Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

THIỆP LÁ - LÊ HOÀNG DŨNG


Ngoài kia lá rụng đầy trời
Bao nhiêu thiệp cưới thiệp mời thiệp xuân
Sáng nay gió thổi đầy sân
Cảm ơn trời đất dành phần cho ta

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

CÁO BIỆT NĂM CŨ - NGUYỄN TỊNH ĐÔNG

Ngày đã hết, năm cùng, tháng tận
Vui gì đâu ngồi mỏi vỉa hè
Này quí vị hê nhau một cái
Chào minh niên hí hố đây tê

Xin tuyên bố sang năm đổi mới
Tôi về kia hè phố trước nhà
Cây bàng nhỏ đã bung tàn lá
Che sau lưng nắng quái chiều tà

Các quí vị cứ tùy nghi di tản
Nhìn nhau hoài cũng chán chê thôi
Tôi sẽ chọn vài tay sang sáng
Ngồi đâu lưng tán gẫu mà chơi

Còn nhớ nhau lâu lâu ới lại
Làm vài temps bát ngát mây trời
Rượu vô rồi nói lời khí khái
Thì hè nhau vỗ búa thiên lôi.

Sài gòn 25h 31.12.2011
Nguyễn Tịnh Đông

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

NHỚ CÀNH MAI ĐẮNG - LÊ HOÀNG DŨNG


Có lần vào quãng giữa thánh chạp, tôi đạp xe cọc cạch về An Phước thăm anh Chánh. Ngày xưa – những năm chống Mỹ An Phước được mệnh danh “vườn dâu An Phước” đã đi vào thơ ca và đi vào lịch sử. Giờ đây, qua biết bao nhiêu trận bom cày đạn xới, chất khai quang diệt cỏ diệt cây, An Phước chỉ còn lác đác mấy ngọn dừa lão mình đầy thương tích. Bên dưới, quanh những hố bom đìa chỉ trồng toàn là chuối. Đặc biệt trong mỗi lùm bụi đâu đâu cũng thấy những gốc mai vàng.
Anh Chánh đang bứt lá những cây mai có gốc to, có hình thù ngộ nghĩnh. Thậm chí nó còn những vết thương trên mình.
Tôi không sành về mai, chỉ thích mai năm cánh vàng rực rỡ nở đúng mùng một Tết dài dài ra giêng vậy thôi. Anh Chánh “xóa mù hoa” cho tôi bằng những giảng giải rất sành điệu như một nhà “mai học”. Đại khái:
“Bây giờ người ta chơi mai điệu nghệ cầu kỳ lắm. Mai năm cánh thông thường có hồi ế độ. Nhiều cây mai vàng đột biến bảy cánh chín cánh, mười hai mười bốn được nhân giống nhanh chóng và hốt bạc cũng nhanh. Chú mày đã thấy giống mai nở ra hàng trăm cánh chồng chất như bông cúc chưa? Lại có loại cánh trắng muốt, mỏng tang run rẩy trước gió thấy mong manh tội nghiệp. Rồi huỳnh tỉ hai bốn cánh, phước lộc thọ có màu trông cũ kỹ nhưng lạ mắt. Còn bạch mai cổ thụ đầy truyền thuyết thì chỉ đứng ở đình Phú Tự uy nghi, lặng lẽ để suy gẫm để nghĩ tới chứ không phải để chơi. Người ta còn nhập cả mai Miến Điện, Ấn Độ về nữa…”.
Anh Chánh còn nói thêm rằng: Ở cây mai phải khoe đủ năm thứ: khoe gốc, khoe rễ, khoe sắc, khoe bông, khoe dáng, có khi khoe luôn cả thành tích đã từng đoạt giải vàng bạc đồng ở đâu đó cho oai.
Cứ coi đó là bài học đầu tiên của tôi về hoa mai khiến tôi có chút lưu tâm.
Tôi không ngờ chỉ mới mấy năm im tiếng súng mà từ một trinh sát lão luyện anh Chánh lại sành về mai như vậy.
Người chơi mai thường chọn gốc rễ rồi tới dáng cành hoa lá . Tất nhiên màu hoa phải vàng rực rỡ. Gốc mai cũng vô cùng quan trọng. Những phù thủy cây kiểng có thể ghép rễ, ghép cành y như đồ thật, nhưng gốc thì có sao chịu vậy.
Tôi nói về mai theo cách hiểu cạn cợt của mình vậy. Tôi có chơi mai cũng là chiếu lệ, nhà người ta có mình cũng có. Bởi tôi vốn là một kẻ tàn tật nên ngại (chớ không phải ghét ) cưa, cắt, uốn, ràng rịt để rồi ra một dáng vẻ nào đó chỉ có trong sách vở.
Anh Chánh nói dông dài về mai nhưng cuối cùng chốt lại một câu: Nói là nói vậy, làm cây mai theo phong trào, có ai mua thì bán kiếm ít đồng ăn Tết, chớ chẳng có nhánh mai nào bằng mai ký – ninh của tụi mình hồi đó. Nhăc tới đó cả tôi và anh đều nhớ tới một cành mai đầy kỷ niệm của những ngày trong lửa đạn chiến tranh: Đó là một năm vô cùng ác liệt trong đời lính của tôi, sau Mậu Thân sáu tám. Những trận càn liên miên của lính Mỹ và đủ thứ lính có vũ khí hạng nặng, xe tăng băm nát mặt đất, máy bay đầy trời, tưởng quơ tay là đụng. Thiếu gạo, thiếu muối, thiếu thuốc nhất là thuốc sốt rét trong nhiều ngày. Chúng tôi phải uống thứ “ảo dược” được bào chế bằng loại bột gì đó rất đắng. Do ép nén không dẻ nên tan ngay trong miệng gây ra những trận nôn ói cực hình, mật xanh mật vàng đều từng thấy. Thảng hoặc được phát một viên ký ninh vàng chánh hiệu là vô cùng quý giá. Có một lần Huỳnh văn Cấm quê gốc Ba Tri kiếm được một viên thuốc như vậy qua một đồng hương Bến Tre mới đi bệnh viện về cho nhờ “mánh” độn thuốc dưới lưỡi, vì y tá bắt phải uống ngay trước mặt để bảo đảm đúng thuốc đúng người đúng bệnh. Hắn đã chịu đắng tới xương để lấy được một viên thuốc một cách thông minh. Viên thuốc được nghiền nhỏ pha nước, cái thứ nước vàng lơ, đắng nghét được chuyền mỗi đứa hớp một hớp cho đến hết. Phải nói cái chất đắng dễ thương đó không cắt được cơn rét run nhưng sau này tôi và những đồng đội thân thương - kẻ sống người chết cứ nghĩ về nhau mãi.
Nhờ cái mánh độn ký - ninh dứơi lưỡi, chờ y tá sơ ý nhả ra cất mà Tết năm đó tiểu đội tôi có bốn viên thuốc màu vàng đã mòn đi chút ít do tan trong nứoc miếng nhưng đó là một gia tài. Chỉ khi nào tiểu đội có tới vài ba đứa rét run mới xuất kho ngâm một ca chia cho mỗi người làm “liệu pháp ký – ninh” một cách duy ý chí để vượt qua cơn thắt ngặt.
Năm đó sốt rét hòanh hành đến nỗi Tết đến nơi mà không ai nhớ ra suối tuốt nhánh mai cho kịp mừng xuân. Mai rừng trổ rất muộn, phải đến ra giêng trở đi tự trút lá rồi bất ngờ trổ vàng rực một khoảng rừng, soi bóng xuống những con suối mùa khô chảy về ngập ngừng …. thật sự hoành tráng bất chấp đạn bom. Có ai đã nhìn thấy một lần những nhánh mai bị tuốt lá bởi hơi bom B52 mà vẫn ngóc đầu lên trổ những bông hoa kiêu hãnh. Chúng tôi đã nhìn thấy và thầm thán phục vừa tụ hào như chính mình cũng nhập thâm vào nhánh mai bất tử và rực rỡ kia. Hỡi cánh mai rừng kia ơi! Xin cảm ơn mi đã giúp ta nhiều lắm đó. Ta ngẩng cao đầu chỉ với việc đã nhìn thấy mi nở hoa hiên ngang trong khói lửa.
Tôi sẽ nói tiếp về mấy viên ký – ninh báu vật còn lại của tiểu đội. Bàn bạc về chuyện thiếu nhành mai đón xuân vui Tết, Anh Chánh bỗng nói như một định lý: “Có màu vàng là có mai”, Chiến râu cũng chồm lên phát biểu: “Có ký - ninh là có màu vàng”. Thế là kẻ đi tìm nhánh mai đẹp, người thì gom giấy xé từ nhật ký, rìa bằng khen, thư từ, giấy ra viện, chứng nhận huân chương… rồi cắt, xé thành hình những bông mai năm cánh, đem nhúng trong thuốc ký – ninh pha đậm làm thành một nhành mai. Tôi chưa thấy nhánh mai nào đẹp như vậy. Ngồi quây quần bên nhành mai đắng mùi thuốc, quấn lá cò ke làm thuốc hút , uống trà cơm cháy, gạo rang rồi ôm nhau run lập cập để ai cũng thấy rằng sự run rẩy này là của người khác chớ đâu phải bản thân mình. Run rẩy truyền cho nhau một thứ sức mạnh vô hình nào đó mà sống mà chiến đấu.
Rồi Tết đi qua. Mùa khô thường vào chiến dịch Đông - Xuân. Đôi bên đều dễ hành quân tìm diệt nhau bằng những trận đánh lớn. Đói khát, hành quân, giáp trận như cơm bữa. Sốt rét rừng quật ngã từng đứa. Còn ba viên ký - ninh chúng tôi lần lượt hòa tan húp hết. Tiểu đội trưởng Bảy Tâm lý luận rằng thứ gì đắng bằng hoặc hơn ký - ninh đều trị được sốt rét. Và cây thù lù được đưa lên đầu bảng. Bởi trong tiểu đội có đứa đã lỡ dại ăn thử. Cây này có lá giống cây ớt, có trái nhỏ hơn ngón tay út được bọc trong cái lồng đèn mỏng mảnh mà kín đáo. Lạy trời, không có máy đo độ đắng nhưng tôi tin xuyên tâm liên cũng thua xa. Uống xong hình như liếm da mình cũng đắng, mùi nước tiểu bốc lên cũng có vị đắng. Rồi vẫn sốt và vẫn run. Tiểu đội trưởng phán: “Tại tụi bây uống thuốc thiếu niềm tin”. Rồi anh cười một cách rất lạ mà mãi sau này khi anh đã hy sinh rồi, đêm đêm ngẫm lại sự đời tôi mới nhận ra và thương anh vô hạn. Sau cái trận “thù lù dược liệu” bất thành ấy chẳng thấy ai có sáng kiến về dược chất nào nữa. Tiểu đội lại sắp bị xé lẻ chia nhau nhận nhiệm vụ mới. Chẳng lẽ cứ cái kiểu bưng ca nước suối cụng lắc cắc hẹn gặp ngày chiến thắng hoài cũng kỳ. Tôi chợt nhớ tới nhành mai ký - ninh vẫn còn vàng rực giắt trong gốc cây bằng lăng, có lẽ nó cũng có ý chờ đợi năm sau ăn Tết nữa, cùng “Mừng xuân mới thắng lợi mới” với chúng tôi. Nó có thể đợi được nhưng chúng tôi sắp chia tay. Bảy Tâm - tiểu đội trưởng ra lịnh: “Toàn tiểu đội chú ý, theo đề nghị của chiến sĩ Út Dũng, ngâm mai ký - ninh vừa làm thuốc vừa làm rượu chia tay.” Anh móc ca Mỹ rứt nhẹ từng bông mai bỏ vô ca ngâm một hồi cho bảo đảm ra hết chất đắng. Khi thấy những cánh mai giấy đã nhợt nhạt anh sớt ra ca mỗi đứa một miếng rồi hô: Dzô! Mấy cái ca chụm vào nhau khua lốp cốp. Mỗi đứa đều uống cạn và uống cả những giọt nước mắt yêu thương vào lòng. Rồi chúng tôi gõ vào ca vào bình toong mà run rẫy hát những bài hát hào hùng bất tận . Cứ để cho nước mắt tự khô đi để làm như không ai nhận ra mình đang khóc, tiếng hát át cả tiếng B52 đang rền, đất cát rơi đầy trên tóc... khiến lời hát cũng lấm lem.
Năm nay tôi có về An Phước là để thắp nhang cho anh Chánh. Anh đã ra đi vào giữa một mùa mai do vết thương tái phát. Mấy đứa con thương anh lấy vải trắng buộc tang cho từng gốc mai mà anh từng chăm sóc. Đem theo vài viên thuốc đắng hòa vào cái ca Mỹ sứt sẹo của anh, hớp một nửa còn bao nhiêu đem rưới lên ngôi mộ cỏ. Tôi nhắm mắt lại để hình ảnh anh hiện rõ hơn và hình như trong tay anh đang nâng niu một nhánh mai vàng.

LÊ HOÀNG DŨNG
(Báo Xuân Văn Nghệ Bến Tre)


Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

ANH MUỐN XÉ CẢ MÀN ĐÊM TỈNH LẶNG - LÊ CẢNH NHẠC


Xuân mơ màng thao thức nửa chừng đêm
Trời lạnh giá hút em vào sâu thẳm
Anh muốn xé cả màn đêm tĩnh lặng
Để gặp em, dẫu một ánh mắt cười
Em giấu mình trong bí ẩn xa xôi
Vừa rất thực, lại như là ảo ảnh
Ùa đến nồng say, hững hờ lẩn tránh
Để mình anh thảng thốt tê lòng
Phút giao mùa hiện hữu, hư không
Nửa đông giấu chồi nửa xuân chớm lộc
Mây cứ ngang trời để cầu vồng bảy sắc
Gió ngang cây lay nắng dưới vòm xanh.

Lê Cảnh Nhạc

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

THƯA - HOA TRẦN

THƯA

Thưa người rằng đã sang năm
Bảo quên! Vẫn nhớ ,chuyện gần chuyện xa.
Rằng đây ,nơi gọi là nhà.
Rằng kia là bóng chiều tà cố hương

Cố huơng là chốn quê hương
Mùa Xuân hoa nở trong vườn.Nhớ ơi!

MÙA XUÂN QUA MAU

Biết đến bao giờ
Về bến sông xưa
Biết đến bao giờ
Được nghe em nói

Con tim mòn mỏi
Đợi khúc giao mùa
Bàn tay với mỏi
Đợi gió ngày mưa

Hoa nở giậu thưa
Một mùa Xuân đến
Chim hót ban trưa
Gọi Xuân trên bến

Bến xưa đã chết
Tự thưở ngày nào
Tình tôi đan kết
Một mảnh hanh hao

Tình theo cơm áo
Đi bốn phương trời
Cuối năm ngồi nhớ
Đã lắm chiêm bao

Trong khe.ngoài rú
Chiêm bao thấy mình
Đời toàn là mộng
Mộng mị lặng thinh

Biết đến bao giờ
Được nghe em nói
Con tim mòn mỏi
Mùa Xuân qua nhanh

HOA TRẦN

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

CHIA TAY MÙA ĐÔNG - ĐỨC PHỔ

Chỉ còn vài hôm là hết năm rồi
sao em về chi quá vội?
Hãy nấn ná cho tròn với tuổi
cho tròn vòng con giáp cho vui!

