Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

CÒN ĐÓ SAO TRÊN RỪNG - VÕ CHÂN CỬU



                                         Còn Đó Sao Trên Rừng
                                                                            
Cao nguyên Bảo Lộc ở cuối dãy Trường Sơn với những tịnh cốc nổi tiếng, hơn 40 năm về trước còn là nơi tụ hội nhiều nhà sáng tác. Như Nhất Hạnh, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Đức Sơn…

Do khá gần Sài Gòn nên người thích khoa thiên văn vẫn chọn về đây khi có các sự kiện lớn. Rạng sáng ngày 14-12- 2013 khi ngắm mưa sao băng, có người bỗng nhắc: kỳ diệu sao trên rừng ! “Sao Trên Rừng” còn đây không ?

Cộng nghiệp thơ
Sao Trên Rừng là bút danh thời khởi nghiệp của Nguyễn Đức Sơn (NĐS) ở các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ…từ  các năm 1959-1960. Khi xuất bản tập thơ đầu tay “Những Bài Tình Đầu” gồm 3 phân khúc Bọt Nước, Hoa Cô Độc (1965), rồi Lời Ru (1966), ông vẫn xưng bút hiệu này. Sách phát hành, NĐS lập tức nổi tiếng như một thi sĩ kỳ dị- vì những tuyên bố thành thật nhưng mang tính tự đại in trên bìa sách. Khi chuẩn bị cho nhà xuất bản An Tiêm in tập thơ Đêm Nguyệt Động (1967) để làm sính lễ đi cưới vợ, ông ký hẳn tên thật. Tên tuổi NĐS còn dữ dội với các tập truyện ngắn như Cát Bụi Mệt Mỏi (1968), Cái Chuồng Khỉ (1969), Xóm Chuồng Ngựa (1971). Có nhà điểm sách và nhiều độc giả cho ông là một “thiên tài độc ác”. Vì bằng mạch văn, ông  đã đẩy người đọc đến chỗ tận cùng của trí tưởng. Cho nên, qua cuộc khảo sát về “Những cây bút hay nhất” do Tạp chí văn nghệ Khởi Hành thực hiện năm 1971, NĐS đã lọt vào Top 5. Mặc dù vậy, về sau nhắc đến ông, mọi người vẫn ấn tượng là một thi sĩ. Như từ thuở đầu tiên ông đi vào sáng tác :

                   Một đêm sao ở trên rừng
          Đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian
                   Hồn tôi cây cối liên hoan
          Rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ
                   Tuổi vàng giống mộng trời thơ
          Lớn lên tôi chết bên bờ hư không

                                                  (Tập “Bọt Nước-Những Bài Tình Đầu”)

Bài thơ đầu tiên đã giải thích vì sao ông chọn bút hiệu, cũng “ngầm” tiên đoán số phận (cũng là định mệnh?) của cuộc đời mình. Nhưng nó thành thật và hiền hậu quá; không như người đọc cảm nghĩ rằng càng dấn thân vào chơi, NĐS càng trở nên kỳ dị (dù giọng điệu vẫn rất thành thật) khi cố tình đưa lời miệt thị từ người có bằng cấp, trường đại học, và đến cả những người viết lách cùng thời. Tiếng đồn rằng nếu ghét ai, ông còn viết thư gửi lời chê tới tận nơi !
Nhà thi sĩ “quái dị” ấy đã tự nguyện bỏ trường đại học, và ăn chay trường, tự kiếm sống bằng nghề dạy học.
Quê hương ở miền đầm phá ven biển Tri Thủy (Ninh Thuận), ông sớm hít thở bầu không khí hoang vu. Có thời gian, ông sống ở vùng đồi núi cao Đơn Dương trên đường từ Đà Lạt xuống Phan Rang. Nên khi đã lấy vợ, trốn lính, ông đã lên miền B’lao (Bảo Lộc), là nơi cũng có khung cảnh hoang sơ, lại thuận đường đi về Sài Gòn để “náu thân nơi nhà hoang”.  Nguyễn Miên Thảo (NMT) là một trong số rất ít bạn trẻ  được ông chọn thơ để đăng trên Tạp chí Mặt Đất (xuất bản bất định kỳ) do ông chủ trương năm 1966. NMT cho biết ở lớp dạy tiếng Anh tại nhà trọ riêng, NĐS đã sẵn sàng đuổi học và trả tiền học phí trở lại ngay cho bất cứ học sinh nào không thuộc bài đã học bữa trước! Thi sĩ, thầy giáo NĐS muốn cuộc đời này luôn luôn phải tuyệt đối như ý mình chăng ?
Cùng được chọn bài với NMT để có mặt trên “Tạp chí Mặt Đất” là  Thái Ngọc San (TNS). Khoảng năm 1970,  tôi và  tình cờ cùng có mặt trước khoảng sân NĐS đang ở nhờ trong một khu nhà trong trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Mấy ngày trước, vợ NĐS đã sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên là Thạch. Cả ba ngồi đốt lửa sưởi ấm. Tôi và TNS cùng chiêm nghiệm niềm hạnh phúc của người thi sĩ có cuộc sống lập dị mới được làm cha. Hạnh phúc lần lượt được ông thể hiện trong sáng tác thơ, theo tháng năm cùng đứa trẻ lớn lên:

