ, với đồng bào”. Từ đó tuân hành lệnh “buông vũ khí” của Tổng thống Dương Văn Minh, đã bàn giao biệt động quân cho cộng sản để… đi cải tạo 17 năm lâu nhất.

Là một trong 4 vị tướng cuối cùng được trả tự do năm 1992 (cùng thiếu tướng Trần Bá Di, Lê Văn Thân, chuẩn tướng Lê Minh Đảo nay đều ở Mỹ, riêng tướng LV Thân đã qua đời). Ra tù với tư thế ngẩng cao đầu: “Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ được tác phong, danh dự. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

Năm 1993 cùng vợ và 6 con qua Mỹ định cư.

Từ chối viết hồi ký vì “e làm mất lòng nhiều người” bởi quan điểm bộc trực thẳng thắn của mình từng bày tỏ qua việc nhắc lại 2 câu thơ của cổ nhân thay cho lời bình luận về biến cố “mất nước: “Bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng/ Vong quốc chi đại phu bất khả ngô trí” (Tướng bại trận không thể nói mình mạnh/ Quan mất nước không thể nói mình hay.”).

803 - Đỗ Văn Du
“VŨ KHÍ” CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Doanh nhân Việt kiều Mỹ sinh 1952 tại Thừa Thiên – Huế. Sống ở Mỹ (2009).
Năm 14 tuổi bị mảnh bom cắt đứt một tay và một chân.
Rơi vào khủng hoảng niềm tin cuộc sống: “Trước mắt tôi chỉ có 3 lựa chọn cho tương lai hoặc là tự tử, đi ăn xin hoặc là phải sống đàng hoàng. Dù không còn lành lặn, tôi vẫn yêu cuộc sống. Chiến tranh với biết bao cái chết đã diễn ra vô nghĩa thì được sống là may mắn lắm rồi. Vậy thì phải sống và phải sống đàng hoàng.”

Từ đó chọn con đường duy nhất vươn lên để sống còn là lao vào học hành quyết “Học để thay đổi cuộc đời”. Kết quả năm 1971 giành được một học bổng qua Mỹ học ngành kiến trúc ngay tại Thủ đô Washington.

Ra trường sau một thời gian hành nghề kiến trúc thì được Hãng Boeing cấp học bổng học ngành công nghệ thông tin mới ra đời. Tốt nghiệp đi làm cho trên 10 công ty CNTT hàng đầu của Mỹ, từng làm giám đốc dự án phần mềm cho một tập đoàn lớn ở Mỹ. Từ đó nghiệm thấy CNTT quả là một phương tiện cực kỳ phù hợp giúp người khuyết tật làm việc, phát huy hết khả năng tiềm tàng.

Năm 1990 lần đầu quay về quê hương chứng kiến đất nước có quá nhiều người khuyết tất hậu quả chiến tranh khiến không thể không nghĩ đến việc giúp đỡ nhưng người đồng cảnh ngộ với mình song thiếu may mắn trong cuộc sống. Vì thế khi quay về Mỹ cùng lúc thực hiện hai công việc theo hướng giúp đỡ NKT trong nước.

Trước hết vận động hỗ trợ VN về mặt y tế, quyên góp các trang thiết bị y tế lẫn thuốc men và đưa các đoàn bác sĩ về thăm và chữa bệnh. Đặc biệt chú trọng giúp đỡ trẻ em bị di chứng CĐDC mắc bệnh hiểm nghèo não úng thủy.

Bên cạnh đó ấp ủ ý định thành lập một công ty chuyên về công nghệ thông tin chỉ dành cho người khuyết tật: “Tôi là người khuyết tật nên tôi hiểu người khuyết tật cần gì. Chỉ có CNTT mới rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa họ với người bình thường. Đây là công cụ tuyệt vời để cho NKT có công ăn việc làm ổn định, có vị thế trong xã hội, được xã hội nể trọng.”

Năm 2003 xin nghỉ việc ở Mỹ để về VN làm việc nhằm thực hiện giấc mơ đem CNTT đến với NKT.