Chỉ còn vài hôm những chuyện ở đời
sẽ chấm hết như mùa đông giẫy chết!
Hãy đừng vội nói lời từ biệt
khi hương Xuân ngấp nghé chụm môi cười.

Hãy ở lại đừng đi thêm bước nữa
(một bước thôi cũng đủ xé lòng!)
Anh vẫn sợ giọt Xuân tình còn đọng
giữa đôi bờ lá nõn sẽ òa mưa!

Sao mà em vẫn muốn chia tay
khi còn vài hôm là hết năm rồi.
Anh làm thơ chỉ cốt vui đời
cho ngày Tết thêm vào câu đối đỏ!

(Cho má thắm sẽ hồng thêm chút nắng
ngày mai vui con giáp lại vui vầy.)
Chỉ còn vài hôm là hết năm này
đừng chia tay giữa mùa đông sắp cạn!

Sẽ hối tiếc khi tàn cơn giá lạnh
Lửa ngày Xuân ấm áp đắp chung tình.
Em có về nên lựa buổi bình minh
cho cuộc tiễn dài thêm lời bịn rịn!...

ĐỨC PHỔ


Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

THƠ XUÂN VŨ HOÀNG CHƯƠNG - ĐẶNG TIẾN


Xuân đã đem mong nhớ trở về

Câu thơ Nguyễn Bính, ý thường thôi. Lời e cũng thường thôi. Nhưng dư vang vô tận, xoáy sâu vào tâm tư khách xa quê, nhất là những kẻ không có ngày về. Xuân đã ... đau lòng một chữ đã. Xuân đã. Người chưa. Những lỡ làng và những bẽ bàng.
Lần này, ở đây, Xuân đã đem mong nhớ trở về Vũ Hoàng Chương, người bạn thơ, bạn kịch cũ càng với Nguyễn Bính Lỡ Bước Sang Ngang.

Mùa Xuân thương nhớ mùa Xuân.

Nói đến thơ xuân Vũ Hoàng Chương, cái bồi hồi lẫn chút bùi ngùi. Có hay không có, mùa xuân trong thơ đấng trích tiên, đã tự giam thơ giam đời trong mươi chữ:

Xuân đời chưa kịp hưởng
Mây mùa thu đã sang ?

Nhà thơ đã tự tình như thế, ở tuổi chưa đến ba mươi, trong tập thơ Mây. Người còn giăng tơ tâm sự

Xuân có sang mà hoa không tươi
Ý ngát hoài chăng hề tuổi chớm ba mươi
Nằm say ngõ lạnh
Buồn nghe mưa rơi
Tuôn châu oà bật lên cười
Ta có là ta chăng hề Ai chứ là Ngươi
Chậu sành tiếng đập ngàn năm cũ
Hoạ điệu chiều nay xác rã rời

Và từ đó, hay trước đó, với Vũ Hoàng Chương, tất cả những mùa Xuân đều là :

Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay

Đã có nhiều người nói, và nói có cơ sở là men rượu và khói thuốc đưa thơ Vũ Hoàng Chương ra khỏi không gian ; và thơ Đường, thơ Tống, người đẹp Liêu Trai đưa thơ ông ra khỏi thời gian. Điều đó có thật, nhưng con người dù là người thơ, vẫn còn xương còn thịt chuyển động theo bốn mùa mưa nắng. Và cả bốn mùa đều in nét trong thơ Vũ Hoàng Chương.

Tác phẩm đầu lòng Thơ Say in năm 1940 gồm những sáng tác buổi hoa niên, nhưng hoạ hoằn lắm mới ánh lên một nét tươi xuân.

Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về
Cỏ chen màu liễu biếc chân đê
Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy
Hương sắc thanh bình ngập lối quê.

Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi
Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời
Dây đàn chầm chậm hôn lên phím
Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi

Thơ Say gồm có nhiều phần : Say, Mùa, Yêu, Lỡ Làng ... Phần Mùa chỉ có hai bài thơ ngắn, bài Dịu Nhẹ tả cảnh mùa xuân trên đây, bài sau là Mùa Thu Đã Về. Thơ Mùa đề tặng ‘em Vân’, người yêu trong mộng. Chủ đề Mùa chứng tỏ nhà thơ coi trọng thời gian, nhưng loại thơ tứ thời bát tiết không nhiều, vì không nằm trong thi hứng Vũ Hoàng Chương. Bài thơ xuân Dịu Nhẹ hiếm hoi, nhưng vẫn mang phong cách đặc biệt Vũ Hoàng Chương. Dường như mãi đến 1952 ông mới có trọn vẹn một bài thơ Xuân khác, nhưng cỏ cây đã nhuốm màu Thiền. Bài Thoát Hình gồm 7 đoạn, một vần:

Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần
Đã nghe dồn cả tới đài xuân
Đã nghe rào rạt từng cơn gió
Về mách tin hương với cõi trần
Muôn vạn tế bào đang huỷ thể
Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần ...

... Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi,
Chưa từng hoen ố vết trầm luân
Đêm nay xuống một bài thơ trắng
Cầu nguyện cho đời nở Ái Ân

Sau này, nhất là từ 1963, Vũ Hoàng Chương sẽ sáng tác nhiều thơ về Đạo Pháp, tuy nhiên nguồn thơ Đạo đã róc rách từ trước đó. Ngoài ra, bài Thoát Hình còn mang thêm dấu ấn của khoa học và triết học, hai nguồn thi hứng sẽ phát triển sâu rộng hơn trong thơ Vũ Hoàng Chương về sau.

* * *

Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay ...là một câu tiên tri. Di cư vào Nam, nhà thơ xem như thất lạc mùa xuân.

Bài Nửa đêm Trừ Tịch làm 1955 ; mùa xuân đầu tiên xa xứ :

Mười năm qua, đến bây giờ
Nhìn nhau thấy cả giấc mơ thuở nào....
(...)
Xuân về nhớ thuở ngát chiêm bao
Giòng nước trôi xuôi chợt nghẹn ngào
Lạc lõng vàng son màu lữ thứ
Cành mai gượng ánh mặt hoa đào
Mười phần xuân có gầy hao
Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa
Mấy phen biếc đón hồng đưa
Dẫu rằng xong, vẫn là chưa thoả nguyền

Đây là một bài thơ hay, giàu cảm xúc, chĩu nặng ưu hoài. Không mang nội dung, dụng tâm chính trị nào, nhưng đã bị Chế Lan Viên chiếu cố và mạt sát thậm tệ (1960) cho rằng cái điều Vũ Hoàng Chương đáng hổ thẹn nhất và chúng ta đau xót căm giận nhất là bốn câu này:

Có nghĩa gì đâu một chữ " về "
Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê
Nếu không ngược cả mười năm ấy
Về tận kinh đô của ước thề

Theo Chế Lan Viên, chữ " Về" là " cái việc về thành, cái việc dinh tê về Hà Nội (mà) chẳng có nghĩa gì cả, thì trong tâm hồn nhà thơ này không còn ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa và cái không có nghĩa "[1]

Đây là lối viết vu oan giáng hoạ, vì chữ " về ", trong bài thơ, không có ngụ ý chính trị, chỉ là một ước vọng tình cảm, hay xa hơn nữa là một xu hướng tâm linh. Từ xưa thơ Vũ Hoàng Chương đã là một lối tìm về :

Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về
Nguyện Cầu, 1950

Còn mấy chữ " có nghĩa gì đâu ", là phỏng theo Xuân Diệu :

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nếu nhất định gán cho câu thơ một dụng ý thời sự thì nên hiểu : việc hồi cư năm 1950, với Vũ Hoàng Chương không mang ý nghĩa một chọn lựa chính trị, mà chỉ do một nhu đầu một tình cảm riêng tư - phần nào đó hoang tưởng - " có nghĩa gì đâu " . Còn về thời gian mười năm, từ thời Mây (1943) thi nhân đã nhiều lần nói đến : " Mười năm thôi nhé mộng tan tành " ...," Tình mười năm còn lại mấy tờ thư "…. Thận trọng, chúng tôi đã hỏi lại bà Vũ Hoàng Chương và được chị trả lời là đúng như thế, và còn cho biết thêm : ‘ước thề’ ở đây không phải là chị ấy .

Ngoài ra, giai đoạn này, Vũ Hoàng Chương còn có Bài Ca Bình Bắc, kể chuyện xuân chiến thắng của Quang Trung :

Nhớ trận Đống Đa hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề máu nở hoa đào
Ngập giấc xuân tiêu hề lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề một khúc hát ngao

Bài thơ là một thiên sử thi, ngợi ca hào quang dân tộc, nhưng hay ở những âm vang vời vợi nao nao, vô cùng quan tái. Nó là một khúc " hát ngao " hơn là một anh hùng ca.
Cùng trong nỗi u hoài mùa-xuân-mất, tết năm 1963, nhà thơ mơ tưởng một Cành Mai Trắng Mộng

Chín giao thừa, tám năm dư
Cành Mai trắng mộng đêm trừ tịch suông
(...)
Khói đâu mờ tím căn buồng
Thời gian ai đốt trên luồng thần giao
Cố đô lửa cháy gan nào
Sài đô son sắt như bào, như nung

Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Xuân giọng hãi hùng cay đắng. Bài Đục Trong, làm theo lối cổ phong, toàn vần đục, khổ độc, gân guốc, gay gắt :

Chợ Tết mai lan cúc
Đắm mình trong bụi đục
Từng phiên nép mặt hoa
Thẹn không bằng khóm trúc
(...)
Liên miên khói lửa này,
Dám đâu mơ hạnh phúc
Lần lượt tre rồi măng
Đã tơi bời cốt nhục

Đoạn cuối, ê chề, xót xa thân phận :

Thân càng xót cho thân
Uổng gây hình ngọc đúc

Bài thơ có lẽ làm vào những ngày áp Tết Mậu Thân, sức khoẻ không tốt, cũng như bài Bặt Khoá Buồng Xuân, cùng một âm hao não nuột :

Miệng héo dần theo lòng khắc khoải
Năm nay rồi sắp thành năm ngoái
E khi chiều xế, tuyết thay tơ
Không cả chút tình thương nắng quái

Kẻ vô-hạn-hận không là gió
Xuân đến trà mi đời tự bỏ
Ngồi chín từng cao, thẳm đáy hang
Cùng ai gửi chút hương vò võ ?

Toàn bài vần bằng, xen hai đoạn vần trắc nói trên, là u uất nhất. Và kết thúc với hình ảnh của Tết Mậu Thân : thiều quang ngập máu đổ quyên hồng...

Bài Vỡ Mộng Liêu Trai làm giữa ngày Tết tang thương :

Ma sợ cung vôi chạy vọt lên
Người thơ giữa lúc mở bầu men,
Khai xuân chưa kịp vui cùng khách
Đạn rót trời cao đã nổ rền

Nhưng Tết Mậu Thân 1968, tang tóc nhất là Cố đô Huế. Vũ Hoàng Chương làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên hoàn liên vận dưới đề tài : " loạn trung Huế cảm bệnh trung nhân " (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc) :

Đạn réo vang vang lửa bốn bề
Như thiêu giường bệnh cháy cơ mê
Sốt dâng mạch loạn càng u uất
Máu chảy ruồi bâu thật não nề

Trước cảnh trúc chẻ ngói tan ấy, nhà thơ đau yếu, bất lực chỉ gởi lời cầu nguyện :

Mong người một nước soi gương cũ
Nguyện đấng ngàn tay độ nhiễu điều ...
(Huế Cảm)

Tết năm sau, Kỷ Dậu – 1969, sức khoẻ khá hơn, tình hình chiến trận, bên ngoài, có vẻ yên ắng, hoà hội Paris đang tiến triển và hứa hẹn, Vũ Hoàng Chương chợt nghe hồn thơ phấn khởi :

Tin Xuân gà gáy rách trời đêm
Tuổi nửa trăm vừa nửa chục thêm
Đủ thấy điềm lành hai nửa nước
Một nhà trong ấm với ngoài êm
(Mở Bút ghi Điềm)

Thi nhân ngất ngưởng, lạc quan như chưa bao giờ lạc quan ở tuổi hoa niên :

Chữ lựa vần gieo đắc ý rồi
Đèn khêu vừa tỏ nước vừa sôi
Nhựa say trà ngát thơ cao giọng
Hỏi chúa xuân rằng : ai có ngôi ?
(Hạnh phúc nào hơn)

Vũ Hoàng Chương thi sĩ còn là một Vũ Hoàng Chương kẻ sĩ, tâm hồn luôn luồn gắn bó với vận hưng suy của đất nước – cho dù ông có là nạn nhân của nhiều ngộ nhận và xuyên tạc. Mùa xuân Kỷ Dậu 1969 đưa hồn thơ về một năm Kỷ Dậu khác, 180 năm trước, mùa xuân Quang Trung, 1789, qua bài thơ chữ Hán :

Kỷ Dậu hồi thanh

Kê minh nhật thướng cựu sơn xuyên
Hồi ức Quang Trung vũ hịch truyền
Sơn vĩ sơn đầu hoa giải ngữ
Hoà âm xuân thảo nhiễu bình nguyên

Ông tự dịch :

Tiếng vang lịch sử

Đất xưa gà gáy mặt trời lên
Giục nhớ Quang Trung hịch sấm rền
Hoa mở cánh chào ngang dọc núi
Hoà âm cỏ ngát xuống bình nguyên

Đặng Tiến dịch ké :

Gà thúc bình minh sông núi xưa
Quang Trung thuở nọ, hịch truyền đưa
Sườn non lưng núi lời hoa mở
Nội cỏ hoà xuân, nhạc tấu mùa

Vũ Hoàng Chương sinh năm ất Mão-1915 – giấy tờ thường ghi 1916 – tính đến năm 1969 là 55 tuổi ta. Ông tự hào thọ hơn... Khổng Minh một tuổi, có bài thơ thu gọn đời mình, giữa những dư luận thị phi, và trầm luân thế cuộc :

Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long
Bến nằm dư biết đục hay trong
(...)
Chỉ thương kiếp đá ai bày trận
Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng

Nhưng phấn khởi, dường như chỉ được một mùa xuân ấy. Tết năm sau, 1970, bài "Xúc Động Cuối Năm " thật buồn :

Chơi xuân đất này không cỏ non
Thơ không vàng nữa, ấn không son
Hỡi ơi lòng chợt đau như cắt
Một nụ cười xuân cũng chẳng còn

Bài thơ tưởng niệm bạn tâm giao là thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) vừa mới quy tiên trong năm. Người sành thơ nhận ra bóng dáng Đông Hồ : câu đầu lấy từ một câu tập cổ của tác giả Bội Lan Hành : " xuân du thử địa vô phương thảo ", câu sau lấy ý từ bài Vàng Son hoa nở hai mùa :

Mùa vàng hoa mai hoa cúc
Mùa son hoa phượng hoa vông
(...)
Mùa vàng giàu thật giàu
Mùa son sang rất sang
(Đông Hồ)

" Một nụ cười xuân cũng chẳng còn ", là nhắc tên tập thơ " Cô Gái Xuân " (1935) của Đông Hồ.