NHÌN CON LẬP TẬT

Nắm tay lật úp đi con
Co thân tròn trịa như hòn đá lăn
Muốn cho đời sống không cằn
Tập cho quen mất thăng bằng từ đây.

Vợ NĐS lần lượt đẻ năm một. Hạnh phúc của cha và con ngày càng nhiều thêm. Như:
                   Theo cha đốt cỏ ngoài rừng
          Nâng niu mẹ ẵm theo mừng không con
                   Có vài chiếc lá còn non
          Gió theo lửa khói tan giòn trên không
                   Nắng tà trải xuống mênh mông
          Bước theo chân mẹ, cha bồng hư vô.
                                                 
(Đốt Cỏ Ngoài Rừng- Tập san Văn 1972)

Ngày đó, tôi chỉ “lên chơi rồi về” với Bảo Lộc  và NĐS. Còn TNS nương náu ở đây khá lâu (vì anh đang trốn lính), và tiếp xúc với NĐS cũng nhiều. Đến khoảng 1972, TNS về Sài Gòn làm Thư ký Tòa soạn cho tạp chí Ý Thức- tờ vănn nghệ do các văn nghệ sĩ Miền Trung tự nhận có tinh thần “nhập cuộc” lập ra. Sau đó không lâu, anh viết truyện ngắn Bầy Thú Hoang Dã miêu tả cảnh sống của gia đình NĐS. Truyện này được đăng trên Văn. Trong truyện có ý nói là người cha khá ích kỷ, luôn luôn bắt các con phải theo ý mình. TNS lúc này đã có cái nhìn của một người làm văn nghệ vì xã hội. Sau 1975 một vài năm, bối cảnh và nhân vật cũng như mạch văn của Bầy Thú Hoang Dã một lần nữa lại xuất hiện trong một truyện ngắn mới của TNS trên Tạp chí Sông Hương (anh giữ công tác Thư ký Tòa Soạn). Qua 2 truyện ngắn này, dư luận giới sáng tác râm ran nghi ngờ về tính tình của NĐS.

 Khát vọng 
Con người thật của nhà thơ  có cuộc sống lập dị này ra sao ?
NMT từ Huế vài Sai Gòn làm văn nghệ  vào năm 1965. Trong cảnh đói rách, NMT có thời gian ngắn phải nương tựa nơi nhà trọ của NĐS ở Bình Dương. Cùng với Đại Đức Thích Thanh Tuệ, Phạm Công Thiện, giáo sư Bửu Ý, anh là thành viên của họ nhà trai trong lễ cưới vợ cho NĐS tại thị xã Thủ Dầu Một. Mới đây nhất, hồi cuối năm 2012, NMT lên Bảo Lộc thăm lại NĐS lần thứ 2 kể từ sau biến cố 1975 (lần thứ nhất vào năm 2011), NMT nửa đùa nửa thật bảo rằng sau bài tạp bút kể chuyện đám cưới NĐS, anh sẽ kể chuyện NĐS là  “cơ sở cách mạng”. Nguyên do có một lần vào đêm giao thừa ở Bình Dương, NĐS nấu một nồi xôi rất ngon. Nhưng đã qua phút giây trừ tịch mà ông vẫn chưa chịu dọn ra ăn dù cả hai đang rất thèm. Bởi vì NĐS bảo “đợi nghe  “lời chúc Tết” trên đài Hà Nội xong mới được ăn” !
Các văn nghệ sĩ dưới bất kỳ triều đại nào cũng đều rất sợ bị mang tiếng xu nịnh nhà cầm quyền. Nhưng thật bất ngờ là lần này, chính NĐS lại giả bộ sốt sắng: “ông viết lẹ đi ! Để các cán bộ bỏ quy chụp rằng tôi đưa vợ con lên miệt Phương Bối lánh đời là vì ngày xưa tôi sáng tác cho chế độ cũ; chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa thực dân mới Mỹ ngụy” !