Cuối năm 2006 được sự hỗ trợ của một tổ chức phi chính phủ đã chính thức thành lập công ty mơ ước đó, một công ty CNTT đầu tiên dành cho NKT ở VN - Cty PWD Soft, công ty phần mềm dành cho NKT đến học nghề rồi làm việc đặt trụ sở tại Hà Nội – với mục tiêu nêu rõ “Đây không phải làm từ thiện mà chỉ nhắm hỗ trợ cho NKT để họ làm việc và hưởng lương bằng chính sức lao động của mình. Hãy thương NKT đúng cách…”

Dự kiến mỗi năm công ty đào tạo miễn phí cho khoảng 50 NKT thành lập trình viên, sẽ mở chi nhánh ở TPHCM…

804 - Đỗ Văn Yên
“VUA SĂN BẮT CƯỚP” GIÀ NHẤT
Nhân viên bảo vệ sinh 1943 tại miền Bắc. Sống ở Hà Nội (2010).
Bộ đội pháo binh chiến đấu trên chiến trường miền Nam, sau 75 còn chuyển qua đánh giặc tiếp ở Campuchia.
Năm 1995 giải ngũ trở về Hà Nội làm bảo vệ trong Ban Bảo vệ phường Kim Liên, quận Đống Đa. Từ đó nổi tiếng là một khắc tinh của bọn trộm cướp, ăn cắp trong phường qua 15 năm làm nhiệm vụ với thành tích đáng nể hơn 150 lần tóm gọn bọn này từ bọn giật túi xách, dây chuyền, ăn cắp vặt, móc túi đến kẻ có tiền án tiền sự vào tù ra rồi lại tái phạm.

Có lần bị chúng dùng dao đâm trúng bụng đổ máu phải nằm viện nửa tháng nhưng vẫn không nản lòng trước công việc “vác tù và hàng tổng” này vì “Mình vốn là lính có ngán gì mấùy tên này”! Đến 67 tuổi vẫn tiếp tục nhiệm vụ trở thành “lão hiệp sĩ đường phố” duy nhất cả nước.

Làm việc nghĩa dứt khoát không nhận quà cáp đền ơn dù lương thương binh không bao nhiêu. Bù lại, Trời cũng ngó xuống thương tình cho hưởng lộc… trúng vé số độc đắc 2 lần năm 2000 và 2003!

Năm 2000 mua 5 vé số miền Bắc… trúng độc đắc 250 triệu đồng. Nhờ đó mới thực hiện được giấc mơ của người lính già quay lại miền Nam tìm cảnh cũ người xưa một thời lửa đạn rồi ngược ra miền Bắc thăm bao người bạn chiến đấu cùng vào sinh ra tử ngày nào.

Năm 2003 lại… trúng độc đắc 7 vé nữa lãnh 350 triệu đồng! Dùng tiền làm thêm một số “việc công” khác là giúp đỡ các bà vợ liệt sĩ và những đứa con nạn nhân CĐDC với tâm nguyện đơn giản thôi: “Trúng số là mình được ban chút lộc của trời thì phải chia sẻ một tí với người khác chứ!”

805 - Hà Quý Phiến
KIỆN TƯỚNG MỘT CHÂN “ĐÁNH GỘC”
Nông dân sinh 1940 tại Bắc Ninh. Sống ở Bắc Ninh (2010).
Năm 1965 đi bộ đội đưa lên Tây Nguyên gia nhập đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ đường Trường Sơn.
Bị thương hơn chục lần, lần cuối năm 1972 trúng mảnh bom phải cưa một chân trái nên được chuyển ra Bắc điều trị rồi xuất ngũ.
Về quê lấy vợ cô giáo làng năm 1973.
Sau chiến tranh vết thương cũ nơi mõm xương cụt chân trái tái phát lòi ra gây đau nhức phải cưa đi cưa lại đến 5 lần mới lành hẳn.

Bấy giờ còn phải lo nuôi con (5 con) trong hoàn cảnh gia đình thời hậu chiến ở quê nghèo quá khó khăn. Phải chống nạng đi làm đủ các nghề tay chân vẫn không đủ sống.

Bèn ngồi nghĩ tìm ra một nghề “độc chiêu” không ai làm mới mong kiếm sống nổi, đó là “đánh gộc” tức là đốn hay bứng gốc cây cổ thụ rồi chặt ra thồ xe đạp về làng bán làm củi hoặc đổi lấy gạch ngói xây nhà. Làm việc đó không dễ bởi gốc rễ cây cổ thụ ăn sâu dưới lòng đất phải có sức khỏe cực kỳ và búa rìu nhà nghề mới “trục” nó lên được. Vậy mà anh thương binh một chân với dụng cụ thô sơ cuốc xẻng làm được, mà còn làm… gấp 2-3 lần người khác!

Đến khi bao gốc cây cả làng… hết rồi mới xoay qua đạp xe – một chân – đi xa qua cả các tỉnh bạn mua khoai sắn giá rẻ chở về bán lại kiếm lời lấy tiền nuôi con.

Đến khi con cái học hành ra đời trưởng thành rồi, bắt đầu được hưởng nhàn thì quay qua… tập chơi bóng bàn kiên trì luyện ngón độc như “đánh gộc” ngày xưa để tham dự Đại hội Thể thao người khuyết tật toàn quốc từ năm 2003, cả Para Games Đông Nam Á nữa giành hơn 10 huy chương có cả HCV, HCB.

806 - Hải Linh
GIẤC MƠ CA ĐOÀN KHÔNG TRỌN VẸN
Nhạc sĩ Thiên Chúa giáo Việt kiều Mỹ tên thật Trần Văn Linh sinh 1920 tại Ninh Bình – Mất 1988 ở Mỹ (69 tuổi).
Vào dòng tu Thiên Chúa giáo từ năm 11 tuổi. Năm 25 tuổi đã viết ca khúc “Hang Bê Lem” – còn tên “Đêm đông” -- rất nổi tiếng.
Di cư vào Nam 1954 hoạt động âm nhạc Thiên Chúa giáo sôi nổi, phong phú. Vừa sáng tác khoảng 120 ca khúc lẫn trường ca quy mô chia đều cả nhạc đạo lẫn nhạc đời nhằm “tôn vinh Thiên Chúa” và “tán tụng quê hương”.

Nhạc đạo có “Trường ca Ave Maria”, “Nữ vương Hòa bình”… Nhạc đời gồm ca khúc “Đà Lạt trăng mờ”, “Hương quê”, “Tình nước non”, “Tiếng thu”… Và đặc biệt một số trường ca và nhạc kịch phổ thơ tác phẩm cổ điển VN như “Đại tấu khúc Chinh phụ ngâm”, Trường ca Kiều “Cung đàn bạc mệnh”, “Duyên kỳ ngộ” thơ Hàn Mạc Tử…

Ngoài ra còn đi dạy nhạc đại học, viết nhiều sách về nhạc giao hưởng và hợp xướng, dạy 40 lớp ca trưởng đồng thời thành lập và chỉ huy ca đoàn Hồn nước năm 1967 được đánh giá rất cao trong giới nhạc hàn lâm.

Năm 1960 xin ra khỏi dòng tu lập gia đình rồi năm 1961 cả gia đình được qua Mỹ du học. Năm 1970 trở về nước một mình (gia đình vẫn ở lại Mỹ) tiếp tục hoạt động sáng tác và biểu diễn gây nhiều tiếng vang.

Trước 30.4.75 đã định di tản qua Mỹ ở với gia đình nhưng phút chót quyết định ở lại vì lý do “Thiên Chúa kêu gọi”: “Ngày xưa Giáo hội đã đưa tôi đi du học để tôi có được kiến thức như ngày nay, tôi có bổn phận phải trao lại cho người khác. Món nợ này tôi phải trả…”

Nhưng thực tế không dễ gì trả được món nợ đó sau 1975 dưới chế độ mới, tuy bản thân không dính líu hoạt động chính trị nên không bị bắt bớ song tất nhiên bị cấm các hoạt động âm nhạc rút vào ở ẩn dạy nhạc, tập hát ở nhà với tâm sự u uẩn “Tôi tuổi thân cùng tuổi Đức Giáo hoàng. Tuổi thân bạc bẽo lắm, tôi chỉ còn nấp bóng Đức Giáo hoàng để sống được qua ngày nào hay ngày đó thôi.”

Khi tình hình chính trị cởi mở hơn mới được lập nhóm nhạc Quê hương trình diễn trong nội bộ nhà thờ.

Đến 1986 được phép đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Tại đây được giao nhiệm vụ huấn luyện ca trưởng và lập các ca đoàn Việt kiều phục vụ cộng đồng hải ngoại đúng sở trường sở nguyện. Như người gặp cơn khô hạn khát nước lâu nay được hưởng cơn mưa rào ban ân phước, lao vào làm việc với bao tâm huyết với bao dự án ước mơ trong khi bản thân mang sẵn bệnh tim.

Hậu quả bị quá tải suy nhược dẫn đến đột quỵ qua đời chỉ 2 năm sau, khi tâm nguyện chưa thành như mong ước suốt đời dùng âm nhạc phục vụ cả đạo lẫn đời.

807 – Hoàng Thị Hải Lý
NỮ KIỆN TƯỚNG RÀ PHÁ BOM MÌN
Nhân viên phá bom mìn sinh tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2006).
Thủa nhỏ từng nhiều lần chứng kiến người thân, hàng xóm, bạn bè chết và bị thương vì giẫm phải bom mìn còn lại sau chiến tranh kích nổ. Bản thân mình cũng mấy lần suýt chết khi đi khai hoang cuốc đất trồng trọt trên vùng đất “hỏa tuyến” nổi tiếng nhiều bom đạn nhất nước.

Từ đó từ năm 1997 tự mày mò, hỏi han người khác để tìm cách phát hiện nơi nào tình nghi có bom mìn, lựu đạn còn nằm lẩn dưới bờ cỏ hay dưới lòng đất, đánh dấu ghi lại để báo cho người khác biết mà tránh xa.

Năm 2001 tổ chức MAG rà phá bom mìn chiến tranh hợp tác Việt – Mỹ đến vùng này tiến hành công tác “làm sạch” bom mìn trận địa cũ gặp được người nữ hướng dẫn này quá tốt liền nhận ngay vào làm nhân viên sau khi cho học một khóa tập huấn chuyên môn.

Có bài bản rồi càng nhanh chóng trở thành một chuyên gia ngày ngày ngược xuôi giong ruỗi khắp tỉnh Quảng Trị làm nhiệm vụ “cứu” đất cứu người trả lại ruộng đồng cho cây lúa nẩy mầm đơm bông. Kể cả lúc bụng mang dạ chửa gần 9 tháng vẫn mang vác trên người trang thiết bị rà soát bom mìn nặng 7kg bước từng bước chậm trên nền đất sỏi đá dò la dấu vết… tử thần!

808 - Hoàng Thị Ty
DUYÊN MUỘN ĐỜI GÁI THANH NIÊN XUNG PHONG
Nông dân sinh 1953 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2008).
Vào thanh niên xung phong chống Mỹ làm nhiệm vụ mở đường và canh giữ các chốt tiền tiêu trên đường chuyển quân vào Nam ngang qua Nghệ An.

Trong thời điểm máy bay Mỹ bắn phá khốc liệt tuyến đường này, đã may mắn sống sót trong khi 12 nữ đồng đội thuộc “Tiểu đội Truông Bốn” bám trụ tại địa điểm này (thuộc huyện Đô Lương) đã bỏ mình dưới trận mưa bom từ máy bay Mỹ tháng 10.1968. Nhưng phải mang di chứng bị sức ép của bom làm chân tê liệt đi khập khiễng.

Sau chiến tranh trở về quê (cách Truông Bốn 10km) đã 29 tuổi lỡ thời con gái rồi mà nhà lại nghèo khó nên cuối cùng đành chấp nhận lấy chồng tuổi đã gần… 60! Cũng còn hơn bao chị em đồng đội phải chịu cảnh đơn thân gái già suốt đời.

Dù vậy cũng ráng sinh… 6 con, con út ra đời khi bố đã 70! Nên đã nghèo càng khó hơn nuôi con cực nhọc trăm bề bởi vào thời này chưa hề được hưởng chế độ nào dành cho thanh niên xung phong chống Mỹ, lực lượng – khoảng 300.000 người - đã nhanh chóng giải thể sau 1975.

Đến khi có tin sẽ xem xét cho trợ cấp thì giấy tờ mất hết, muốn làm lại phải tốn vài chục ngàn đồng không lấy đâu ra nên đành chịu!

809 - Hoàng Trung Tiếu
NHÀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT LỚN TUỔI NHẤT
Cán bộ về hưu tên thật Hoàng Tiêu sinh 1922 tại Lạng Sơn. Sống ở TPHCM (2011).
Tham gia hoạt động chống Pháp ở miền Bắc từ năm mới 17 tuổi.
Bị quân Pháp truy lùng nên phải tìm cách trốn vào Sài Gòn, ban đầu làm công nhân rồi xoay qua sản xuất phấn rôm bán rất chạy.

Khi bùng nổ kháng chiến chống Pháp đã bỏ công việc làm ăn đang phát đạt để tham gia cướp chính quyền ở Gò Vấp. Rồi theo cộng sản rút vào bưng biền Nam bộ tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chiến đấu bị thương 4 lần nên được cho đi học một khóa quân pháp để chuyển qua ngành tư pháp.

Năm 1954 tập kết ra Bắc được phân công qua làm tòa án.

Năm 1967 được đưa trở lại miền Nam hoạt động được một thời gian thì bị bắt. Đến năm 1973 được trao trả tù binh về chiến khu Lộc Ninh.

Sau 1975 làm việc ở tòa án nhân dân TPHCM. Mãi đến 1988 mới chính thức về hưu.

Trong thời gian trên tận dụng thì giờ rảnh đã soạn khoảng 100 cuốn sách hướng dẫn pháp luật phổ thông cho quảng đại quần chúng tuy chưa hề học trường luật ngày nào (ngoài khóa quân pháp sơ cấp ở chiến khu) song vận dụng kiến thức tự học và nhiều năm làm việc trong ngành tòa án. Sách ký bút danh Hoàng Trung Tiếu ghép họ mình với điển tích tướng Hoàng Trung của Lưu Bị thời Tam quốc già mà hay cười lạc quan yêu đời như bản thân mình!

Về hưu rồi tiếp tục tục phát triển niềm say mê “tư pháp đại chúng” kể trên cộng thêm khai sinh ra nghề “tư vấn pháp luật” miễn phí cho mọi người dân bất cứ ai cần đều có thể đến nhờ giúp đỡ. Đến 88 tuổi vẫn còn làm, trở thành nhà tiên phong tư vấn pháp luật quần chúng lớn tuổi nhất!

810 – Hoàng Văn Húc
LIỆT SĨ SỐNG LẠI 33
Cán bộ về hưu sinh 1944 tại Quảng Bình. Sống ở Quảng Bình (2007).
Bộ đội chiến đấu miền Nam.
Trước 1975 được báo tử về quê, bố mẹ đã nhận tiền tuất. Nhưng đến giữa năm 1975 lại lù lù dẫn xác về, thì ra do nhầm lẫn mất tích rồi kịp tìm về với đơn vị!

Sau đó dòng đời đưa đẩy như thể để trả ơn số phận may mắn đã chuyển ngành qua làm quản trang ở Nghĩa trang Trường Sơn tại Quảng Trị - nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất nước rộng 106 hécta gồm 10.263 mộ thành lập sớm nhất năm 1979 – để làm việc đền ơn đáp nghĩa với các đồng đội kém may mắn thua mình.

Rồi như được người chết đền đáp lại xe duyên cho nên vợ nên chồng với một nữ quản trang tại đây, cả 2 trở thành đôi vợ chồng quản trang vào hàng thâm niên nhất nơi đây.

Về hưu năm 2004 để lại vợ trẻ hơn tiếp tục nhiệm vụ “trả ơn đời”.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

VIỆT NAM PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC VI PHẠM QUYỀN CHỦ QUYỀN


Cục thăm dò địa chất Trung Quốc đã sử dụng tàu thăm dò “Tan Bao Hao” tiến hành đo đạc, khảo sát khoa học từ vùng biển phía tây quần đảo Hoàng Sa đến phía bắc quần đảo Trường Sa.

Bản tin của Tân Hoa Xã hôm 2/8 đưa thông tin này và gọi hai vùng biển này là Tây Sa và Nam Sa. Hoạt động trên diễn ra trong khoảng 13/6-30/7.Trước sự việc này, ngày 8/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho biết đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp phía Trung Quốc nêu rõ quan điểm của Việt Nam, phản đối các hoạt động của phía Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Theo TTXVN, bà Nga cũng cho biết Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay và không để tái diễn các hoạt động tương tự.

Trên Biển Đông, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, trong những tháng gần đây xuất hiện tình trạng căng thẳng do một loạt vụ việc xâm phạm chủ quyền do tàu của Trung Quốc tiến hành.

Tháng 5 và 6 vừa rồi, tàu của Trung Quốc quấy phá hoạt động của các tàu Việt Nam trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa hoàn toàn của Việt Nam. Hà Nội tố cáo Bắc Kinh đang muốn biến khu vực không tranh chấp thành có tranh chấp. Ngoài ra, Trung Quốc cử các tàu ngư chính đến khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam - hành động này bị Hà Nội phản đối và yêu cầu chấm dứt.

Philippines cũng tố cáo tàu của Trung Quốc nhiều lần vi phạm vùng nước mà Manila tuyên bố chủ quyền. Manila còn tính đưa vụ việc ra tòa án quốc tế để phân xử. Tuy nhiên đề xuất này gặp phải sự bất đồng của Bắc Kinh. Vì thế Philippines dự tính sẽ nhờ Liên Hợp quốc phân định rõ các vùng biển trên Biển Đông.

Tháng 9 tới, Manila sẽ làm chủ nhà của một hội nghị các luật gia quốc tế nhằm tìm hiểu khả năng phân định rõ vùng nào là biển tranh chấp chủ quyền, vùng nào không. Kế hoạch này được đưa ra sau khi các nước ASEAN và Trung Quốc đạt một thỏa thuận về hướng dẫn thực thi DOC - một văn bản có từ năm 2002 thể hiện tinh thần mong muốn duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.

Một số quốc gia khác như Mỹ, Australia và Nhật đã lên tiếng bày tỏ sự quan ngại về căng thẳng hiện nay và mong muốn các bên giải quyết bằng phương cách hòa bình.

Trung Quốc vẫn khẳng định rằng chỉ có thể giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại trực tiếp giữa các bên trực tiếp liên quan, và còn cảnh báo các nước khác - như Mỹ - không nên can thiệp.

Song Minh

VnExpress

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

VÔ ĐỀ - THƠ TỊNH VIÊN

1
Một mai khi đã xa đời
Tiễn tôi có nửa nụ cười không em?
Nửa nụ cười đã để quên
Từ trăm năm trước,ngày em lấy chồng
Vị lai,tôi, dãi mây hồng
Cuốn tiền kiếp trôi bềnh bồng hà phương
Xô vô chung xuống bên đường
Chào vô thuỷ ,tôi xa nguồn trong đêm
Em! Kiếp sau gặp đừng quên
Góc đời có nụ hôn mềm năm xưa

2
Nửa đời thực,nửa đời hư
Ngoảnh mặt lại còn chút dư vân mồng
Tìm ở đâu có cái không
Trong cái có ,buổi tàn đông giao mùa
Tìm trong vả chát, me chua
Trong muối mặn ,chút hương thừa phai phôi
Ước gì tôi lại gặp tôi
Khóc cười như buổi nằm, ngồi sơ sinh

TỊNH VIÊN