Xuân Tân Hợi – 1971, lại thêm một mùa tang tóc :

Theo nắng trôi vàng, bạc nổi mây
Thương xuân lìa cội, Tết sa lầy
Sông Rồng bến Nghé đêm Trừ tịch
Phá vỡ vòng sao tự giải vây
Mách cho Lã Vọng về đây
Tha hồ câu, bến sông đầy tử thi

Tuý Ông ngồi rũ cánh Lan buồn
Nơi ấy đầy xương chất máu tuôn
Thà đợi một mùa Xuân Đích Thực
Âm thanh Cuồng sát tự dìm luôn
(Xuân Đối Diện)

Năm sau, 1972, khói lửa vẫn ngập trời :

Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây
Tỉnh ra ngựa đấy với thuyền đây
Nhìn nhau chuột nhỏ tung tăng dạo
Vừa uống sông xuân một bụng đầy
(Nhâm Tý khai bút)

Tác giả tự dịch ra Hán Văn :

Trường chinh mộng hậu tức phong yên
Thiên lý long câu vạn lý thuyền
Hốt ngộ tiền thân nhất yến thử
ẩm hà mãn phúc tuý xuân thiên

Lời thơ thanh thoát, dí dỏm. Nhưng tâm sự tác giả, thời điểm ấy còn u ám lắm qua bài " Xuân Quạnh " :

Hỡi ơi trầm ngát mùa cung điện
Ngõ hẹp ... Thôi rồi vẫn tịch liêu

Lầu Vọng-giai-nhân mãi quạnh nằm
Ngày xưa Kim ốc chỉ mười năm
Đắng cay thế vị lòng vương giả
Ôi nguyệt tiền thân ngọt đoá rằm

Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày đêm cuối năm. Phải nhớ rõ bối cảnh đó, mới hiểu tâm trạng Vũ Hoàng Chương qua bài " Đón Xuân Mười Chín " làm trước Tết Quý Sửu (nhằm ngày 3.2.1973) :

Bấm đốt từ di cư đến nay
Đón xuân vừa vặn hết bàn tay,
Sang sông Ngựa đã hai lần hí
Vạch đất Trâu thêm một luống cày
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Bút toan chạy ngược đau lòng chữ
Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây
Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác
Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say
Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi
Tết đến buồn không chịu vẽ mày
Xưa rồi lửa phóng tên bay
Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn
Bóng ai trên đá ngồi gan
Có nghe rung một giây đàn lẻ loi
Trời xuân chẳng én đưa thoi
Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua
Nghé kêu đầy bến vàng hoa

(dẫn trọn bài)

Bài này đăng trên Giai Phẩm Văn Xuân Quý Sửu, phát hành ngày 15.1.1973, trước khi ký hoà ước Paris. Vậy Vũ Hoàng Chương phải làm trước đó, vào thời điểm :

Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây

Câu thơ ngụ ý : lửa thử vàng, Vàng Mười không sợ lửa, chế độ miền Bắc không khuất phục trước vũ lực thô bạo. Đây là một câu thơ nặng tình dân tộc, nhưng không mấy người để ý, như một thứ cung đàn lẻ loi.

Người đọc vẫn tưởng nhà thơ sống trong mây khói, quên rằng Vũ Hoàng Chương gốc gác là một bộ óc khoa học, toán học, nên đã có những tính toán chi ly, chính xác : bàn tay, tổng cộng có 19 đốt, ứng vào con số 19 năm di cư sang sông (1954-1973). Ngựa đã hai lần hý là hai năm Giáp Ngọ (1954) và Bính Ngọ (1966). Trâu thêm một luống cày là hai năm Tân Sửu (1961) và Quý Sửu (1973). Hai vần mây và say nhắc tên hai tập thơ đầu tay ; Nửa đêm trừ tịch là tên một bài thơ. Nghé kêu đầy Bến ngụ ý bài thơ làm tại Sài Gòn, tên cũ là Bến Nghé.

Sau đó, hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương có thơ kịp thời ghi dấu :

Ma là Người ... kiếp khác
Người là Trời ... đêm nay
Nghe chừng lửa đã tắt
Hai bờ Con-Sông này
ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt
Sao lòng ai vẫn chưa hay ?
Nằm kia, người nín bặt
Vòng luân hồi đã ngược chiều quay
Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày
(Tin Xuân)

Vũ Hoàng Chương là người thiết tha với vận mệnh dân tộc và đất nước, gắn bó với kỷ niệm Hàng Khay Hàng Trống hoa nào rụng, nhất định phải kỳ vọng vào hiệp định 27.1.1973 sẽ mang lại thanh bình cho đất nước, và ngày thống nhất sẽ không xa. Dù rằng kỳ vọng ấy chỉ rung một giây đàn lẻ loi, và sau này sẽ không đúng với thực tế : đất nước sẽ thanh bình và thống nhất, nhưng trong những điều kiện khác – mà Vũ Hoàng Chương sẽ là nạn nhân.

Năm 1974, Tết Giáp Dần, thi nhân có bài Thuý Vũ Đoản Từ, trích toàn văn, vì ít người còn lưu giữ :

Cỏ Bồ ôm đá ngủ
Trong tranh từ bao giờ
Cho đến bây giờ
Còn say trong thơ
Vườn bỗng hót vang chim Thuý Vũ
Đèn xanh nến biếc đêm giao thừa
Nét bút gầy theo mực úa
Bao năm rồi tiêu sơ
Có phải xuân đang từ đáy lụa
Một chiều sâu không ai ngờ
Truyền tin về giấc mơ
ánh nguyệt mung lung cành lãng đãng
Nghe lòng trời đất ươm tơ
Nguyệt vẽ mày cong dĩ vãng
Cành đơn hoa trắng tương tư
Ôi thôi áo vải đã màu nâu thuyền đã hư
Mối manh gì nữa còn ai nữa
Đành kết vào hương Thuý vũ Từ

Tác giả giải thích : Thuý Vũ nguyên là tên một loài chim, sau thành tên một loài hoa : hoa mai trắng, nhiều cánh và nhỏ hơn Bạch Mai[2]. Nói là thơ xuân, kỳ thực bài này nằm giữa mộng và thực. Nó quý ở chỗ phản ánh tâm trạng của tác giả thời đó, ông sẽ viết " ta đành mất hết để còn nhau " (Huyền Lan Trường Từ, cuối xuân Giáp Dần 1974).


* * *

Thơ xuân thơ Tết cuối cùng của Vũ Hoàng Chương là bài Vịnh Tranh Gà Lợn, làm vào ngày Tết Bính Thìn, 1976. Bài thơ được truyền tụng nhờ được truyền khẩu. Nhưng cũng vì truyền khẩu, nên nhiều dị bản khác nhau, nhiều bản sai lạc, vô nghĩa. Bà Vũ Hoàng Chương đã than phiền và ghi lại cho chúng tôi chính văn :

Vịnh tranh Gà Lợn

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Bà Vũ ghi chú : Thơ có hoạ có ba nghĩa : thơ có xướng thì phải có hoạ, gọi là thơ xướng hoạ : thơ phản nghịch là tai hoạ ; và thơ hoạ (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác : thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Đặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : " dừng có mạch, vách có tai " ; " xanh vỏ đỏ lòng ". Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : " tranh tối tranh sáng ", " mắt xanh ", " mắt quáng gà ", " gà cùng một mẹ ", " lợn âm dương ", " con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi ". " Khúc tân thanh ằ ngụ ý ô đoạn trường " . Còn ý nghĩa, ngụ ý dí dỏm nhưng thâm trầm của từng câu, từng chữ thì chúng tôi xin miễn giải thích, sợ làm mất cái duyên ngầm của bài thơ. Chỉ mong văn giới ghi nhận : đây là văn bản chính thức của bài Vịnh tranh Gà Lợn của Vũ Hoàng Chương làm vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Bà Vũ Hoàng Chương và chúng tôi chịu trách nhiệm về 56 chữ trong văn bản. Những dị bản khác nên xem như là truyền khẩu, " tam sao ", được phổ biến trong nghịch cảnh. Sau đó nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị bắt, ngày 14-3, giam ở Chí Hoà, bị bệnh nặng, đưa về nhà mấy hôm thì mất, ngày 6.9.1976, nhằm ngày 13 tháng 8 năm Bình Thìn, lúc 23 giờ.

* * *

Tóm lại, ở thời trai trẻ Vũ Hoàng Chương ít có thơ Xuân trong các tập Thơ Say, Mây, Rừng Phong. Sau ngày di cư vào Nam, thơ xuân của ông thường là hoài niệm hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay. Khoảng mươi năm về sau, ông có nhiều thơ xuân mỗi năm vì yêu cầu của báo giới ; vả lại, ông thường dùng thể thơ ngắn, gọi là nhị thập bát tú, dễ sử dụng để ký hoạ một tâm trạng, một biến cố lịch sử. Do đó, những bài thơ hoàn cảnh lại là những bài thơ thời thế và thân thế giàu sử liệu và tư liệu.

Chúng tôi sưu tầm và giới thiệu thơ xuân của Vũ Hoàng Chương qua nhiều giai đoạn, để bạn đọc và văn giới có một chuỗi tư liệu. Nhưng nhất định là thiếu sót, nhất là những bài thơ đăng rải rác trên báo, hay rất nhiều thơ xuân thù tạc gửi bằng hữu. Quý vị nào biết xin vui lòng mách, hoặc công bố, để đóng góp vào việc hoàn thành Toàn Tập Thơ Văn Vũ Hoàng Chương sau này.

Dùng từ cho chính xác, có thể nói là Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Tết và ít thơ xuân. Và nói chung, thơ xuân Vũ Hoàng Chương, ở cái phần đọng lại trong lòng người đọc thường là :

Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay.

Người đời vẫn mơ ước những thành đạt làm nên sự nghiệp. Nhưng có những sự nghiệp lớn lao hình thành trên mất mát.

Cao quý và thiêng liêng thay, một sự nghiệp làm bằng mất mát.


Đặng Tiến
Paris, Tết dương lịch, 1-1-2001
Bổ sung 15-1-2007

________________________________________

[1] Chế Lan Viên, Phê Bình Văn Học, nxb Văn Học, tr. 89, 1962, Hà Nội
[2] Bà Vũ Hoàng Chương ( 1919- 2005 ) – nhà thơ Đinh Thục Oanh – Xuân Kỷ Mão 1999 đã có bài Mai Thuý Vũ để truy niệm phu quân :

Cao sâu từng nhập bóng cây già,
Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhoà.
Vườn trải băng sương trăm thức cỏ,
Xuân còn Thuý Vũ một cành hoa.
Lòng nghe nắng ấm say đôi chút
Cánh để men hồng nhuốm phớt qua
Vang tiếng chim xanh về hót đấy,
Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa.

Tôi đã hoạ lại, nay nhắc lại để ghi kỷ niệm và tư liệu :

Mộng Trắng Cành Mai, trên cội già,
Nắng thưa mưa nhạt, trắng không nhoà
Sang Tần lỗi bước lầm Tâm Sự,
Bút Nở Hoa Đàm lỡ xác hoa.
Ngồi Quán, Thơ Say, Thuyền Ghé Tạm
Rừng Phong, Đậm Nhạt – Hạc về qua.
Mây xa, xa mãi, xa xa lắm,
Một chị một em tình xót xa

Paris, 15/8/1999
(những chữ in nghiêng là tên tác phẩm Vũ Hoàng Chương)


Nguồn : http://art2all.net

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

TA ĐÃ BẢO TRỜI ĐỪNG LÀM TẾT !!! - ĐÔNG HÀ



Ta đã bảo trời đừng làm tết
thường dễ buồn những kẻ không quê
ba mươi ngồi nhìn xa thương nhớ
ngả đâu cũng muốn được quay về

Tết đến ta thường buồn ghê lắm
chiều ba mươi rộng đến vô cùng
nhặt đủ thứ cho vào chưa đủ
một cái gì thương nhớ mông lung

Nên ta vẫn thường hay trốn tết
bằng cơn đau vô cớ theo về
Chừ không lẽ ra đường cho hết
cái vô tình quanh quẩn sau lưng...

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 1 ) - VÕ CHÂN CỬU

“Cho tới bây giờ mầy vẫn chỉ là người chắp tay nhìn dòng đời ! ” Câu kết luận của một người bạn lúc tan tiệc cuối năm không hiểu là lời khen hay chê. Nhưng nếu nhận xét ấy đúng thì cũng là điều hay !
“Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền
Tịch dương liễu không biết mình đang biếc
Tương tư trời, tương tư nhạc triền miên…

Đó là đoạn mở đầu bài thơ thi sĩ Yến Lan viết thuở còn rất trẻ về quê hương Bình Định của mình. Người sau, dù căn cứ vào hình tượng và nhạc điệu xếp nó vào loại thơ tượng trưng hay siêu thực trong những năm mở đầu của thời “Thơ mới”, thì đó vẫn là những câu thơ hay nhất cho đến bây giờ.
Thời suy tàn
Đầu thế kỷ 20, khi Nho học suy tàn, chữ quốc ngữ lên ngôi thì “giỏi làm thơ” không còn là một trong những điều kiện để tiến thân trên đường khoa bảng, quan lại. Nhưng trong chương trình giáo dục ở Miền Nam sau 1954, môn Việt Văn vẫn được coi trọng hàng đầu. Ở lớp đệ lục (lớp 7 sau này), học sinh đã bắt đầu làm quen với nền văn học cổ. Trong đó có phần phân tích, lý giải khá kỹ về các thể thơ, từ Đường luật đến song thất lục bát, và tất nhiên cả lục bát đặc thù của người khắp mọi miền. Sự mầu nhiệm của ngôn ngữ được thểt hiện qua vần điệu. Học sinh giỏi phải thuộc cách gieo vần. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu biết diễn tả, thì sau các quy luật như “Nhất Tam Ngũ bất định, Nhị Tứ Lục phân minh”, văn vần sẽ tạo được sự kỳ diệu trong ngôn ngữ.

Đô thị Quy Nhơn hình thành tại cửa vịnh hình tam giác, hai cạnh là những dãy núi. Khu trường Cường Đễ cũ nối liền với công viên trung tâm là những nền cát đầy những thực vật dại, nhiều nhất là keo gai và cây tảo nhơn có trái hấp dẫn với tuổi học trò. Học sinh nam nữ tụ tập chơi từng nhóm riêng. Phổ thông là trò đuổi bắt. Tuổi mới lớn, bọn trai nghịch có màn rình, lén chạy đến bịt mắt các bạn gái rồi chạy trốn. Tất cả đều hồn nhiên. Tôi và một số thích môn quốc văn thì ở một góc riêng. Chúng tôi thách đố nhau xem ai có thể gieo vần được thành những bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn hay tứ tuyệt, và cả những câu thơ lục bát “bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng…” Từ năm đệ Ngũ (lớp 8), thầy giáo bắt đầu cho làm quen với thơ văn chữ nôm với những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…để chuẩn bị cho chương trình văn học chữ quốc ngữ của những Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương để tới các thế hệ của Tảen Đà, Phan Bội Châu và nhóm Thơ mới, Tự lực Văn đoàn sau đó…(Qua chương trình Trung học đệ nhị cấp, các bài học căn bản này sẽ được nâng cao).
Là chốn “nương mây và cậy nguyệt” nên từ chương trình học ấy, nhiều “bút đoàn”, “thi văn đoàn” sơ khai đã ra đời. Thành phố Quy Nhơn từ năm 1965 là đô thị lớn thứ 3 chỉ sau Sài Gòn, Đà Nẵng nên cũng phát triển về văn hóa, giáo dục. Trường Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, thu nhận giáo sinh giải Miền Trung từ Huế trở vào được lập ra. Thêm hệ rhống trường Kỷ thuật mới mở, nhận học sinh từ lớp đệ ngũ. Năm 1966, Nguyễn Lương Vỵ từ Tam Kỳ vào học Kỷ thuật Quy Nhơn, quen Hồ Ngạc Ngữ ở lớp học nên kết bạn với nhóm Hồn Quê của tôi, Ngữ và Lê Xuân Tiến (lúc này là Lê Phiên Vươn)…Sau vài tháng chép tay, chúng tôi kháo nhau gửi bản thảo vào đăng các báo, tạp chí ở Sài Gòn, rồi gửi thư giao lưu khắp các bút đoàn ở Sài Gòn và các tỉnh. NLV ở nhờ nhà người chú. Ở đó có một cô gái học cùng lứa chúng tôi mà anh gọi là “cô”. Cô này khá xinh xắn, mua hát hay nên cả Ngữ và Tiến đều hay đến để kiếm cớ giao lưu. Những bài thơ tình học trò đầu tiên đã ra đời…Khi lên Trung học đệ nhị cấp, đa phần các “bút đoàn” đều tự giải tán vì ai nấy bắt đầu lớn xồ, và đã có bài đăng ở các báo, tạp chí Sài Gòn.
Các thi sĩ nổi tiếng trước đó ở đất Quy Nhơn và Miền Trung, người thì bị bệnh nan y (Hàn Mặc Tử, Bích Khê), người lãng mạn “quá trớn” hoặc gần như hoang tưởng (Xuân Diệu, Chế Lan Viên..), nên đa phần các bậc cha mẹ lúc này không khuyến khích con mình theo nghiệp văn chương. Nên chúng tôi dù đã sáng tác đầy tập vở, nhưng phải giấu đi để phụ huynh thấy mình chỉ lo học tập, thi đậu lấy mảnh bằng, nếu không sẽ rơi vào cảnh “rớt tú tài, anh đi trung sĩ…”
Chiến sự ngày càng lan rộng, quân đội Hoa kỳ và đồng minh Đại Hàn hiện diện đông hơn. Quê mẹ tôi ở vùng núi sát biển bên kia đầm Thị Nại. Cứ vài ngày nhà lại nhận được tin có một người quen chết vì bị Việt Cộng ám sát, hoặc do “quân đội” đi càn. Rồi, những người dân quê chèo thuyền qua thành phố tham gia biểu tình, chính quyền đưa máy bay trực thăng ra, bắn xối xả, máu loang đỏ mặt đầm. Chiến tranh là một thứ “tai trời”, khó ai tránh được. Thân phận con người như bèo bọt…Nhưng chẳng hay ho gì cái chuyện giết chóc nhau. Tôi tự nhủ mình đừng bao giờ nên dùng ngòi bút để ngợi ca cái ác.
Mùa xuân rồi cuối mùa hè năm Mậu Thân (1968) diễn ra những cảnh rợn người. Xác Việt Cộng được kéo ra bày phơi giữa phố để người dân đến xem. Ở các vùng nông thôn, các viên chức “quốc gia” bị ám sát liền bị du kích cắm cọc cốt xác dựng đứng, hay đeo “bản án” thả trôi ra đầm Thị Nại cho song cuốn. Các học sinh trung học ở nhiều trường sau khi bị lôi kéo xuống đường “hoan hô”, “đả đảo” cũng chia thành nhiều nhóm: phản chiến, thân cộng, hoặc ủng hộ chính quyền. Năm này, vừa lên lớp đệ Nhị ban C, tôi gặp phải một sự cố khó xử. Tại cuộc họp Ban đại diện các lớp toàn trường, chính vị giáo sư hướng dẫn lớp đứng ra cử tôi làm trưởng ban báo chí toàn trường ! Tôi rất biết ơn vị thầy này, vì trong những năm dạy đệ nhất cấp đã hướng dẫn học sinh khá kỹ về chương trình văn học sử và niêm, luật các thể thơ. Nhưng làm trưởng ban báo chí có nghĩa là đứng chân Ban đại diện học sinh, phải biểu lộ thái độ trước các sự kiện chính trị. Nên tôi cương quyết từ chối không nhận chức. Từ đó, vị giáo sư hướng dẫn và một số thầy, bạn nhìn tôi với ánh mắt thiếu thiện cảm, cho rằng tôi tự cao “đã nổi tiếng”.
Hai người thầy
Tuổi sắp vào đời, tâm hồn nhiều ước mơ phiêu lãng. Lấy lý do chuyện “trục trặc” ở nhà trường, tôi thuyết phục được cha mẹ cho tôi vào Sài Gòn để học tiếp. Nhờ sự giới thiệu khá đặc biệt, và có lẽ cũng căn cứ vào học bạ, trường trung học công lập Chu Văn An đồng ý cho tôi vào lớp, trễ 1 tháng sau khai giảng.
Ở trường nào cũng rất ít học sinh theo ban C (văn chương-sinh ngữ). Vào học trễ, tôi chọn chỗ ngồi nơi cuối lớp. Tôi dáng to xương, mặt nông dân chữ điền, cung cách khá “quê mùa tỉnh lẻ”. Vậy mà không hiểu vì sao, chỉ sau mấy ngày, nhân vật trưởng ban báo chí của lớp lại đến làm quen, bảo tôi tham gia viết bài, sáng tác cho tờ nội san của lớp ! Tôi lại phải tìm cách từ chối. Sau đó tôi mới biết anh này là người có cảm tình với phía “bên kia”, các sáng tác đều theo hướng “dấn thân”, tranh đấu. Ham làm chính trị, nên cuộc đời anh về sau trải qua nhiều thăng trầm. Sau năm 75 anh là sáng lập viên, Ủy viên Ban biên tập tờ báo của Thành Đoàn, rồi bị loại bỏ, vỡ mộng dấn thân…
Giảng dạy môn Việt văn cho lớp đệ Nhị C trường Chu Văn An chính là thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thầy đảm nhận công việc này liên tục từ sau 1954 đến 1975 ! Thầy thường mặc bộ đồ veston màu vàng sữa, thắt cà vạt, tay áo cài măng-sét, đầu đội mũ phớt màu nâu, ung dung ngồi trên xích lô đạp đến trường. Vào lớp, khi tất cả học sinh đã đứng dậy, thầy bỏ mũ lên bàn rồi cầm ngay viên phấn, vẫy tay cho phép học sinh ngồi xuống. Thầy chép ngay mấy câu thơ trong chương trình học lên bảng, nét chữ rất bay bướm. Chỉ bấy nhiêu đó, rồi thầy đi lên đi xuống từ đầu đến cuối lớp, ngẩng mặt lên trời và giảng về cái hay của mỗi bài thơ. Cuối giờ, thầy chỉ cách sách cần đọc thêm, học sinh phải tự tìm hiểu để hiểu cái hay cái đẹp của văn chương. Cách giảng dạy ấy rất khác với kiểu từ chương, “học thuộc làu”. Vậy mà kỳ thi tú tài 1 năm ấy, hơn một phần ba lớp, trong đó có tôi, đã đậu với hạng bình thứ, điều rất hiếm đối với học sinh ban C. Cũng năm này, bút hiệu mới tôi chọn (V.CH.C) lần đầu tiên xuất hiện trên tờ Khởi Hành với bài thơ “Chùa cổ bên sông”.
Năm 1969, Vũ Hoàng Chương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản tập “Ta đợi em từ ba mươi năm”. Thi sĩ sinh năm 1916, năm 1940 xuất bản tập thơ đầu tiên và nổi tiếng vang dội ngay. Người ta nhận ra dù sử dụng các thể thơ cổ điển, nhưng Vũ Hoàng Chương có sự cách tân cả về từ và ý. Chương trình lớp đệ nhị có phần giảng về thơ mới, nhưng ít khi thầy giảng về thơ mình. Có đôi lần, có lẽ vào giờ “ngoại khóa”, thầy chép mấy câu thơ của mình lên bảng, rồi lại đi tới đi lui. Sau đó thầy dùng phấn gạch chéo một chữ trong bài rồi thay bằng một từ khác mới nghĩ ra. Thầy nói rằng từng chữ trong câu phải phù hợp với kết cấu của vần điệu từng câu và trọn bài. Có như vậy bài thơ mới hay, khiến người ta nhớ mãi.
Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy, hoài trăng rằm
Heo may chớm đã lên mưa gió
Ngăn ngắt chiêm bao, lạnh chỗ nằm
Bốn câu trong bài thơ “Chờ đến hoài công” một trong những bài thơ chủ lực trong tập thơ này cũng được thầy hoàn chỉnh trong tình huống như vậy. Có lần trong giờ nghỉ, ở phút trò chuyện về thơ hiện đại, thầy bộc lộ một ý, là hình thức diễn đạt thơ không nên quá khúc mắc. Vì nếu như vậy thì chỉ có một số người trong nghề và giới trí thức hiểu và thích. Tập thơ cuối, xuất bản đầu năm 1975 của Vũ Hoàng Chương như một lời tiên tri : “Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau”). Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, diễn giả chính của buổi mừng sự nghiệp Vũ Hoàng Chương, khi đó đã kết luận :Vũ Hoàng Chương là người sinh ra để làm thơ !

Lời khuyên các phụ huynh thời tôi còn đi học xem vậy mà rất đúng. Biết làm thơ, chẳng đem lại ích lợi gì trên đường tiến thân ! Đến sau này có khi nó còn là cái cớ để bị khắp nơi dò xét !
Sau khi Việt Nam vào thời “đổi mới”, mặc dù suốt thời gian dài sau 1975, tôi không gửi thơ đăng báo, nhưng trong một gặp gỡ tình cờ, một “quan thơ” thời danh nheo mắt dòm tôi:
- Ông là nhà thơ ?
Từ bản năng sinh tồn, tôi trả lời ngay:
- Sách vở đều tổng kết 80 % người dân Việt Nam có tâm hồn thi sĩ !
Nghe câu này, vị “quan thơ” khoái chí gật gù: một trong 80 % !
Khoảng năm 1990, có dịp ra Nha Trang, tôi kể chuyện này với thi sĩ Quách Tấn. Ông không nói gì, chỉ lẳng lặng vào mở cái tráp (hộp đựng đồ quý, thường làm bằng gỗ), lấy ra một tờ bản thảo đưa tôi xem:
Thương mình nặng nghiệp văn chương
Đã tơ khúc ruột còn sương mái đầu
Mênh mông biển nhuộm màu dâu
Trăm năm thế ấy nghìn thu thế nào ?

Tôi trầm ngâm đọc và trả lại, không hề nói câu nào. Người thi sĩ già có sự cảm thông và chia sẻ quá lớn !
Bài thơ có tựa đề Thương mình trong tập thơ lục bát Trăng Hoàng Hôn mà ông mới viết. Quách Tấn sinh năm 1910, là một trong 4 nhà thơ (cùng Yến Lan, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử) trong nhóm “Bàn thành tứ hữu” ở đất Bình Định. Ông chuyên làm thơ Đường luật, từ 1932 đến 1974 chỉ làm một tập thơ lục bát hơn một trăm bài lấy tựa là “Nhánh lục”. Trong thời gian từ 1975-1977 ông lại làm nhiều thơ lục bát, cùng với Trăng hoàng hôn là tập Nhánh lục. Thơ lục bát của Quách Tấn về tứ cũng mang nhiều điển tích của thơ cổ nhưng sử dụng ngôn ngữ rất nôm na, dễ hiểu; độc giả dễ chạnh long trước nỗi cô đơn trước thời đại mà nhà thơ sống.
Tôi vẫn xem Quách Tấn như một người thầy lớn, dù chưa chưa được ông dạy ở lớp học giờ nào. Năm 1970, tôi vào trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, nhưng vẫn ghi danh thêm trường thứ 2 tại Đại học Vạn Hạnh. Chỉ vì danh sách giảng dạy ở trường Vạn Hạnh có thi sĩ Quách Tấn là Giáo sư thỉnh giảng. Chẳng may khi đó, thi sĩ bị bệnh Glaucome (cườm mắt) trở lại, việc đi giảng bài phải bị cắt.
Sinh viên thời trước có thể lấy Cours về học ở nhà, khỏi đến lớp nghe giảng. Nên tôi vẫn ngược xuôi về 3 đô thị lớn ở Miền Trung là Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang để nói chuyện hão với anh em làm văn nghệ. Nếu Đà Nẵng, Quy Nhơn bùng phát nhiều thi sĩ mới, thì Nha Trang lại nổi trội các cây bút văn xuôi. Có lẽ do vậy nên khi tôi đến nhà, thi sĩ rất vui. Ngày đó, đi học là phương thức lãnh giấy hoãn dịch hiệu quả nhất, nên tôi có ý định sẽ tiếp tục trải qua các bậc sau đại học. Tôi ngỏ ý sau này sẽ nhờ thầy hướng dẫn để làm luận văn cao học về thơ của các nhà thơ hình thành nên nền văn học chữ Nôm ở các thời Lý, Trần, Lê…Thi sĩ rất hoan hỉ, và ngay từ đó đã giới thiệu với tôi nhiều tư liệu, đề tài liên quan. Đầu năm 1975 khi tôi ngỏ ý sẽ đứng ra chủ trương một tập san chuyên về Thơ đầu tiên ở Việt Nam, Thi sĩ Quách Tấn trao ngay cho tôi bản thảo “Khóm mận ba nhành” để đăng ngay trong số đầu tiên, và còn góp ý cách làm nội dung để tờ báo có đứng vững.
Sau biến cố 1975 mỗi lần qua miền Trung tôi vẫn ghé thăm thầy, được nghe nhiều lời dạy bổ ích trong đối nhân xử thế, hiểu rõ hơn về tính cách của các thi sĩ bạn thân cũ. Tôi nhớ nhất là lời dặn: hết sức cẩn trọng khi đưa bài vở ra các phương tiện thông tin. Dù một tờ báo nhỏ cũng không được coi thường, vì “tiếng dữ đồn xa” sẽ làm mất thanh danh của mình. Các tư liệu nghiên cứu, sáng tác cũng vậy, chỉ nên trao cho người đáng tin cậy. Thời buổi vàng thau lẫn lộn, không thiếu những kẻ chỉ lăm lăm “xơi hết của người (XHCN)”. Một vài tư liệu nghiên cứu của thầy, trước đó do đưa không đúng chỗ, đã bị nhiều nơi tước đoạt thành nội dung luận án tiến sĩ !
Năm 1992 thi sĩ Quách Tấn từ giã thế gian để đi vào “Mùa cổ điển”. Tôi viết ngay bài tưởng nhớ, trong đó trích dẫn bài thơ Trước-Sau làm sau biến cố 1975, mà thầy đã đọc và tôi thuộc lòng ( bài thơ này trước đó chưa hề đăng báo) :

Trước Tết mai là hoa
Sau Tết mai là củi
Trước bao nhiêu nâng niu
Sau bao nhiêu buồn tủi

Nâng niu mai chẳng mừng
Hất hủi mai không tủi
Nghìn trước nối nghìn sau
Khe trong lồng bóng núi.

Nhà văn Cao Huy Khanh khi đó là Thư ký toà soạn tờ Người Lao Động cuối tuần liền cho in ngay bài viết này. Và đến cuối 2011, tôi mượn tựa đề Trước Sau như một sự tưởng nhớ đến thầy Quách Tấn.

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

NỖI NHỚ SƯƠNG ĐÊM - LÊ THỊ KIM

Anh như một kẻ lang bạt không chốn rơi
Anh như người phiêu bạt trở về không nguồn cội
Anh bất cần đời
Ngang tàng ủ rũ

Làm sao anh biết được
Đêm mưa bay gió phủ buốt đường phố
Em lang thang
Lang thang trong hành trình mộng tưởng của mình
Cùng nỗi nhớ anh
Trong căn nhà tối đen như những tiếng dương cầm bỏ quên
Đôi khi em ngồi ngây như tượng gỗ
Mặc bóng tối vây phủ
Mặc cả tiếng rả rích từ chiếc vòi nước cũ
Trầm mình trong tiếng dặn lòng
Hãy quên
Hãy quên…

Anh làm sao biết được
Em đôi khi như một đứa trẻ
Cợt đùa hờn dỗi
Tha thẩn trong những trò chơi của mình
Nói cười cùng con tem nhỏ
Cùng những bức họa xinh
Vẫn chợt ngỡ có anh
Khói thuốc vàng tay
Lặng lẽ ngồi nhìn
Hiền như sương sớm…

Ơi, mùa đông giá rét
Như tiếng hú ngoài rừng xa buốt nhức
Anh làm sao biết được
Nỗi nhớ dẫn em qua đâu
Nỗi nhớ đưa em về đâu
Nỗi nhớ có tan như ngọn bấc lụi dầu

Ơi anh – nỗi nhớ sương đêm của em
Ơi anh – đóa hoa đầu tiên trong ngày
Đóa hoa với nắng hồng, với heo may
Đóa hoa ấp ủ - Em cùng mùa xuân
Dẫu bị vây phủ bởi âm u tàn lạnh

Xin đừng…
Xin đừng tan vào hư không

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

THỨC - HẠC THÀNH HOA

Đêm nay phố đợi giao thừa
Cành mai cũng thức đợi chờ ra hoa
Và em cũng thức trong ta
Chút gì lãng đãng như là sương bay
Còn ta cũng thức đêm nay
Ngồi nghe pháo nổ mà ngây ngất buồn
1973

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

BÁNH TRÁI MÙA XƯA - NGUYỄN NGỌC TƯ


Tết một lần, cùng hai lần đám giỗ, cậu lại ra nhà người anh cùng cha khác mẹ với mình. Lành như củ khoai, lành như đất, lành như một người kém trí, như cái tên Út Khờ. Đi lần nào cũng quên vài thứ, không quên mang dép thì cũng quên đội nón, nhưng có thứ cậu không bao giờ quên mang tới nhà anh chị cậu, là bánh. Giỗ này cậu đem bánh bột đậu, giỗ sau cậu góp cốm ngào đường, tết thường có bánh kẹp cuốn, bánh bông lan, bột đậu. Những thứ bánh trái quê mùa, nằm vơ vất trên bàn thờ, giữa những món đồ cúng đẹp đẽ khác. Vơ vất như thân phận của cậu: con riêng của ông nội với người đàn bà khác.
Anh chị và đám cháu không mê bánh nhà quê đó. Chỉ con nhỏ giúp việc nhà anh cậu là đón mừng nhiệt tình. Ăn một cái bánh nghe ngon nhức cả ký ức. Bánh của cậu gợi nhớ má nó đang nằm ho ở cái quê mị cà tha nào đó. Nó biết để có mớ bánh này, mợ (cũng hiền hậu thiệt thà y như cậu) đã phải nhồi bột đánh trứng từ hôm qua. Bột trứng dẻo nhẹo, cầm bàn chụp đánh mỏi nhừ tay, thì bột mới dậy, nở bung trong diệm, rồi được đem đi nướng. Than rực dưới đáy khuôn bánh, rải ủ đều trên cái nắp bằng gang nữa, cho hai mặt bánh vàng đều. Những mẻ bánh đầu hoặc khét quá hoặc chưa được vàng ươm như ý, mợ để lại nhà. Mớ bánh cậu mang đi phải là mớ bánh đẹp nhất, nuột nhất sau khi mợ trăn trở lửa trên lửa dưới. Mợ còn cắt giấy màu thành những sợi mảnh, rải vào keo bánh vừa để hút ẩm vừa trang trí cho đẹp.

Cậu mợ không biết rằng ra khỏi xóm làng rồi, vẻ đẹp ấy trở nên lạc lõng, bơ vơ. Chị dâu cậu thường càm ràm, đã nói đem bánh trái ra chi mắc công, có ai ăn đâu… Cậu hiền lắm, nói mười hiểu hai, cười cười, cúng ba má mà đi tay không, coi sao được chị.

Má con nhỏ giúp việc cũng thường nói vậy, khi lụi hụi chuẩn bị bột, nhân, lá để làm bánh này nọ đi cúng quảy ở nhà họ hàng. Cái hồi người ta chưa bán bột làm sẵn, má nó còn phải ngâm gạo nếp qua đêm, có khi ngâm với khóm cho gạo mau mềm, để xây làm bột. Làm bánh, nói gọn lỏn vậy mà có bao nhiêu chuyện lắt nhắt phải lo, đến nỗi tàu lá đem ra phơi nắng cho vừa héo để gói bánh, trẻ con cũng không phụ được, vì không biết cỡ nào mới vừa. Má nó lo toan hết. Chị em nó mười, mười hai tuổi đã được má dạy làm bánh, thành con gái rồi má nó vẫn lo “mấy đứa làm chưa khéo…”. Chị nó lấy chồng năm rồi, chuẩn bị cho đám gã, má nướng bánh bột đậu, bánh kẹp từ năm ngày trước.
Một cái đám ở quê thường được nhắc nhớ bởi những món ăn ngon. Bây giờ người ta vẫn nhắc món bánh bò bông má nó làm hôm gã chị. Mịn và xốp, và những múi bánh như cánh hoa nở đều đặn, tươi tắn. Làm ra một món ăn ngon, hay một cái bánh ngon, thì đến lửa nhỏ lửa lớn mình cũng phải chăm chút nữa. Má con nhỏ giúp việc không nói vậy, nhưng nó tự học từ cái cách bà nắn nót rút bớt cây củi ra khỏi bếp, hoặc thêm vào mấy cục than.
Hồi đó, mỗi lần má con nhỏ làm bánh là cả một cuộc hội hè. Ngoài những thứ bánh được gọi là sang chỉ có ở những giỗ, Chạp, hay dịp tảo mộ, còn có những tiệc tùng đơn sơ hơn, ít tốn kém hơn, mà vẫn thấm đẫm hương vị. Xay lá mơ tam thể với bột, đắp vào lá mít hấp lên chan nước cốt dừa, vậy là con nhỏ được ăn bánh rau mơ. Bột trắng cán bằng chai, xong xắt sợi thả vào xoong nước đường, bột chín nổi lên mặt nước vậy là thành bánh canh ngọt cho đám nhỏ sì sụp. Hôm nào có cá lóc thì má nó nấu bánh canh mặn. Rồi thì bánh chuối hấp, chuối chiên, bánh cam nhân đậu… Bột bánh ít thừa ra từ lần làm bánh trước, má nó đem treo giàn bếp, hôm nào mưa dầm bà đem chiên lên, chị em nó lại được gặm món bánh tổ nóng hổi.

Con nhỏ giúp việc, lần đầu tới nhà chủ, nó khoe nó biết làm nhiều loại bánh, kể cả mấy loại bánh ngon hết xảy như kẹp cuốn, tai yến, tàng ong… tất nhiên là không ngon bằng má nó làm. Nhưng bà chủ phủi đi, nhà bà không làm bánh bao giờ, muốn thì bước ra cửa, thiếu cha gì món ngon, ì ạch làm gì cực thân. Bà cũng từng nói với thằng em chồng khờ khạo của mình câu đó.

Và cậu Út hiền lắm, nói mười hiểu ba, lại nhoẻn cười bảo, nhưng vui lắm, chị.

Con nhỏ giúp việc cũng từng nghe câu nói đó từ người mẹ của mình. Cực mà vui. Chỉ là không biết giải thích làm sao với người khác niềm vui sướng khi lấy từ khuôn gang nóng rực ra những cái bánh thơm lừng, ngui ngút khói. Mẻ bánh đầu đời đó, con nhỏ vẫn còn nhớ, những hạt đậu phộng rang nó ấn vào giữa cái bánh như một nhụy hoa, nhưng bánh nướng xong thì đậu rơi mất, bánh bột đậu trở thành bánh bột. Má nó nói phải học từ chuyện nhỏ xíu vậy, mới làm được cái bánh vừa đẹp vừa ngon.

Ta chỉ cần ví cảm giác đó với cảm giác cô nghệ sỹ múa ba lê vừa hoàn thành một cú xoay khó. Kinh điển, với chỉ chừng ấy động tác, nhưng từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, người nghệ sỹ vẫn đổ mồ hôi để cố hoàn thiện nó. Nhưng cậu hiền đến ngớ ngẩn, nên chỉ có thể nói cực mà vui, để nhận được từ con nhỏ giúp việc một cái gật đầu đồng tình, đúng đó, vui. Người chợ thì nhăn mặt ngán ngẩm, nói gần nói xa mà không dẹp được vụ bánh trái quê mùa này.

Cũng phải, dẹp cả một nền văn hóa thảo thơm đồng bãi, đâu có dễ

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

MẦU XỨ SỞ - ĐẶNG TẤN TỚI


Tôi còn lại bên bờ non biển thẳm
Đợi bao lần xa mất giữa trăm năm
Sầu hoang loạn xứ sở nào bước gặp
Mạch thơ mầu cổ lục mắt đăm đăm

Người từ buổi lên đường mang lửa đốt
Gió sương mùa thao thức mầu long lanh
Sông reo sóng trường sa hồn phiêu hốt
Dội diêu tàn biền biệt xuống xuân xanh

Tôi nay đứng trên đường thương thế kỷ
Ngả mười lăm mười bảy đã qua nhanh
Lời mời gọi vô cùng cơn lâm lụy
Ánh hoa đời ngời rạng suối tình anh

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2011 (KỲ 99)


NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


991 - Nguyễn Hiên Dỹ “TRẠM ÔNG DỸ” Cán bộ y tế sinh tại Hải Dương. Sống ở Hải Dương (2007).
Bộ đội cụt một chân trên chiến trường miền Nam.

Sau chiến tranh, là thương binh 61% trở về quê nhà làm ruộng.

Lấy vợ một cô thôn nữ trong làng, bấy giờ thấy mình tàn tật làm nông không nuôi nổi vợ con nên xin đi học làm cán bộ y tế cơ sở. Ra trường được đưa về làm ở trạm y tế xã Tân Hưng cùng quê.

Làm việc rất tích cực vừa làm tốt công tác lại còn kiêm luôn nhiệm vụ “xe đạp ôm… một chân” chở bà con đi cấp cứu! Từ đó năm 1990 được cử làm trạm trưởng.

Ngày đêm ra sức xây dựng nơi đây thành trạm y tế xã được mọi người tin cậy, tiếng thơm “Trạm ông Dỹ” lan ra toàn huyện, lên tới tỉnh. Năm 2004 được công nhận trạm y tế chuẩn quốc gia, mỗi năm tiếp nhận săn sóc cho khoảng 16.000 bệnh nhân ở địa phương.

Giữa năm 2005 trên đường đi công tác gặp tai nạn xe máy… gãy nốt chân còn lại! May mà chưa gãy lìa nên nằm viện 3 tháng xong lại chống gậy đi tập tễnh đến “Trạm ông Dỹ”.

992 - Nguyễn Tấn Bình 2 LẦN MÙ MẮT Lao động nghèo sinh 1968 tại Đà Nẵng. Sống ở Đà Nẵng (2011).
Năm 14 tuổi cuốc đất trồng cây trúng mìn nổ làm mùa mắt phải, may mà mắt trái còn thấy được lờ mờ.

Hòa bình rồi, mắt trái ngày càng giảm thị lực nên đi bệnh viện mổ hy vọng đỡ hơn nào ngờ mổ xong… mù luôn! Hai mắt mù qua 2 thời chiến tranh và hòa bình, cái giá quá cay đắng.

Dù vậy vẫn gắng gượng đứng dậy chống gậy mà sống, xin vào học ở trung tâm hướng nghiệp của Hội Người mù tỉnh tìm nghề sinh sống tạm bợ. Tại đây gặp một cô gái đồng cảnh ngộ mù mắt bẩm sinh đem lòng yêu thương tình nguyện “dẫn đường cho cả đời” nhờ “kinh nghiệm” được nhìn thấy đường đi nước bước cuộc đời thế nào trước khi mất hết ánh sáng đôi mắt.

Vợ chồng ra nghề làm tăm tre rồi vay vốn sắm chiếc xe đẩy đi bán tăm kèm hàng gia dụng khắp nơi, vợ kéo xe phía trước còn chồng gồng mình đẩy xe phía sau.

Rồi cũng sinh được một con mắt sáng bình thường làm nguồn an ủi làm động lực để làm ăn bươn chải mà tồn tại với hy vọng vươn lên qua khỏi cảnh đời tối tăm tủi phận.

993 - Nguyễn Thị Tự GIA ĐÌNH CÁCH MẠNG BỊ TỐ NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN Lao động sinh 1932 tại Sài Gòn. Sống ở TPHCM (2010).
Cha mẹ hoạt động cộng sản từ rất sớm thời Nam Bộ kháng chiến, nhà ở Hóc Môn từng được dùng làm địa điểm họp đảng bí mật của cán bộ lãnh đạo cao cấp Võ Văn Tần, Lê Duẩn... Bản thân từng được Nguyễn Thị Minh Khai xem như cháu đặt tên theo tên mình là Minh Tự, có lần còn bị bắt chung với mẹ phải vào ở tù cùng mẹ luôn.

Sau đó cha bị địch bắt mất tích, mẹ cũng bị bắt chịu tra tấn sinh bệnh mất sớm. Từ đó mất liên lạc với cộng sản.

Lớn lên đi dạy học rồi lấy chồng cùng nghề. Rồi chồng bị bắt lính ra sĩ quan do xuất thân nghề giáo nên được chuyển về dạy trường Võ bị Đà Lạt chuyên đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp cho chế độ Sài Gòn. Nhưng chỉ được một thời gian thì chồng tử nạn máy bay để lại vợ và 6 con nhỏ dại.

Sau 30.4.75 tiếp tục dạy học nhưng chưa xác minh được quá trình cha mẹ từng tham gia cách mạng nên khi dám lên tiếng đấu tranh chống tiêu cực ở trường liền bị chụp mũ đơn giản là thuộc thành phần gia đình ngụy quân ngụy quyền phản động. Thế là bị cách chức hiệu trưởng, hạ tầng công tác xuống làm nhân viên thư viện, giám thị và cuối cùng… cho nghỉ việc luôn!

Đành chấp nhận đi bán vé số, bán chè, nuôi heo để lo cho cả đàn con, không oán trách than thở bởi nhớ đến tấm gương hy sinh của cha mẹ mà chẳng nhận được đền bù gì: “Cho dù cả thế hệ tôi khi mất đi mà giấc mơ của má vẫn chưa thành hiện thực thì niềm tin hướng về một cuộc sống tốt đẹp vẫn là điều phải phấn đấu…”

994 - Nguyễn Thị Vân Toàn THƯƠNG BINH THỜI CHIẾN, TAI NẠN THỜI BÌNH Nông dân sinh tại 1954 Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2008).
Mới 14 tuổi đã làm giao liên cho cộng sản. Chỉ một thời gian ngắn bị thương bị bắt phải cưa cụt cánh tay phải. Đến 1973 mới được trao trả tù binh sau 5 năm tù đày.

Được được ra Thanh Hóa nghỉ dưỡng thương. Tại đây gặp và kết hôn với một cựu tù Phú Quốc.

Sau ngày hòa bình, 2 vợ chồng về quê Quảng Trị làm ruộng sinh sống, sinh được 4con. Bản thân mỗi ngày gửi con cho bà ngoại rồi còn một cánh tay vẫn đạp xe hàng chục cây số ra chợ Đông Hà bán rau quả, tối về nhà nuôi heo chẳt bóp từng đồng nuôi con.

Năm 2003 cả 2 vợ chồng được cho theo đoàn cựu tù đi một chuyến ra Bắc tham quan đây đó không ngờ trên đường đi xe đò bị tàu hỏa đâm lăn xuống ruộng làm chết 13 người. May mà 2 vợ chồng sống sót nhưng chồng bị thương nặng 81%, phần mình may chỉ bị chấn thương mặt và vai. Chồng phải nằm viện điều trị chấn thương sọ não, phẫu thuật cắt lá lách và gan.

Ra viện chồng nằm liệt gần 2 năm, một mình vợ phải vừa lo săn sóc chồng vừa chạy vạy tứ tung kiếm tiền nuôi con tránh cảnh phải bỏ học.

Vậy mà cả 4 con đều ăn học đàng hoàng, 3 con đầu đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng ra đi làm, con gái út sắp tốt nghiệp phổ thông: “Con chính là liều thuốc tinh thần hiệu nghiệm nhất giúp tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.”

995 - Nguyễn Thu Vân NỮ VÕ SƯ SỐ 1 Cán bộ về hưu sinh 1945 tại Hà Nội. Sống ở TPHCM (2011).

Được bố dạy tập võ từ năm 13 tuổi. Năm 1959 vào học trường ca kịch dân tộc Hà Nội gặp được sư phụ Tám Danh (Nguyễn Phương Danh) dạy thêm cả nghề võ lẫn cải lương.

Ra trường về đoàn Cải lương Nam Bộ làm diễn viên, lấy chồng bộ đội đặc công.

Sau 1975 ở lại TPHCM tiếp tục hoạt động trong cả 2 lĩnh vực võ thuật và sân khấu. Thụ giáo thêm với nhiều thầy võ VN tên tuổi khác, từ đó tổng hợp tinh hoa các phái võ dân tộc 3 miền thành phái võ riêng mình gọi là “Thu Vân quốc tế võ đạo”.

Đồng thời bắt đầu nghiên cứu kết hợp đưa võ thuật vào nghệ thuật sân khấu thông qua vũ đạo gọi là “Võ nghệ thuật” dạy ở trường Nghệ thuật Sân khấu. Còn mở lớp dạy võ thuật riêng, vừa biểu diễn vừa viết sách phổ biến võ thuật, tham gia lập CLB Cascadeur (diễn viên đóng thế những pha nguy hiểm trong phim) đóng phim.

Năm 1988 được Liên đoàn Võ cổ truyền VN phong là nữ võ sư duy nhất đạt bạch đai 18/18. Từ năm 1992 được nhiều lần mời qua Pháp biểu diễn và huấn luyện võ cổ truyền VN.

Năm 2005 được phát hiện ung thư vú phải nằm viện điều trị, vừa đỡ đôi chút liền lên đường đi dạy võ trở lại thì gặp tai nạn xe máy chấn thương sọ não vào viện tiếp. Vậy nhưng vẫn không từ bỏ các hoạt động võ thuật – sân khấu, vẫn gắng gượng đi dạy võ miễn phí cho trẻ em khuyết tật, soạn sách võ học…

Bản thân bệnh tật mà chồng và con trai đầu cũng mắc bệnh kinh niên nên phải bán nhà, vay nợ để vừa lo gia đình vừa có tiền in sách, lập cả trang web về võ thuật nhằm mục đích phổ biến rộng rãi.

Tất cả nhằm “trả ơn đời” với ước nguyện xây dựng môn võ cổ truyền VN thành “quốc võ” xứng đáng được đưa vào dạy ở trường học giúp hun đúc thêm tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ.

996 - Nguyễn Tiến Văn ĐEM GIA TÀI SÁCH CHO NHÀ NƯỚC Dịch giả Việt kiều Canada sinh 1940 tại Hà Nội. Sống ở TPHCM (2011).
Người trong nuớc hiến sách cho Nhà nước cũng có nhưng nhiều nhất chỉ khoảng 10.000 cuốn, còn đây là Việt kiều từng vượt biên bây giờ lại mang sách mua từ nước ngoài về tặng cho thư viện Nhà nuớc đến 18.200 cuốn sách chất đầy trong một kho rộng 46m2.

Bản thân là dân mê sách từ hồi 15 tuổi. Lớn lên tuy không tốt nghiệp đại học song cũng từng cùng bạn bè mở một nhà xuất bản tư nhân chuyên in sách dịch ở Sài Gòn trước 1975.

Năm 1985 cùng gia đình xuất cảnh qua Canada để lại 6.000 cuốn sách cho bạn bè. Rồi đến xứ người lại tiếp tục đam mê sách, không đi làm mà chỉ ở nhà đọc sách và chăm lo tủ sách bắt đầu gầy dựng lại. Tiếp tục mua sách nhờ vợ (cô giáo dạy văn) chi tiền, nhắm mua các dịp sách giảm giá đủ loại để mua được nhiều, từ đó gầy dựng lại được cả một kho sách đồ sộ.

Không chỉ mua sách ngoại mà cả sách Việt bán ở nước ngoài nữa vì vẫn nặng lòng với nền văn hóa dân tộc. Vì vậy từng ra tờ nguyệt san “Trăm con” chuyên đề về văn hóa dân tộc VN tồn tại được 3 năm từ 1994 – 1996.

Cũng với niềm hoài hương văn hóa đó mà năm 2007 bất ngờ đóng thùng container một phần gia tài sách của mình (nặng tổng cộng 7,5 tấn) gửi tàu biển về TPHCM đem tặng cho thư viện Viện Khoa học Xã hội – Nhân văn TPHCM. Toàn bộ sách trị giá trên 500.000 USD đa số bằng tiếng Anh chủ yếu về mảng đề tài khoa học xã hội và nhân văn (thể loại từ điển hơn 1.000 cuốn trong đó có bộ từ điển bách khoa quý “Encyclopaedia Britannica” 32 tập khổ lớn tổng cộng dày 32.000 trang trị giá 2.000 USD).

Sau đó ở lại luôn TPHCM, thuê căn nhà nhỏ trong hẻm làm nơi tá túc, sống đạm bạc như một “ông đạo” râu dài tóc dài chỉ lo công việc nghiên cứu văn hóa VN và dịch thuật (đã dịch tập thơ Trang Thế Hy ra tiếng Anh).

Vợ con về yêu cầu qua lại Canada ở với gia đình nhưng từ chối tuy ở bên đó còn lưu giữ khoảng 20.000 cuốn sách ngoại cùng 15.000 cuốn sách Việt: “Tôi đã làm xong trách nhiệm của tôi với gia đình, bây giờ tôi phải được sống cho chính tôi.” Cũng còn lý do “Ở hải ngoại tôi thấy mình rất cô đơn vì không tìm được những người cùng ý hướng mà lại còn bị ngộ nhận nữa.”

997 - Nguyễn Trung KHÔNG BAO GIỜ BỎ ĐI NÊN KHÔNG BAO GIỜ TRỞ LẠI Họa sĩ sinh 1940 tại Sóc Trăng. Sống ở TPHCM (2011).

Được xem là một thiên tài vẽ tranh sơn dầu đầy tính sáng tạo tinh tế giàu chất suy tưởng song cũng rất ngang bướng kiểu “không giống ai” (nên trước đây từng bị đuổi học trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định!).

Trước 1975 là chủ tịch Hội Họa sĩ Trẻ Sài Gòn gây một không khí sáng tạo hội họa mới, đoạt nhiều giải thưởng. Đã có tác phẩm vẽ cuộc thảm sát Mỹ Lai do quân đội Mỹ gây nên năm 1968.

Đến 30.4.1975 không theo nhà vợ (gốc Bắc có người thân bị cộng sản sát hại) đi di tản, sau đó bạn bè tổ chức vượt biên cho đi ké vẫn từ chối vì: “Thời thế không ăn nhậu gì đến tao. Tao khoái cởi trần đi ra đi vô ở Sài Gòn, khổ cực mấy cũng chịu!”.

Năm 1989 được cho đi Pháp ngao du một chuyến rồi cũng về thôi.

Tiếp tục vẽ tuy làm việc âm thầm ít xuất hiện, giữ vững uy tín trở thành một trong những họa sĩ lớn thời hậu chiến cả 2 miền. Vì vậy hiếm khi có triển lãm mới được ca ngợi là một cuộc “trở lại”, lập tức đốp chát ngay “Tôi có bao giờ bỏ đi đâu mà nói rằng trở lại?”

Đúng vậy, không hề bỏ đi đâu hết cả nghiệp vẽ lẫn quê hương.

998 - Nguyễn Trường Cư THỢ HỚT TÓC 1 TAY Lao động nghèo sinh 1948 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2010).
Bố làm nghề hớt tóc nên năm 16 tuổi cũng theo nghề bố hớt tóc vỉa hè.

Năm 1965 từ giã nghề hớt tóc để nhập ngũ làm bộ đội bảo vệ TP Vinh chống máy bay Mỹ ném bom. Năm 1969 không may trúng bom Mỹ phải giải phẫu cưa mất tay trái lên sát vai. Sau một năm nằm viện được cho về.

Trở về là thương binh không muốn trở thành gánh nặng cho gia đình nên mới tìm cách rèn lại tay nghề hớt tóc cũ để kiếm sống. Nhưng còn 1 tay nên hớt tóc không phải dễ, chạy tông-đơ xén tóc thì được chứ màn cạo râu cho khách thật gian nan khó khăn biết bao, thậm chí còn nguy hiểm nữa lỡ… cắt đứt da mặt người ta!

Nhờ quyết tâm cao, lại có sẵn kinh nghiệm cũ nên dần dần tập luyện bền bỉ cũng làm được. Lại đông khách nữa một phần vì mọi người tò mò rồi ủng hộ giúp đỡ thương binh, phần khác tay nghề ngày càng điêu luyện cộng thêm tính tình hài hước vui vẻ gầy chuyện thú vị với khách ngồi cắt tóc. Tới mức có lúc bị thợ hớt tóc khác ganh ghét đòi kiện tội phá giá cạnh tranh bất hợp pháp!

Chẳng những nuôi được 5 con trưởng thành mà trong đó 4 con trai cũng kế thừa… mở tiệm hớt tóc bây giờ còn ngon lành hơn cả bố!

999 - Nguyễn Tử Dương “CHIẾN SĨ BARIE” Lao động nghèo sinh tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2008).
Nhập ngũ năm 1974 vào Nam chiến đấu ở Tây Nguyên, đến sau 1975 còn được điều lên bảo vệ biên giới Tây Nam chống quân Pol Pot.

Năm 1981 xuất ngũ thương binh về quê. Lập gia đình, chồng làm nông vợ buôn bán nhỏ, dựng căn nhà nhỏ gần Quốc lộ 1 nằm cạnh tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua.

Vì nhà nằm sát tuyến đường sắt ở điểm không có trạm gác tàu nên tận mắt chứng kiến nhiều tai nạn thương tâm xảy ra cho bà con trong vùng do bất cẩn băng ngang đường tàu bị tàu đâm chết thê thảm. Rất bứt xúc song không biết làm cách nào giúp ngăn ngừa tai nạn trong khi cả địa phương lẫn ngành đường sắt hầu như không quan tâm.

Cuối cùng sau nhiều đêm trăn trở mất ngủ mới nghĩ ra một ý táo bạo: Chính mình tình nguyện đứng ra làm người “gác cổng” đường sắt – trong ngành gọi là gác “barie” tức gác rào chắn theo tiếng Pháp – để báo hiệu mỗi khi tàu sắp chạy qua đoạn này.

Thế là thuyết phục vợ bằng lòng cho mình làm chuyện “vác tù và” không lương như vậy bằng cách ra ngay điểm hay xảy ra tai nạn dựng một căn lều tạm bợ cách đường ray 20m để ứng trực tại đó suốt ngày đêm chờ hễ tàu sắp tới là cầm cờ hiệu chạy ra đứng bên cạnh đường ray làm dấu báo cho khách qua đường biết mà tránh.

Hiệu quả thấy rõ tức thì không còn tai nạn tàu lửa xảy ra nơi đây nữa.

Cứ thế làm việc không công không quản nắng mưa vất vả đối với một thương binh bởi “So với gian khổ thời chiến tranh ngày trước có đáng gì?”.

1000 - Nguyễn Văn Bé ÔNG “BA ĐẤT PHÈN” Dược sĩ sinh 1949 tại Bến Tre. Sống ở Long An (2011).
Gốc nông dân nghèo rớt mồng tơi phải đi chăn trâu và ở đợ. Năm 16 tuổi vào mật khu Đồng Tháp Mười theo cộng sản đánh Mỹ, nhiều năm lăn lộn ở vùng Mộc Hóa – Long An. Trong thời gian này học được nghề thuốc Nam chữa bệnh cho đồng đội, dân chiến khu.

Sau 1975 được cho đi học ngành dược ĐH Y TPHCM. Tốt nghiệp ra dạy ĐH Dược TPHCM, lấy vợ sinh con sống thoải mái.

Bỗng nhiên vào khoảng năm 1982 bỏ tất cả sự nghiệp, gia đình một thân một mình quay về vùng chiến khu Mộc Hóa ngày xưa tổ chức… khai hoang, lập cơ sở làm thuốc Nam! Tất cả một phần vì lòng hoài niệm “hổ nhớ rừng” đối với vùng đất chiến đấu gắn bó ngày xưa, phần khác do kinh nghiệm, kiến thức về ngành dược thấy nơi vùng đất phèn chua ngập mặn này có vô số thảo dược quý có thể lấy làm nguyên liệu sản xuất dược phẩm vừa rẻ tiền mà lại hiệu nghiệm.

Từ đó ngày đêm huy động nguồn lực - nhân công nghèo thất ngiệp ở địa phương có công ăn việc làm, vốn liếng vay mượn thân nhân, bạn bè, đồng đội cũ… - để tiến hành khai khẩn cả ngàn hecta, chiều dài cả trăm cây số đất bỏ hoang lâu nay ngay trung tâm Đồng Tháp Mười. Biến nơi đây thành Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn – phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười.

Tại đây vừa khai thác các loại dược liệu phong phú như cây tràm, cây tỏi, cây nhàu, củ gừng, hà thủ ô, các loại rau (vườn rau vào hàng lớn nhất nước)… chiết xuất thành sản phẩm thuốc chữa bá bệnh. Trồng thêm cả các loại thảo dược nước ngoài đem về để nghiên cứu rồi đưa vào dây chuyền sản xuất. Có cả phòng thí nghiệm, mạng Internet hiện đại.

Bên cạnh đó còn xây dựng trường học, trạm y tế, nhà ở cho cả hơn 400 hộ gia đình làm việc cho trung tâm. Dự định còn xây cả khách sạn để mời khách quốc tế đến “du lịch sinh thái chữa bệnh” tại chỗ.

Dù đã trở thành “đại gia” (doanh thu công ty đã lên tới trên 6 tỉ đồng/năm) song vẫn sống đời bình dị ham đi chân đất đội mũ vải bèo nhèo, tính tình phóng khoáng bộc trực chêm tật hài hước nên được bà con phong tặng cho biệt danh ông “Ba đất phèn” (từ tên gọi Nam Bộ dành cho con trai thứ hai trong gia đình).

Vợ con vẫn ở TPHCM lâu lâu mới lên thăm, có khi còn đem đứa con trai ham chơi bỏ học xuống bắt “cải tạo lao động” 2 năm biết hối lỗi rồi mới trả về cho vợ nuôi đi học! Còn bản thân mình thì đã thề “Về hưu hay chết thì cũng ở vùng này thôi”!

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

KHÔNG AI DÁM LẤY CHỊ - NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH

chị xinh nhất làng
có mười người yêu
không ai dám cầu hôn

chị lên huyện
đẹp nhất huyện
có trăm người yêu
chị lên tỉnh
đẹp nhất tỉnh
có nghìn người yêu
chị lên thủ đô
đẹp nhất nước
có triệu đàn ông yêu
nhưng không ai dám cầu hôn

đàn ông nhìn chị
hết hồn
họ sợ

chị bơ vơ
cắt tóc vô chùa
chùa không dám nhận

một hôm buồn
nhảy xuống sông
quyên sinh
nhưng chị vẫn nổi lên
như phao

cái đẹp
không thể chìm
chị phải sống
để cô đơn
vì đẹp.


NGUYỄN THỊ ÁNH HUỲNH



Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ BUỔI CHIỀU - PHAN LỆ DUNG

Góc phố
Ông ngồi bệt dưới đất nhìn theo chiều
Bóng ông không che hết chiếc bị cói sau lưng
Tay nắm hờ điếu thuốc cháy dở.

Chiều sà lại gần
Lòng ông co lại
Như sợ cơn gió mong manh
làm rách nắng chiều
Khuôn mặt ông méo xệch theo làn khói thuốc
tiếng gió thổi vội trên cành cây
Ông giật mình
Bên đường những tàn lá xanh lay động
Số phận trêu ngươi
Thu vén tháng ngày,
Gom từng sợi tóc ông
Bảy mươi năm một cuộc đời
Những bữa cơm
Những mảnh đời cháu con
xói lòng ông đau nhói
Xung quanh ông
những mái nhà, những góc phố, những bóng hồng đi qua
lạnh buốt
Đời dạy ông cúi đầu làm trọng
Bảy mươi năm
giọng nói khô còn quanh quẩn trong chiếc nón rộng vành.

Con đường cong
Tiếng vĩ cầm đơn độc, vò nát phố phường
Chiếc quan tài sơn màu mùa đông
quạnh quẽ
Ông đi...

Chiều
Mây trắng vút bồng lai.

PHAN LỆ DUNG

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

DẶM ĐƯỜNG - UYÊN HÀ

Thuở ấy ta mơ thành hiệp sĩ
Phiêu bạt từng nhen lửa dặm đường
Ta kể ta nghe nhiều kỷ niệm
Mái rạ lều tranh nơi cố hương

Vẫn tưởng một ngày thôi lãng bạt
Cùng em chia xẻ nỗi đau đời
Hiên nhà hai đứa ngồi hong ấm
Những mảnh vui buồn nhặt khắp nơi

Thuở ấy, bây giờ… ta vẫn vậy
Bước được còn đi chẳng ngập ngừng
Câu tráng sĩ hề nghe bể giọng
Vẫn còn reo mãi phía sau lưng

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

BÀI THƠ NĂM MỚI - HOÀNG LỘC



lòng áo mới em đi về năm mới
để trong tôi tà lụa cũ phiêu bồng
hỏi các thứ theo bước ngày lữ thứ
bao nhiêu còn trên tóc gió phai sương ?

tôi vẫn thế cả đời mê ảo ảnh
bờ môi khô bởi thiếu vắng môi người
sông cũng bỏ đã bao bờ bến quạnh
mà vô cùng con nước ấy trôi xuôi ?

con đường ấy cũng thường khi hết nắng
dắt nhau về tay có nhớ bàn tay ?
em một thuở khuynh thành ai (đã hẳn)
khuynh thành tôi cũng không uổng một đời

em năm mới áo tà kia rất lụa
bay như mây lững thững ở trời xa
tôi vuốt tóc, chút sương mù ướt vội
biết không nguôi yêu dấu cũ mơ hồ

khi tưởng vọng mấy ngọn ngành chia biệt
tin làm chi những lau lách ngàn sau ?
tôi cúi xuống đời tình tôi bất trắc
chỉ nghe còn hạt lệ dấu trong nhau...

1-1-12
HL

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

BÀI TẠ TỘI THỨ HAI - NGUYỄN MIÊN THẢO


Không son phấn không lụa là
và em mười ngón tay ngà như xưa
yêu em biết mấy cho vừa
yêu em từ thuở nắng mưa tỏ tình
bao năm anh vẫn một mình
ngàn năm anh vẫn một mình,đợi em

NMT

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2011 (kY 98 )



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

981 - Lưu Thị Tính
“NHÀ NGƯỜI ĐIÊN”
Lao động nghèo sinh 1948 tại Thanh Hóa. Sống ở Hà Nội (2011).

Năm 18 tuổi tình nguyện đi thanh niên xung phong vào Quảng Trị phục vụ tiền tuyến.

Năm 1969 trúng đạn bị thương nên sau khi điều trị được chuyển về vào đội bảo vệ nhà máy trong tỉnh.

Năm 1972 nhà máy bị bom Mỹ đánh trúng, bản thân lại dính bom bị chấn thương đầu làm tổn thương não. Vì vậy qua năm 1973 được cho về trong tình trạng đau ốm kéo dài, thần kinh không ổn định hay bị rối loạn tâm thần gây hoang tưởng.

Dù thế vẫn lấy chồng làm công nhân cơ khí ở Hà Nội, vợ làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày.

Đã vậy còn sinh đến 7 con (6 gái). Và không biết có phải do ảnh hưởng bệnh của mẹ hay không mà các con hễ đến tuổi học lớp 2 – lớp 3 là bắt đầu có dấu hiệu khùng khùng khiến hàng xóm phải gọi cả gia đình là “nhà người điên”. Con cái bệnh triền miên song không có tiền chữa trị thuốc thang đàng hoàng nên cứ để mặc chịu đựng được tới đâu hay đó.

Trong đó trầm trọng hơn cả là con gái thứ hai năm lên 15 tuổi phát bệnh điên dại nặng cứ đi phá phách hàng xóm láng giềng ai cũng kêu trời. Năm 1993 khi chồng bị tai biết qua đời, người mẹ chịu không nổi đành phải nhốt con vào phòng riêng như giam tù luôn!

Mấy đứa con còn lại dẫn dần cũng tìm đường đi kiếm kếù sinh nhai nơi khác, để lại một mình người mẹ lo cho đứa con điên loạn nhốt trong nhà dù mẹ mắt đã mờ, mổ giác mạc rồi cũng như không.

982 - Hà Thanh Hải
“HẢI ĐIÊN”
Doanh nhân sinh 1955 tại Tây Ninh. Sống ở Bình Dương (2007).

Gia đình làm nghề đốn củi nên từ nhỏ đã sống trong rừng, lớn lên trong rừng nhờ đó rất giỏi nghề nuôi heo rừng (heo “mọi”).

Môi trường rừng là địa bàn hoạt động chủ lực của cộng sản nên tự nhiên đi theo tiếng gọi cách mạng chống Mỹ từ năm 1968, lớn lên làm lính thông tin ở trong chiến khu nằm giữa rừng Tây Ninh. Đặc biệt phát triển kinh nghiệm cũ trở thành nổi tiếng là có tay nuôi heo rừng giúp cải thiện bữa ăn cho du kích, bộ đội.

Sau chiến tranh được cho đi học ngành bưu chính viễn thông ra làm nhân viên bưu điện TPHCM. Đến năm 1985 chuyển ra ngoài lập công ty ngành này làm ăn phát đạt.

Thế mà bỗng nhiên năm 1992 bỏ hết toàn bộ cơ đồ sự nghiệp đang lên chỉ vì vì nỗi “nhớ rừng”, nhớ rừng ngày xưa và heo rừng một thời đã gắn bó để quay về với rừng: Chọn rừng Lai Uyên ở Bình Dương để vào đó mở trang trại… nuôi heo rừng! Người thân, bạn bè hết biết can không nổi phải gọi là “Hải điên”!

Nhưng nuôi heo rừng bây giờ không đơn giản như thời trước bởi nay chúng bị săn bắt giết thịt khá nhiều, còn lại ít thì phân tán đi khắp nơi. Cho nên phải khổ công lên tận Tây Nguyên mua giống về gầy dựng lại bầy đàn.

Quả là không hổ danh nuôi heo mọi là nghề ruột từ thời thơ ấu nên kết quả dần dà nuôi thành công bắt đầu lập được một đàn heo rừng trên 800 con. Còn dự định tiếp tục triển khai mô hình thêm một trang trại tương tự ở Bình Phước.
Xứng danh là “Vua heo rừng” nhất nước.

983 - Nguyễn Thanh Tùng
NGHỆ SĨ MÙ ĐÀN BẦU VANG DANH
Nghệ sĩ nhạc dân tộc sinh 1979 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2011).

Bố từng là lính trinh sát pháo binh trên chiến trường Quảng Trị bảo vệ thành cổ trong mùa hè đỏ lửa 1972.

Sau ngày hòa bình, bố trở về Hà Nội làm công nhân, lấy vợ cũng công nhân ngành may.

Sinh được con gái đầu thì ngay mới lọt lòng mẹ đã mắc bệnh trầm kha liệt toàn thân, động kinh, vừa mùa vừa câm vừa điếc. Chạy chữa đủ cách vẫn vô ích mà lúc đó chưa biết do hậu quả CĐDC bố bị nhiễm thời chiến tranh.

Đến mình là con trai thứ hai có đỡ hơn song vẫn bị mù một mắt, mắt còn lại rất yếu đến năm lên lớp 5 thì mù luôn. Bấy giờ mới biết là di chứng CĐDC.

Dù vậy cả 2 vợ chồng vẫn cố gắng lo cho 2 con, mẹ ở nhà săn sóc con gái đầu vẫn nằm liệt một chỗ vừa làm thêm kiếm chút tiền cơm cháo, bố về hưu xoay qua làm nghề chụp ảnh dạo ở công viên.

Bản thân vào học trường mù Nguyễn Đình Chiểu và ngay từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu âm nhạc, nhất là mê âm nhạc dân tộc nghe qua đài. Thấy vậy ông nội mới tự “chế” cho một cây đàn bầu bằng đoạn cây nứa chẻ đôi ghép vào với ống bơ, dây đàn lấy từ dây phanh xe đạp. Rồi đưa cháu đi học nhạc, sợ một mình cháu học cô không biết cách chỉ vẽ nên ông nội cũng xin… học ké để kèm cặp cháu!

Năm lên 7 tuổi lần đầu tiên biểu diễn đàn bầu trên sân khấu. Sau đó thi đậu vào nhạc viện Hà Nội, lần lượt học lên cấp đại học. Quá trình học tất nhiên hết sức gian nan, vất vả, phải nhờ bạn đọc, xướng âm hoặc hát các bản nhạc nhiều lần nghe qua rồi mới viết lại ký âm trên chữ nổi… Vậy nhưng cuối cùng trở thành học viên khuyết tật duy nhất tốt nghiệp thủ khoa cả 3 cấp và tốt nghiệp 2 ngành âm nhạc dân tộc lẫn sáng tác – chỉ huy dàn nhạc (còn học thêm đàn dương cầm nữa).

Từ đó biểu diễn thành công ở trong nước lẫn nước ngoài, vừa dạy nhạc vừa tiếp tục sáng tác, nghiên cứu. Không chỉ nhạc dân tộc mà còn chuyển thể - và trình diễn – cả nhạc cổ điển từ Beethoven, Mozart đến Brahms, Schubert… Với nước ngoài, được xem là một “Đại sứ âm nhạc VN”.

Cuộc đời và sự nghiệp đã được làm thành phim tài liệu “Vượt qua định mệnh” năm 2008.

Vượt qua được một phần nhờ thấu hiểu, ghi nhớ tấm gương của người cha luôn nhắc nhở con: “Chúng tôi là những người lính đã dành cả thời trai trẻ để chiến đấu cho hòa bình, thống nhất đất nước. Vì thế khi trở về đời thường, tôi vẫn gắng giữ phẩm chất, không phẫn uất, không chán chường để vợ con tôi và những người quanh tôi tin vẫn còn nhiều lý do đáng để sống.”

984 - Nguyễn Thị Để
NUÔI VỢ CON CỦA CHỒNG
Cán bộ về hưu sinh tại Tiền Giang. Sống ở TPHCM (2011).

Thời trẻ hoạt động cộng sản ở Mỹ Tho làm công tác phụ nữ.

Năm 1954 lấy chồng cán bộ quân báo mới được 17 ngày thì chồng lên đường tập kết miền Bắc, mình nhận nhiệm vụ ở lại nằm vùng.

Hẹn 2 năm nữa vợ chồng sum họp không ngờ đất nước chia cắt kéo dài rồi chiến tranh tái diễn, chỉ nhận được 4 lá thư của chồng đến năm 1964 thì đôi bên mất liên lạc luôn.

Năm 1968 bị bắt, từ đó có tin đã bị địch thủ tiêu. Tin này đến với người chồng ở Hà Nội đưa đẩy đến cảnh cô đơn buồn rầu cần an ủi nên chấp nhận lấy một người vợ sau dân Bắc.

Trong lúc đó thực tế người vợ đầu vẫn còn sống, bị đày ra Côn Đảo. Đến năm 1973 được trao trả tù binh 2 bên chiến tuyến.

Sau ngày thống nhất, vợ tiếp tục làm công tác Hội Phụ nữ ở TPHCM vui mừng được gặp lại chồng sau 21 năm biền biệt tin tức. Nào ngờ người chồng bấy giờ mới thú nhận mình đã… có vợ mới và 3 con rồi! Cả hai chỉ còn biết cay đắng ngậm ngùi rằng “Hậu quả chiến tranh rơi đúng vào 3 chúng ta”.

Dù vậy người vợ cũ vẫn rộng lòng tha thứ, an ủi: “Em rất thông cảm với nỗi khổ đau của anh… Nếu chúng ta không còn nghĩa vợ chồng thì coi như tình đồng chí chiến đấu với nhau vậy. Anh đừng cho chị ấy biết em còn sống. Em biết chị ấy cũng như em đã đau khổ 20 năm nay rồi nên em không muốn cho ai đau khổ nữa…”

Từ đó vẫn thường xuyên gửi thư, quà ra miền Bắc cho vợ con chồng cũ.

Nhưng người chồng vẫn rơi vào cảnh lúng túng không biết giải quyết thế nào, nửa không muốn về Bắc lại sợ làm buồn lòng vợ cũ mà nửa cũng không thể bỏ rơi vợ con ngoài kia. Thấy vậy, cuối cùng người vợ cũ có một quyết định quá táo bạo là thuyết phục chồng cho cả 4 mẹ con đời vợ sau cùng vào TPHCM sống chung với mình!

Thế rồi tuy phải sống trong cảnh 1 ông 2 bà oái oăm “tình già” mà vẫn cố giữ được không khí gia đình hòa thuận. Tận tình lo cho cả 4 mẹ con “đời sau” thực sự như người thân không có chút gì phân biệt.

Sau khi chồng mất, đã làm sẵn kim tĩnh bên cạnh mộ chồng dành cho mình tưởng là sẽ theo chân chồng ra đi trước, nào ngờ khi thấy chính người vợ sau lại sắp mất trước nên đã “nhường” chỗ kim tĩnh chờ sẵn đó bên cạnh chồng. Tuy nhiên bà sau tự trọng không dám nhận, chỉ xin được “nằm dưới chân anh chị” để trên bia mộ đề dòng chữ tình nghĩa ít thấy “Chị và các con đồng lập mộ”.

Còn lại một mẹ nuôi lo cho 3 con đời sau không khác gì con ruột ăn học trưởng thành đàng hoàng.

985 - Nguyễn Thị Niêm
BÁN NƯỚC CHÈ NUÔI 4 CON GHẺ
Lao động nghèo sinh 1947 tại Quảng Trị. Sống ở Quảng Trị (2007).

Năm 16 tuổi làm du kích xã chống Mỹ.

Năm 1968 bị địch phục kích, đồng đội chết hết còn mình bị bắt giam từ Quảng Trị chuyển vào Quy Nhơn. Đến 1973 được trao trả tù binh sau hơn 5 năm rưỡi ở tù.

Sau ngày chấm dứt chiến tranh đi học bổ túc văn hóa gặp thầy là một bộ đội từ miền Nam trở về xuất ngũ dạy học trong làng đã có vợ và 4 con nhưng vợ không may cuốc đất làm vườn trúng bom bi phát nổ chết sớm. Thương cảm thầy nên năm 1985 tình nguyện làm vợ sau và là bà mẹ kế nuôi 4 con chồng đời trước.

Tuy là con ghẻ song thương như con ruột, một mình nuôi 6 con nhỏ (sau có thêm 2 con ruột nữa) mà mình không có trình độ, nghề nghiệp nên chọn nghề bán nước chè xanh kiếm tiền lo cho cuộc sống cả nhà. Sáng gánh nước chè xanh đi bán ở chợ và ga tàu lửa, chiều thì vào rừng chặt củi đưa ra chợ bán.

Cứ thế đều đặn kéo dài 22 năm, có những lúc còn phải lo nuôi chồng bệnh tai biến năm 1997.

Vậy mà một tay o du kích miền cát trắng gió Lào khô hạn ngày nào đã nuôi 6 con đều vào đại học tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ. Dù vậy ngày ngày o vẫn tiếp tục quảy gánh “Ai nước chè xanh đây…”

986 - Nguyễn Thị Phong
HAI CHÂN THAY HAI TAY
Thương binh sinh 1945 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2010).
Năm 1963 tình nguyện đi thanh niên xung phong chống Mỹ.

Nhưng chẳng bao lâu đã gặp một trận bom Mỹ vùi giập bị thương nặng buộc bác sĩ phải cắt bỏ cả hai tay lúc mới tròn 20 tuổi. Với thương tật xác địch mức 1/4 được đưa về Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Bắc Ninh.

Từ đó để sống còn phải tập làm mọi việc bằng đôi chân từ ăn uống, tắm giặt, sinh hoạt… Được một anh thương binh khác quê Hải Dương ở cùng trung tâm giúp đỡ rồi nảy sinh tình yêu đôi lứa quyết định làm lễ cưới tại trung tâm.

Đôi vợ chồng thương binh đưa nhau về quê sống nương tựa vào nhau, sinh được 3 con.

Nhưng 13 năm sau thì chồng tái phát vết thương cũ qua đời để lại một mình nuôi con nhỏ dại.

Bấy giờ không còn chồng phụ giúp đỡ đần, công việc của đôi chân làm thay tay càng vất vả hơn với nhiệm vụ vừa thay chồng kiếm sống nuôi gia đình vừa làm mẹ chăm sóc con cái. Làm việc kiếm sống thì đôi chân phải… bán rau, băm bèo nấu cám nuôi heo; nuôi còn thì đôi chân phải… vá quần đơm cúc áo cho con…

Tất cả đều làm được hết với đôi chân đa năng làm đủ mọi việc tất tần tật giống như làm xiếc vậy.

987 - Nguyễn Thị Sơn
TRẢ NGHĨA ĐỜI MỒ CÔI
Lương y sinh 1958 tại Phú Yên. Sống ở Buôn Ma Thuột (2007).

Cả cha mẹ đều hoạt động cộng sản, mình chưa đầy 1 tuổi thì cha bộ đội chiến đấu miền Nam bị địch bắt tra tấn đến chết. Lên 3 tuổi đến lượt mẹ hoạt động binh vận cũng bị bắt rồi hy sinh trong nhà tù chế độ cũ.

Từ đó được nuôi trong trại thương binh chiến khu. Năm 10 tuổi được đưa ra Bắc để có điều kiện học hành theo chế độ con em miền Nam. Học tốt nghiệp phổ thông rồi học làm y tá ra chăm sóc thương bệnh binh ở Hà Nội.

Năm 1984 lấy chồng bộ đội thương binh trở về từ chiến trường Lào.

Sống ở Hà Nội thời hậu chiến cuộc sống quá khó khăn lại mới sinh con nên vợ chồng quyết định vào Tây Nguyên tìm đường sống thoát khỏi cảnh đói nghèo dai dẳng.

Trên vùng đất mới cao nguyên, bên cạnh việc làm vườn khai khẩn đất hoang còn tận dụng kiến thức y khoa có sẵn thời làm y tá để khám chữa bệnh, bốc thuốc cho đồng bào dân tộc. Hiệu quả công việc được địa phương ghi nhận mới tạo điều kiện cho về TPHCM năm 1990 đi học ĐH Y khoa chuyên ngành y học cổ truyền.

Sau 6 năm theo học, tốt nghiệp quay về Đắc Lắc mở phòng chẩn trị y học cổ truyền ngay tại nhà để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp lương y như từ mẫu.

Dù đã có 4 con song vẫn nhận về cưu mang 10 đứa con nuôi mồ côi gặp cảnh đời bất hạnh khốn khó trong đó có cả con liệt sĩ mất cả cha lẫn mẹ như mình ngày xưa. Có cháu lớn lên cũng xin học theo nghề mẹ nuôi đi đến tận những vùng sâu vùng xa thăm bệnh phát thuốc cho trẻ em nghèo, khuyết tật…

988 - Nguyễn Thị Tâm
TỰ HỌC VỀ CHẤT ĐỘC DA CAM
Giáo viên sinh khoảng 1953 tại thái Bình. Sống ở Thái Bình (2006).

Năm 17 tuổi vào bộ đội đi chiến trường B trong đó có 3 năm bám trụ đường Trường Sơn.

Hòa bình lập lại xin xuất ngũ về quê thương binh hạng 4/4, đi học ra làm giáo viên trường mầm non ở tỉnh. Lấy chồng sinh con, vừa dạy học vừa chăn nuôi thêm để nuôi con.

Đời sống gia đình tương đối ổn định nhưng gặp gỡ thăm viếng đồng đội cũ mới thấy có nhiều chị em mắc di chứng CĐDC trầm trọng đưa tới bao cảnh đời bi thương. Có người bệnh tật không dám lập gia đình, có người lập gia đình rồi không sinh con được, mà nếu sinh được cũng thành con dị dạng quái thai, cả mẹ lẫn con đều mắc bệnh nan y. Tất cả không ít thì nhiều đều do hậu quả CĐDC họ gánh chịu từ thời chiến tranh.

Từ đó thôi thúc bản thân tìm tài liệu, sách báo tìm hiểu về CĐDC – lúc đó thông tin còn ít phổ biến -- để tìm cách hướng dẫn đồng đội cũ cách thức chạy chữa. Rồi tự tìm lập danh sách các nạn nhân CĐDC trong tỉnh để tìm cách xin chế độ, giúp đỡ mọi mặt.

Sau đó tiến tới lập Ban Liên lạc nữ bộ đội Trường Sơn tỉnh Thái Bình làm nơi tập trung đóng góp, hoạt động chăm lo cho bạn chiến đấu một thời tuổi trẻ nay là nạn nhân CĐDC đồng thời kêu gọi các nơi – cả phía Mỹ -- có hành động hỗ trợ.

Tất cả là để trả lời cho câu hỏi ray rứt nhiều đêm làm mất ngủ đặt ra cho mọi người trước thảm trạng CĐDC: “Như thế làm sao tôi có thể sống yên vui được?”

989 - Nguyễn Thị Thu
BÀ “HAI NHÓT”
Nông dân sinh tại Bến Tre. Sống ở Bến Tre (2009).

Trong chiến tranh bị một mảnh pháo – không biết của bên nào – trúng vào chân song ở quê nghèo trong cảnh bom đạn tứ phía thiếu thốn đủ thứ nên chỉ được chữa trị đại khái bên ngoài chứ không lấy mảnh bom ra. Vì thế đi đứng khó khăn bên chân đau chỉ đi được nhón gót đầu 5 ngón chân để khỏi bị thốn, từ đó chết tên bà “Hai Nhót”.

Cũng do vậy không lấy chồng được. Mãi đến năm 36 tuổi tha thiết muốn có một đứa con an ủi lúc xế chiều nên “xin” một người đàn ông đã có gia đình trong làng “cho” một mụn con gái, sinh ra thì thôi 2 bên xem như không quen biết gì nhau!

Từ đó làm quần quật để nuôi con, từ xuống sông giăng lưới mò tôm bắt cá đến nuôi heo gà, chăm sóc vườn dừa nhỏ trên mảnh đất được mẹ chia cho. Đầu tắt mặt tối tới mức ngườøi đen đúa gầy quắt cân nặng chỉ 35kg.

Đã vậy, mảnh bom cũ còn nằm trong chân phát tác vết thương chỉ chạy chữa quanh quẩn ở quê không kết quả, phải đưa lên bệnh viện tỉnh nhưng không cho con đi theo bắt ở nhà lo học chuẩn bị thi cuối cấp lớp 12. Lên tỉnh lúc đó mới biết chân đã bị hoại tử buộc phải cắt cụt đến tận đầu gối! Đã “Hai Nhót” rồi bây giờ còn thêm chống nạng, đi chân giả!

Tuy nhiên đau đớn mấy cũng cắn răng chịu đựng, chỉ dặn người thân đừng cho con biết lo con phân tâm không học được vì “đời mình đã khổ quen rồi” không có gì phải buồn mà chỉ sợ con tủi thân bỏ học bỏ thi.

990 - Nguyễn Thị Tròn
“KỶ VẬT” CHIẾN TRANH
Thợ may sinh 1956 tại Tây Ninh. Sống ở Tây Ninh (2010).

Năm 1968 lúc 12 tuổi đi hái rau ở quê thì bị máy bay trực thăng Mỹ bắn trúng chân đưa vào bệnh viện phải cưa cụt chân đó.

Phóng viên ảnh người Anh Larry Burrows lúc đó làm cho tạp chí Life bám trụ săn tin cuộc chiến VN biết được chuyện này mới đi tìm chụp ảnh em đang tập đi chân giả lên bìa báo với tựa đề “Cô gái tên Tron” kèm bài phóng sự “Bên rìa hòa bình” thêm nhiều hình của em minh họa. Bài và ảnh đã gây xúc động cho công chúng Mỹ, nhiều người gửi quà và thư đến an ủi em.

Phần nhà báo Anh, ông đã nhiều lần chịu khó đưa em từ Tây Ninh lên Sài Gòn đến bệnh viện khám làm chân giả rồi tập đi ở đây. Sau đó khi em đã đi được bình thường về quê lại, ông còn mua tặng em một chiếc máy may (trị giá hồi đó là cả một gia tài) và cho tiền đi học nghề may đàng hoàng để sau này làm nghề sinh sống.

Đến năm 1972 cô gái có dịp lên Sài Gòn tìm thăm ân nhân thì mới hay ông vừa tử nạn máy bay trực thăng trong một chuyến bay qua Lào tiếp tục làm phóng sự chiến tranh VN lúc mới 44 tuổi (năm 2008 thân nhân mới tìm thấy hài cốt trong vùng rừng núi Lào). Từ đó cô chỉ còn nhớ đến ông qua món quà chiếc máy may bù cho mất một chân vì chiến tranh vẫn gìn giữ đến tận ngày nay: “Nó là nghề mưu sinh mà ông tặng cho đời tôi. Tôi không bao giờ từ bỏ nó.”

Nhưng con trai của L. Burrows không quên vì trước kia cha vẫn thường kể chuyện về em bé VN mà ông giúp đỡ cho cả gia đình nghe, xem như đó là một đứa con nuôi. Bởi vậy năm 2000 anh đã cùng con gái đến VN đi tìm cô với trong tay những hình ảnh bé gái tập đi chân giả trên báo Life nhưng vẫn được những người bạn VN giúp đỡ đưa lên Tây Ninh tìm được.

Rồi năm 2010 cả 2 vợ chồng cùng 2 con một lần nữa hội ngộ cùng cô “Tron” theo họ phát âm trọ trẹ, dưới mái lá căn nhà tranh mà cách đây hơn 40 năm người cha người ông của họ từng ghé chân ở lại ngồi nhìn cô bé tập tễnh đi chân giả.

Cả 2 lần đó họ đều thấy cô – nay đã là bà -- vẫn cắm cúi gò lưng trên chiếc máy may năm nào, chiếc máy may và người phụ nữ một đời gắn bó với nó mà như cháu gái nhà báo Anh kể lại “Khi tôi ôm bà và nhìn chiếc máy may, tôi thấy như mình được kết nối với ông nội. Khi tôi chụp hình, tôi cảm thấy mình gần gũi ông biết bao nhiêu.”

(Còn tiếp)