Ngày trước 1975 NĐS vẫn luôn miệng chửi đế quốc Mỹ. Những vần thơ thuở ban đầu của NĐS nặng tình với bóng dáng quê hương. ó những câu dễ khiến cho có người nghĩ rằng ông “thiên tả”. Như :

“…quê mình ai còn ai mất
đi rồi gươm súng mùa thu
khóc mãi từng đêm lưu lạc
nói ra thêm oán thêm thù

ngõ về làm sao ngài ngại
xe cộ có dễ dàng không
kháng chiến người đi chưa lại
lúa khô héo cả ruộng đồng…”

                                (bài Quê Hương-Những Bài Tình Đầu”

Khi đến tuổi chính thức vào đời, như nhiều văn nghệ sĩ khác, NĐS khá bị dồn nén trước sự hấp dẫn của những nàng thiếu nữ. Cảm xúc ấy mãnh liệt chạy vào thơ ca, ra những lời lẽ rất thực:

…Năm mười sáu có lần anh ngó thấy
Em ở truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng
Hồn thảo dã trong anh vừa thức dậy
Suốt bầu trời ướt mượt cả lông măng…

Vốn là người thích sống với thiên nhiên, nên cảm xúc về thân thể có khi lại hòa quyện với những ám ảnh về nỗi cô đơn trong cõi hoang vu. Như trong bài “Đi Thăm Bạn Sắp Đẻ Ở Di Linh”:

Sắp đẻ ở Di Linh cây cối chào chị 
Sắp đẻ ở hư không rừng và chị ôm nhau hát 
Tôi giấu mặt đi ven hồ lạnh giá 
Căn nhà gỗ phần mộ thanh xuân 
Những ván thông dày đặc gỗ quan tài 
Của tóc của chị của tình nhân 
Của dương cầm bỏ phế đúng một năm
Sắp đẻ ở Di Linh cô đơn hùng dũng 
Chị thu mình như một con mèo mun 
Chị thu mình như một vũ nữ Ba Lan 
Chị thu mình như một dĩa hát cũ
Oh, my tormented heart 
Buổi chiều chết trên cây thánh giá 
Hãy quên tôi như một mũi tên 
Hãy quên tôi như một loài chim đêm
Anh đưa chị về đây để tự vận 
Chị thổ huyết ba lần tôi chứng kiến 
Khi rừng già thấp xuống thấp xuống 
Buổi sáng chị tắm sương mù 
Buổi chiều chị đốt cỏ để hong đời chị 
Hiu hắt như đời tôi chị đứng lên 
Hai mươi bảy năm tuột mất thanh xuân
Ôi nắng vàng dòng thác Gougah 
Rừng và chị ôm nhau hát 
Sẽ đẻ ra một đứa con 
Rừng và chị ôm nhau chết.
Bài thơ rất hay này được NĐS viết ra khi anh còn rất trẻ, bằng thể điệu gần với trào lưu sáng tác hiện đại.  Khi ấy ông chưa  gia đình riêng. Có lẽ cần lui lại một chút thời gian để rõ thêm về dòng chảy của 20 năm văn học Miền Nam (1954-1975). Vào khoảng những năm đầu thập kỷ 60, với sự chiếm lĩnh thị trường báo chí văn học nghệ thuật, tạp chí Sáng Tạo với thế hệ các  nhà thơ cổ vũ cho thể thơ tự do gần như chiếm ưu thế. Ở một số “tuyên ngôn”, có khi họ mạnh tay chê bai, xóa bỏ những thành tựu của các thể thơ truyền thống. Nhưng với bài thơ có cách diễn đạt mới lạ như “Đi Thăm Bạn Sắp Đẻ Ở Di Linh”, nhà thơ trẻ Sao trên Rừng vốn rành rẽ nghệ thuật sáng tác với các thể thơ truyền thống, đã chứng minh rằng thể loại diện đạt không phải là sự quyết định, ai cũng có thể “dụng công”. Để làm ra một bài thơ hay, cái quyết định là phần hồn của người sáng tác. Tức mình vì thị trường sách báo bị chiếm lĩnh bởi một số “phe  nhóm”, NĐS luôn khao khát có chỗ để lên tiếng. Nên ông đã tự lập ra một “Tạp chí xuất bản bất định kỳ” mang tên Mặt Đất khi không có một đồng xu dính túi. Tên Mặt Đất còn biểu thị mơ ước tự do giữa cõi bao la đất trời. Về sau, đến khi chơi thân với lớp làm thơ trẻ hơn như TNS, NMT và tôi, ông vẫn còn biểu lộ mơ ước về tự do trong th trường sáng tác, xuất bản sách báo văn nghệ (Những khao khát này tôi đã có dịp viết ra trong sách “22 tản Mạn-NXB Hội Nhà văn 2013, Công ty Phương Nam Book phát hành).

Những nghịch 
Không phải đợi đến sau 1975 NĐS mới dắt cả vợ con bỏ lên rừng sống cuộc đời “hái lượm” như nhiều người vẫn nghĩ. NĐS vốn chỉ biết sinh sống bằng nghề dạy học và sáng tác. Mà cả hai, vào nhiều năm đầu sau chiến tranh, đều phải ép vào khuôn khổ. Cuộc đời mỗi người đều phải gánh chịu mọi diễn tiến khi lựa chọn một cách sống. NĐS vì thiên bẩm nghệ thuật thi ca, nên ông rất quyết liệt. Ông phải chịu nhiều sự bất hạnh và tai tiếng của người đời. NĐS có lúc đã tự “mắng” mình như “cây bông” trồng “chật chỗ”. Và khoảng năm 1988, ông phải chịu nỗi đau lớn khi một đứa con vì đói ăn trúng nấm độc mà chết. Thể thơ “hai chữ” như dưới đây được ông sử dụng nhiều từ khi sáng tác ra bài thơ dài “Du Sỹ Ca”-1973:
BÀI THƠ LÀM TRÊN ĐƯỜNG ĐƯA ĐÁM ĐƯÁ CON TRAI CHẾT  ĐÓI ĐẾN NƠI NGÀN THU AN NGHỈ

Bao năm
Thui thủi
Mần cuỉ
Cuốc đất
Quên mất
Trời xanh
Ném nhanh
Sách vở
Người ở
Cùng đá
Vui quá
Nhà cây
Tới đây
Thiên đường
Hý trường
Đâu phải
Sao cãi
Lời cha
Bò ra
Gò mả.
                
Có lẽ nỗi đau ấy rồi cũng sẽ phôi phai. Vì từ những ngày đầu làm thơ, ông đã sớm nhận ra rằng :
MỘT TÂM ẢO TƯỢNG

xe chênh bánh giữa luân hồi
ưu bi chở ngập bên trời bao la
ngày chưa sụp bóng ta bà
đã nghe chừng Hội Long Hoa đến rồi
một ngài Di Lặc xa xôi
một tâm ảo tượng tôi ngồi thâu đêm.
                                  (Lời Ru- Những Bài Tình Đầu)
Từ năm 1972, nhà thơ Viên Linh, thư ký tòa soạn tuần báo văn  nghệ Khởi Hành đã cho rằng :… “Theo tôi thì ở Miền Nam Việt Nam hiện nay chỉ có vài thi sĩ: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Trần Tuấn Kiệt…”  (Kỳ báo 18-5-1972).
Theo quan niệm được nhiều người công nhận thì nhà thơ có thể nhiều, còn thi sĩ là người có cuộc sống và làm thơ hòa lẫn. Nhận định ấy đến nay vẫn đúng.
Và vẫn còn đó, “Sao Trên Rừng”./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét