Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

BẦY THÚ HOANG DÃ - THÁI NGỌC SAN ( Truyện ngắn )

Cách đây mười lăm năm tôi có viết một truyện ngắn về vợ chồng ông Lâm. Truyện ấy sau khi đăng trên một tờ báo văn nghệ Sài Gòn tôi liền nhận được một lá thư của ông. Lá thư vỏn vẹn chỉ có một câu như sau: "Cậu là một thằng mất dạy!".
Bầy thú hoang dã
Minh họa: Ngọc Thảo Nguyên
Đọc lá thư tôi cười và đột nhiên nhớ lại một kỷ niệm với ông, kỷ niệm cuối cùng trước khi tôi rời thị trấn Lộc Bảo, nơi tôi và vợ chồng ông Lâm sống cạnh kề nhau một thời. Kỷ niệm ấy chỉ là một chuyện nhỏ nhặt nhưng điển hình về tính cách của ông Lâm. Chuyện như thế này. Ông Lâm có làm một vồng đất để trồng rau sau hè nhà. Đất vừa làm xong, buổi tối tôi đi tiểu vô tình dẫm đạp lên trên để lại một dấu chân lún sâu ở một mé góc. Thế mà, sáng hôm sau, vừa mở mắt dậy, ông Lâm xồng xộc nhảy vào phòng tôi như thể bắt được quả tang thằng ăn trộm hoặc đốt nhà; ông xỉa xói mắng nhiếc tôi một thôi một hồi đến xùi cả bọt mép. Cậu là một thằng mất dậy! Trên đời nầy tôi chưa thấy một thằng nào ích kỷ như cậu, ghen tị như cậu, khốn nạn như cậu... v.v. và v.v... Đại loại như vậy; có nghĩa là ông cho rằng tôi cố tình phá hoại công trình sản xuất của ông, hoặc cố tình chọc tức ông, vì ghen ghét, tị nạnh thành quả lao động của ông. Tính khí của ông tôi đã quen, hễ ông đã bám vào điều gì thì nó phải là như vậy, hoặc giả, ông có phịa ra nữa, ông cũng biến nó thành ra thật và cuối cùng ông cũng tưởng là nó thật. Thế nhưng hôm ấy tôi đã chịu đựng không nổi; tôi tức giận đến nỗi phải tuôn ra một tràng chửi tục ông mới thôi. Và cũng chỉ đến thế thôi bởi vì tiến xa hơn nữa thì ông Lâm không thể làm được, thí dụ như việc thượng cẳng chân hạ cẳng tay chẳng hạn. Tóm lại là ông chỉ giỏi võ mồm thôi. Nhân chuyện này tôi nhớ một chuyện khác, chuyện này thì do ông Lâm kể cho tôi nghe hồi tôi mới quen ông. Hồi ấy, khi ông vừa hoàn thành tập thơ đầu tay, có một ân nhân, cũng có làm thơ nhưng lại có tiền, đã đứng ra in tập thơ cho ông. Tập thơ in xong hai người có chuyện xích mích to tiếng, to tiếng đến nỗi vị mạnh thường quân đã giáng cho ông Lâm một bạt tai. Dĩ nhiên ông Lâm không trả lại được một bạt tai nào vì nhà thơ kia vừa to, cao lại vừa nổi tiếng là hung dữ. Nhưng ông Lâm đã trả được mối nhục theo cách của ông. Tối hôm ấy ông thủ sẵn hai cục đá to trong túi quần và rình vị ân nhân của mình nơi góc phố ngả rẽ vào nhà ông ta. Kết quả cuối cùng: một cục đá va vào trụ điện, cục kia, may mắn hơn, trúng vào hông của địch thủ. Xong, ông Lâm ba chân bốn cẳng: chạy. Chuyện này ông Lâm chỉ kể cho tôi nghe cụ thể đoạn cuối, còn đoạn đầu do vị ân nhân vô phước của ông kể lại. Tựu chung, tôi nghĩ, sự việc có sao chăng nữa thì chắc chắn xuất phát điểm của nó là do tính khí của ông Lâm mà ra thôi.

Thế nhưng, giữa tôi với ông Lâm hình như có một sợi dây vô hình của số mệnh cột chặt không thể rời. Trong nhiều năm tôi cứ nghĩ mãi điều ấy và chờ đợi một sự thay đổi ở ông như là chờ đợi sự đổi thay của định mệnh. Đối với tôi một sự thay đổi của ông Lâm ngang tầm một biến cố trọng đại của một đời người. Bởi vậy sau ngày giải phóng tôi cố tìm mọi cách để đi lên thị trấn cũ ấy một chuyến mà mục đích là để biết vợ chồng ông Lâm ra sao. Thực ra, trong mười năm nay, tôi cũng có biết ít nhiều về vợ chồng ông qua tin tức đồn đại của những người quen biết. Tất cả đều là chuyện động trời, từ chuyện ông Lâm dẫn vợ con lên sống trong một cái hầm chứa nước ở trên núi cách ly hẳn với mọi người, chuyện sáu thằng con trai ông sống như người rừng... cho đến tin đồn cuối cùng là ông Lâm điên rồi. Nói chung tất cả những tin tức đồn đại ấy đều đúng cả, chỉ trừ chuyện ông Lâm điên. Tôi quả quyết như vậy bởi vì mới đây tôi đã lên thăm được thị trấn cũ ấy và có gặp vợ chồng ông.

***

Bà Phụng gọi tôi đầu con dốc cửa ngõ thị trấn, lúc tôi vừa ở chỗ vợ chồng bà về. Lúc tôi lên chỉ gặp ông Lâm và mấy đứa con. Tôi hỏi bà, ông Lâm nói bà về chợ, nhưng trong bụng tôi ngờ ngợ không tin, cứ nghĩ chắc là bà cố ý tránh tôi... Bây giờ tôi gặp bà ở đây. Ông Tân! Ông Tân phải không? Bà gọi tôi một cách mừng rỡ và kinh ngạc trong lúc đang đẩy chiếc xe đạp thồ những bao bì lỉnh kỉnh, có lẽ là gạo cơm, mắm muối... những thực phẩm cần thiết cho những người ở núi. Thoạt tiên tôi không nhận ra bà, Bà già và khác đi một cách kinh khủng, cái già của một người bị thời gian tràn qua tàn phá một cách dữ dội và nhanh chóng đến nỗi không để lại dấu ấn của tuổi tác. Mãi đến khi bà dựa chiếc xe đạp vào gốc cây bên đường, gỡ tấm khăn trùm đầu lau lớp mồ hôi lết bết trên mặt tôi mới giật mình. Chị Phụng! Trời ơi! tôi vừa lên chỗ chị! Tôi nhận ra bà ở đôi mắt sâu hoắm và tấm thân dài ngoẵng, những vết tích khắc nghiệt còn sót lại của một nhan sắc một thời mà chỉ có những người quen biết nhau lâu mới nhận ra.

Đôi mắt đó ngày xưa tròn và xanh biếc đến bao nhiêu thì nay sâu hoắm và vàng đục bấy nhiêu, còn tấm thân thanh mảnh ngày nào nay đã khô đét và gãy gập như cái cây khô bị dầm dãi nhiều ngày giữa mưa nắng. Tôi định thốt lên sao mà bà già và khác đi đến thế. Nhưng bà đã cướp lời tôi và lại hỏi tôi câu tôi định nói với bà. Sao ông già thế, ông Tân? Câu hỏi của bà làm cho tôi càng bối rối. Nhưng, lại một lần nữa, không đợi tôi trả lời và hình như cũng không biết sự bối rối của tôi, bà lại cướp lời nói huyên thuyên đủ mọi thứ chuyện, bà nói như thể lâu lắm rồi không được nói và sợ không còn dịp nào để nói. Và, vẫn như ngày xưa, câu chuyện chỉ xoay quanh ông Lâm, chồng bà. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu làm sao chỉ trong chừng ấy phút ngắn ngủi mà bà có thể kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện xảy ra trong vòng mười lăm năm tôi xa họ...

***
Minh họa: Ngọc Thảo Nguyên

Căn nhà của họ như một cái chuồng bò nằm lõm sâu giữa ba ngọn đồi cao, trên cái nền cũ của một khu tịnh cốc đã đổ nát. Trước kia một nhà sư có tiếng tăm cùng các đệ tử của ông có ý muốn xây dựng ở dây một trung tâm văn hóa lớn của Phật giáo. Công trình bị phá bỏ vì chiến tranh. Những năm ác liệt nhất của cuộc chiến, khu vực này nằm trong vùng oanh kích tự do. Bom đã xóa sạch, để lại những đống tường vỡ trên những lớp nền loang lổ cây cỏ đã phủ đầy. Vật duy nhất nguyên vẹn còn sót lại là cái hầm chứa nước nổi nằm trên đỉnh ngọn đồi, nơi vợ chồng ông Lâm đã sống trong đó mấy năm trước khi dựng nhà. Từ đó đến nay họa hoằn lắm mới có người qua lại, phần lớn là những người đi làm rừng.

Đứng trên cái hầm chứa nước có thể nhìn rõ ba phía trước mặt. Những đồi chè dưới thấp trải dài mênh mông. Dưới xa hơn nữa là những cụm nhà san sát dọc hai bên đường quốc lộ nối dài đến thị trấn. Đó là những giáo xứ di cư sầm uất, giàu có như một vành đai chiến lược bảo vệ cửa ngõ. Có lẽ một trong những ý của các nhà sư khi xây dựng khu tịnh cốc trên cao là muốn ngăn chặn sự lây lan mỗi ngày mỗi rộng của những cụm nhà bên dưới. Ở đấy cũng có thể nhìn thấy thị trấn Lộc Bảo nổi lên một cụm xanh ngắt của những cây xà cừ cổ thụ trồng từ thời Pháp thuộc. Từ thị trấn đến đây cách khoảng mười cây số đường chim bay. Phía sau là rừng - khu kinh tế của gia đình ông Lâm.

Đến cả bà Phụng cũng không thể trả lời được vì sao ông Lâm trở lại thị trấn và lên chỗ heo hút này sau ngày giải phóng. Trước đó chính họ đã từ bỏ nó trở về quê cũ của bà Phụng ở thị xã Dương Bình, nơi họ có một gian nhà yên tĩnh trong vườn ngôi chùa của ông cậu của bà Phụng trụ trì, khi chết ông trăn trối lại. Bà Phụng nói với tôi: "Cái ông khỉ gió, điên khùng gây gổ người ta làm chi..." Ý bà muốn nói việc ông Lâm gây gổ mạt sát những cán bộ chính quyền địa phương khi họ đến mời ông tham gia công tác. Họ mời ông cũng phải thôi bởi vì ông là một trí thức có cả một quá trình bất hợp tác với chế độ cũ, lại còn bị hành hạ gian truân đủ điều. Nhưng bà Phụng chỉ nói thế thôi, nói như một lời trách móc cam phận, bởi vì bà thừa biết rằng sự gây gổ khiêu khích là bản tính thường trực của chồng bà và cũng không hẳn vì thế mà ông Lâm bỏ đi. Đối với bà từ khi kết chặt đời mình với ông Lâm, mọi quyết định của ông là bất di bất dịch; bà quan niệm nó như là vấn đề của số kiếp đặt để. Cũng bởi vậy cho nên trong những chuyện kể với tôi dù nó được mô tả một cách trần trụi, và có khi, bà gọi ông Lâm là thằng khùng, hoặc nói đến ông như một ngôi thứ ba xa lạ nào đó trong câu chuyện, bà vẫn chấp nhận ông Lâm như là số phận của bà không hề oán trách. Tôi không biết bà Phụng với ông Lâm có yêu nhau không nhưng, ít ra, cũng như loài thú họ đã chọn chung hang ổ để ăn ở với nhau sinh con đẻ cái.

Ông Lâm có sức đề kháng của một con mãnh thú cho nên trông ông ít thay đổi hơn bà Phụng, chỉ có già đi vì năm tháng và những trận sốt rét. Việc tôi xuất hiện đột ngột sau mười lăm năm xa cách, phải vượt cả ngàn cây số và leo cả ba ngọn đồi để đến thăm ông, ông làm như thể, hoặc giả vờ như thế, như là một việc tự nhiên phải vậy, và tỏ ra như ông đã biết trước rồi. A! Cậu đó à? được! Tốt lắm! Nói xong ông chắt chắt cái lưỡi rồi cứ loay hoay như đang bận tâm đến một vấn đề gì rất ghê gớm. Tôi biết như vậy có nghĩa là ông có xúc động, nếu không ông đã phủ đầu tôi tức khắc bằng những câu chưởi xâm xỉa độc địa của ông rồi. Chỉ có một điều làm tôi sửng sốt là sáu đứa con của ông. Mặc dù tôi đã được nghe mô tả từ trước nhưng khi nhìn thấy chúng tôi không khỏi bàng hoàng. Chúng nó đúng là những con thú con chưa hề bước ra khỏi hang ổ. Chúng nhốn nháo lên khi tôi xuất hiện và nhìn tôi bằng những đôi mắt lấm lét, nghi kỵ, lạ lùng. Thấy vậy ông Lâm hét lên một tiếng, chúng liền sợ hãi dạt ra trốn vào các xó góc như những con chuột ngấp nghé ở miệng hang. Chỉ có thằng nhỏ nhất là khóc ré lên như động kinh trên chiếc võng bện bằng dây rừng. Cả sáu thằng, ngoại trừ thằng đầu, đẻ cách ba năm, và thằng cuối, nằm trên võng, tôi phân biệt được, còn bốn thằng còn lại tôi không tài nào biết đứa nào anh đứa nào em vì chúng đẻ cách nhau năm một và lem luốc như những con dã nhân. Thằng con đầu, đẻ hồi tôi còn ở thị trấn nầy, như vậy là đã đến 15 tuổi. Hồi ấy ông Lâm nói với tôi là ông sẽ đặt tên nó là Đá, nhưng không hiểu sao cuối cùng ông đặt là Thạch. Thạch cũng là đá thôi, tôi nghĩ và cười. Tôi nhớ trước khi đẻ nó ông Lâm đã nói với tôi hai điều: một là ông sẽ đặt tên con như vậy và hai là ông sẽ không cho nó học hành gì cả, tự nó sẽ tìm chỗ của nó giữa trời đất. Như vậy là điều thứ nhất ông có thực hiện một nửa. Còn điều thứ hai thì ông làm triệt để. Trước khi tôi lên đây một năm, có một cô giáo trẻ ở thị trấn nghe kể chuyện về mấy đứa nhỏ đã mua một số kẹo bươn bả lên thăm chúng. Lúc bấy giờ vợ chồng ông Lâm đang hái măng trong rừng. Cô giáo chưa kịp bước vào cửa thì thằng anh cả, tức thằng Thạch, đã chỉ huy mấy đứa em vừa ném đá vừa dùng gậy la hét một cách man rợ làm cho cô gái thất kinh hồn vía tưởng bọn nhỏ sắp ăn thịt mình. Cô phải về đến nhà nằm khóc nức lên vì tức giận và xấu hổ. Câu chuyện đó vang động cả thị trấn một hồi và người ta đồn là ông Lâm sắp điên đến nơi.

Nhưng chắc chắn là ông Lâm không điên. Tôi thấy ông vẫn giống như chục năm về trước, khác chăng là trạng thái tinh thần của ông được đẩy đến mức tận cùng của nó. Đó là tính cuồng ngông ông sử dụng như một cứu cánh để tồn tại. Ông ta giăng lưới và tự đánh bắt mình, tự nhốt ông vào cái rọ do tự ông đan lấy, rồi cứ thế lăn xả vào người khác như những thủ phạm chính đã bức hại ông. Ông luôn luôn trang bị ý thức cảnh giác và tự vệ của những con thú bị săn đuổi. Những đứa con của ông cũng được huấn luyện đầy đủ ý thức ấy và chúng đã thực hiện bằng bản năng hoang dã nguyên sơ của chúng. Trong buổi gặp gỡ với tôi, ông Lâm đã mở đầu bằng một câu chuyện mà ông rất thú vị. Câu chuyện về hũ tương. Ở nhà ông luôn luôn có một hũ tương do ông tự làm lấy. Ban ngày cái hũ được phơi ngoài trời, bên hông nhà. Ở ngay chỗ đó, trên vách, ông Lâm khoét một lỗ tròn vừa đủ mắt nhìn và ông bắt những đứa nhỏ thay phiên nhau canh gác vì sợ kẻ trộm lấy mất hoặc xúc bớt. Ông khẳng định với tôi dứt khoát phải như vậy vì ông tin rằng khả năng ấy có thể xảy ra mặc dù ở chỗ ông họa hoằn lắm mới có người đi qua. Rồi, từ câu chuyện hũ tương, ông Lâm liền bắt ngay vào cuộc đàm đạo một chiều với tôi như tiếp tục câu chuyện mới hôm qua còn bỏ dở. Ông nói: Cái chủ nghĩa tư bản đã thối ình ra rồi, nhưng cái chủ nghĩa xã hội của cậu cũng hỏng bét - Hỏng bét! Cậu biết không? Hôm tay bí thư xã lên đây tôi đã cho y một mẻ, y định cho du kích bắt, nhưng đừng hòng... Rồi cứ thế ông châm chọc người này, xâm xỉa người kia trong các mối quan hệ này khác của ông và tôi. Phép biện chứng của ông được phát triển theo một lô-gích hết sức bất ngờ. Đại loại ông có thể chộp đâu đó một cộng rác rồi sẵn sàng qui kết: Đấy, chủ nghĩa xã hội của cậu là như thế đấy - toàn rác! Vậy cho nên câu chuyện bí thư xã mà ông Lâm nêu thành gương điển hình của sự hỏng bét cũng không lạ gì. Trong khi ông nói, tôi vừa im lặng ngồi nghe không tranh cãi, vừa quan sát cái hang ổ của ông để cố lần ra dấu vết vì sao ông lên chỗ thâm sơn cùng cốc nầy và phải chăng ông đã đoạn tuyệt hẳn thế giới loài người. Đột nhiên ông làm tôi giật mình. Này, cậu có đọc thằng cha này không? Ông Lâm nhắc đến tên một nhà văn mà tôi biết. Thằng cha này viết giỏi đấy, giỏi đấy. Ông nói - Hắn viết như lấy dao thọc vào bụng người ta. Nhưng mà lưỡi dao hắn bằng... nhựa! Còn thằng này nữa - Ông Lâm nói tiếp - Nếu hắn không là đảng viên thì sẽ khá biết bao nhiêu. Ông nhắc đến một nhà văn khác. Không - tôi nói - Ông ấy là người ngoài đảng - Vậy à? Nhưng dù sao hắn cũng nằm trong vòng kìm tỏa của đảng các cậu thôi. Tôi cười ha hả làm ông Lâm bực mình. Cậu cười cái gì? Hai thái dương ông giật giật giật như bị động kinh. Không, tôi không cười về ý kiến của anh đâu. Tôi cười là vì hóa ra anh vẫn chưa đoạn tuyệt hẳn với cuộc đời, văn chương... Như người bị mắc lỡm, ông Lâm văng tục. Tôi ỉa vào cuộc đời các cậu, văn chương các cậu. Nói xong ông đứng dậy bỏ ra ngoài, leo lên cái bể nước hang ổ cũ của vợ chồng ông. Tôi biết như thế là cuộc gặp gỡ đã chấm dứt, tôi theo ông ra ngoài để chia tay. Tôi chỉ tiếc một điều là đã cắt ngang câu chuyện của ông quá sớm để có thể lần ra dấu vết nguyên nhân vì sao ông đưa vợ con lên đây mà trong đó tôi vẫn mơ hồ nghĩ tới một người đàn bà có quan hệ với ông một thời...

***

Việc quen biết giữa tôi và ông Lâm cũng thật hạn hữu, cách đây đã gần hai chục năm. Hồi đó ông Lâm đã là một nhà văn nổi tiếng ở chế độ cũ qua một số tác phẩm. Đột nhiên ông tự quảng cáo và cho xuất bản một tờ báo văn nghệ. Tôi có gửi bài cho tờ báo của ông. Một ngày kia tôi nhận được một lá thư của ông mời tôi cùng vào làm báo với ông. Lúc bấy giờ ông Lâm đang dạy Anh văn cho một trường trung học tư ở Dương Bình, một thị xã ở miền Đông Nam Bộ. Bức thư, tờ báo và những tác phẩm của ông Lâm kích thích tính phiêu lưu của tôi. Tôi quyết định đi. Năm ấy tôi chưa đầy 20 tuổi. Ông Lâm lớn hơn tôi cả chục năm. Tôi rời Huế từ đấy và cũng từ đấy cuộc đời tôi bắt đầu những chuyến viễn du dài. Nhưng quan hệ văn chương và thực tế cuộc đời đôi khi làm người ta thất vọng.

Điều ấy đã xảy ra cho cả tôi và cả ông Lâm khi tôi đến Dương Bình. Bởi vậy, những xung đột liền nẩy sinh và càng ngày càng dữ dội. Ông Lâm mạt sát tôi là thằng bạc nhược, còn tôi cũng nhìn ông bằng con mắt khác. Ông là một con người độc đoán, nghiệt ngã trong mọi công việc, luôn Iuôn khiêu khích gây hấn đến nỗi tôi nghĩ rằng đó là một nhu cầu bẩm sinh xuất phát từ một trạng thái bệnh lý. Tính chất ấy nó được cấu tạo bởi một hoàn cảnh và một thể trạng đặc biệt. Cao một thước năm, đầu gồ, mắt lé, đi loắt thoắt, ông có dáng dấp của một người vượn nguyên thủy. Ông sống cô độc từ nhỏ trong một gia đình tan rã, cha mẹ anh em mỗi người một nơi và người này như là nghiệp chướng của người kia. Bởi vậy cho nên sau một trận gây gổ tôi bỏ đi. Thực ra, nếu không có chuyện ấy tôi cũng phải đi thôi vì tờ báo của ông Lâm chỉ ra được một số duy nhất trên đời. Cuộc chia tay không sớm và cũng không muộn, tất yếu nó phải thế. Tôi cũng gặp bà Phụng ở đấy, trong một ngôi chùa cổ, nơi tôi và ông Lâm thường lui tới. Vị sư trụ trì là một người tốt bụng, là cậu ruột của bà Phụng. Mẹ bà tự tử và gởi bà lên chùa cho người em ruột năm bà mới lên hai. Bà là kết quả của một vụ cưỡng hiếp trong một đợt Tây càn quét qua làng. Năm ấy bà Phụng mới 16 tuổi. Cây trái, sông nước miền Đông, không khí u tịch của cửa thiền và dòng máu lai đã un đúc nên một nhan sắc như tranh vẽ. Bây giờ tôi vẫn không hề quên được hình ảnh của bà thời ấy, cái thân hình thanh mảnh, mái tóc vàng hoe và đôi mắt tròn to xanh biếc của bà như bay tỏa cả rừng cây những buổi chiều lộng gió. Đó là hình bóng của thần tiên bay thoát trên cuộc đời. Nhưng tôi đi một thời gian thì được tin ông Lâm cưới bà. Ông Lâm đã kéo bà ra khỏi thế giới thần tiên và hóa thân bà bằng tất cả sức mạnh nghiệt ngã cường thú của ông. Sau này có lần bà Phụng nói với tôi, sở dĩ bà lấy ông Lâm vì ông Lâm dọa bà nếu không lấy, tôi sẽ nhẩy xuống giếng. Cái giếng dưới chân đồi ngôi chùa cổ sâu ngun ngút toàn đá găm, giả dụ như ông Lâm nhảy xuống chắc chắn bây giờ chẳng còn gì để nói nữa rồi.

Bốn năm sau do hoàn cảnh đưa đẩy tôi lại gặp ông Lâm tại thị trấn này. Căn nhà cũ tôi và ông Lâm sống một thời nằm khuất sau con dốc nơi tôi gặp bà Phụng. Thị trấn yên tĩnh vùng cao nguyên bát ngát những đồi chè và hoa muồng vàng đất đỏ và sương mù, gồm toàn dân tứ xứ, thật an toàn cho những người bị săn đuổi trú ẩn. Lúc bây giờ tôi và ông Lâm đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc đời. Cả hai đều bị bắt lính, rồi trốn, bị bắt, rồi trốn lại. Căn nhà cũ tôi và vợ chồng ông Lâm ở chung là căn nhà bỏ hoang của một trường trung học chuyên nghiệp, do một giáo viên quen biết cho ở. Phòng tôi và vợ chồng ông Lâm đối diện nhau trong gang tấc, ban đêm có thể nghe được tiếng sương thấm qua những tấm ngói vỡ rơi lách tách. Ông Lâm về đây trước, sau khi ông ra khỏi nhà giam, vài tháng sau bà Phụng mới từ Dương Bình lên.

Những vết lằn nhục trên thân xác mà những trại lính, nhà tù gây ra càng làm ông Lâm không ngớt lời nguyền rủa, nhưng cũng chẳng làm ông khác đi bao nhiêu. Ông vẫn cố chấp nghiệt ngã, nhìn con người, sự vật, lịch sử và cuộc chiến tranh theo lăng kính của ông. Hình như những khái niệm dân tộc, huyết thống, đạo đức, lý tưởng đối với ông không có giá trị gì. Bởi vậy những ngày gặp lại ông Lâm ở Lộc Bảo mối quan hệ giữa tôi với ông Lâm không thay đổi. Tôi gần như tuyệt mù hy vọng sẽ có một biến cố làm cho ông Lâm đổi khác đi. Riêng bà Phụng từ khi ở Dương Bình lên tôi thấy bà lạ hẳn đi. Bà đẹp ra một cách dữ dội, nhất là sau khi sinh đứa con đầu lòng. Nhưng giống như những con người hoang dã vừa tiếp xúc với cuộc đời, bà trở nên cục súc một cách ngây thơ làm cho tôi thất vọng, ngậm ngùi. Đúng là bà vừa bước ra từ một bức tranh vẽ chỉ mới biết cuộc đời trong vòng tay thô bạo của ông Lâm, còn ông Lâm, khi những dục vọng của ông đã thỏa, người đàn bà nầy chỉ còn lại là một sinh vật đồng loại mà thôi, không thể nào trở nên nỗi khát vọng lớn lao của ông được.

Bản chất hư vô cuồng loạn càng ngày tách ông Lâm ra khỏi thế giới đồng loại. Hình như đối với ông những đồng loại được sinh thành chung quanh luôn luôn sẵn sàng tư thế để phủ nhận ông nếu có điều kiện. Bởi vậy, nếu ông có lỡ dành cho ai một chút lòng yêu mến ông liền thủ sẵn cả ngàn sự cố chấp đã trở thành căn bệnh hoài nghi cố hữu. Chỉ duy nhất một người đàn bà mà tôi biết ông hoài niệm suốt đời. Đó không phải là bà Phụng. Người đàn bà ấy đã đi qua đời ông thật ngắn ngủi, nhưng điên cuồng như cơn lốc, đến nay vẫn còn làm ông Lâm choáng ngợp không thể nào xóa đi được hình ảnh của bà. Điều ấy cũng có thể dễ hiểu bởi vì bà ấy đã chết, chết sau khi đến với ông. Cả tôi cả ông Lâm đều có quan hệ với bà: Đó là người đã cho cả chúng tôi trú ẩn trong căn nhà hoang phế kia. Bà chết cùng với đứa con gái mười tuổi bên dòng sông Mê-Kông trong một ngôi chùa biên giới, trong đợt chính quyền ngụy Lonnon "cáp duồn" người Việt. Bà đến đó xuống tóc khi quyết định bỏ chồng sau cuộc gian díu với ông Lâm. Bà là một phụ nữ học thức, không đẹp nhưng kiêu hãnh. Tôi biết bà từ hồi ở Huế, lúc đó bà đã nổi tiếng học giỏi và kiêu ngạo rồi. Chồng bà cũng là một trí thức có tiếng tăm nhưng lại quá bạc nhược với vợ. Chính điều đó làm bà chán nản và đến với Lâm. Sau khi bà chết đi cuộc tình vụng trộm đó mới xôn xao lên trong một số người quen biết. Dĩ nhiên nhiều người lấy làm lạ và không tin. Nhưng tôi thì lại biết rất rõ. Tôi biết cả con đường nào bà thường đến với ông Lâm lúc nửa đêm, thời gian bà Phụng còn ở Dương Bình. Một người đàn bà kiêu hãnh như thế mà đã luồn qua hàng rào, leo qua cửa sổ đến với người đàn ông thô bạo như ông Lâm kể ra cũng là chuyện hiếm có trên đời. Phải chăng đấy là điểm bổ sung tính cách, giữa lòng kiêu hãnh và tính cuồng ngông? Sự ngông cuồng và sức mạnh dã thú của ông Lâm có thể là cả một hấp lực mạnh mẽ kích thích người đàn bà bung phá những ức chế đã kiềm tỏa bà bao nhiêu năm, để cho con quỉ được che phủ bởi bóng đêm sương pha dày đặc vượt ra khỏi nơi giam cầm của nó, kêu lên những tiếng kêu sổ lồng man dại... Cái dáng lom khom của chiếc lưng cong với đôi mắt không bao giờ nhìn lên trong những chiếc áo dài màu lạnh của người đàn bà những buổi chiều một mình trên những con đường đất đỏ xám xịt bóng cây gợi cho tôi hình ảnh của một vị tu kín u uẩn với những cơn sóng ngầm bão táp. Tôi cũng không rõ tình yêu của người đàn bà ấy với ông Lâm ra sao, bởi vì có khi sự cuồng loạn chưa phải là dấu ấn của tình yêu. Một buổi sáng người đàn bà đã dẫn cô con gái ra đi không một ai hay biết, kể cả chồng bà và ông Lâm. Buổi tối hôm ấy ông Lâm lấy chiếc armonica đi suốt trên những con đường của trường trung học, nơi người đàn bà thường đi, thổi vang lên một bài hát buồn quen thuộc. Tiếng kèn vang suốt đêm. Chỉ có những lúc xúc động nhất ông Lâm mới như thế và ông là một trong những người thổi kèn hay mà tôi được biết. Phải chăng đấy là nguyên nhân đưa ông Lâm đến đây?

***

Bà Phụng đã đẻ đứa con thứ hai trong hầm chứa nước của khu tịnh cốc. Bà không la hét, chỉ vùng vẫy một cách đau đớn như con cá đồng bị chằn trên cạn trước mặt ông Lâm và đứa con đầu. Ông Lâm đã làm tất cả mọi việc. Ông cắn nhau, lau đứa nhỏ và mẹ của nó rồi đặt cái sinh vật đỏ hỏn hon kia trong lớp áo quần rách mướp. Ông vừa làm vừa chắt chắt cái lưỡi như mỗi khi ông gặp chuyện xúc động. Còn thằng Thạch, đứa con đầu trong cái hầm tối, nó hoàn toàn không biết chuyện gì xảy ra, nó chỉ phân biệt được tiếng rên đau đớn của mẹ nó khác với mỗi lần ông Lâm đánh bà. Đến khi tiếng oa oa cất lên thì mắt nó đã nhíu lại và nó nằm vật xuống ngủ một giấc như chết. Còn ông Lâm khi làm xong mọi việc, ông leo lên nắp hầm, ông ngồi như thế rất lâu và huýt gió một bài hát quen thuộc của ông giữa bao la núi đồi, nghĩ đến chuyện nhân sinh hệ lụy còn hơi nóng trên bàn tay.

Đó là tất cả hình ảnh mà tôi tưởng tượng ra qua những lời kể đơn giản của bà Phụng. Bà không hề tỏ ra đau đớn, vì tất cả sự đau đớn của các bà mẹ đều giống nhau. Tiếng kêu la của các bà mẹ khi đẻ con một phần do đau đớn, một phần mang ý nghĩa của một lời thông báo về cái việc thiêng liêng của họ với mọi người. Còn bà Phụng, bà đã không kêu la vì bà chẳng cần thông báo cho ai, công việc của bà cũng như các sinh vật, có cưu mang là có sinh đẻ. Đứa con đó đã chết năm nó lên ba, sau một cơn sốt.

Gia đình họ đã sống trong cái hầm chứa nước đó đến mấy năm. Họ đã thả xuống những tảng tường vỡ làm bậc cấp lên xuống cái cửa duy nhất là cái nắp hầm. Đến khi bà Phụng sinh tiếp đứa con sau, một người thợ rừng đi qua đã giúp ông Lâm đập vỡ một khoảnh tường bên, trổ thông một cái cửa mới. Còn những đứa con tiếp theo sinh trong căn nhà mà tôi vừa đến. Căn nhà cũng được dựng lên trên một cái nền cũ bằng tất cả vật dụng phế thải của khu tịnh cốc và cây lá trong rừng. Suốt mấy năm nay họ sống bằng nghề lấy củi, bẻ măng, hái sim như những người nguyên thủy. Khác chăng là thỉnh thoảng bà Phụng hoặc ông Lâm về đổi lấy gạo và những thức dùng cần thiết. Những đứa con họ chưa hề ra khỏi khu tịnh cốc. Chỉ có thằng Thạch được quyền thỉnh thoảng về dưới chân đồi đón bố mẹ nó mỗi khi họ từ thị trấn về mang đồ đạc lỉnh kỉnh giúp đẩy xe lên dốc. Chỉ ngang chừng ấy thôi, chưa bao giờ thằng bé dám vượt qua giới hạn mà ông Lâm đã vạch cho nó. Thằng bé đã mười lăm tuổi nhưng trông nó như mới lên mười, có đôi mắt giống hệt ông Lâm: mắt cáo. Trông đôi mắt nó tôi không thể hiểu nổi nó đang suy nghĩ gì. Nó cứ bám dõi theo tôi không rời trong suốt buổi tôi nói chuyện với ông Lâm, như con thú đang chờ rình chụp con mồi hoặc chờ đợi một điều gì đó. Tôi rất muốn nói chuyện với thằng bé nhưng ông Lâm luôn luôn án ngữ trước mặt. Đó là sự tinh khôn của con cáo già: Ông không muốn ai đụng đến trật tự hang ổ của ông. Trông mắt thằng bé tôi biết uy lực của ông Lâm ghê gớm biết bao nhiêu. Ông cột chặt nó trong vòng đai mà nó chưa hề dám đụng tới để biết nó làm bằng chất gì và vì sao như vậy. Mãi đến khi từ giã ông Lâm về đến dưới chân dốc tôi mới gặp lại thằng bé. Nó đứng thu lu trong một lùm cây dại bên lối mòn, như một con chó đen đủi, hai con mắt lấm lét nhìn tôi vừa sợ hãi vừa kêu cứu. Hình như nó có ý đợi tôi từ lâu. Nhưng khi tôi gọi nó thì đột nhiên nó vùng bỏ chạy, nó chạy một mạch như bị ma đuổi... Ngay cả mẹ nó, bà Phụng, bà cũng giống như con nai tơ bị cáo thuần chủng, khi chưa biết những đồng cỏ xanh đã quen hơi thở của loài mãnh thú. Bởi vậy không ai đến với họ và ngược lại họ cũng chẳng đến với ai. Những năm đầu khi nghe tin vợ chồng ông Lâm trở lại thị trấn một vài người quen cũ có lên thăm nhưng dần dần do thái độ của ông Lâm, mọi người không còn ai đến nữa. Chuyện bí thư xã dưới chân đồi là chuyện có thật và, tất nhiên, không phải như quy kết của ông Lâm. Đồng chí ấy đi thăm một hiện tượng quái lạ trong địa phương để biết ra làm sao thôi, dĩ nhiên là không thể tránh được việc khuyên can, động viên này khác. Sau đó du kích có dọa ông Lâm thật vì thấy ông hung hăng quá, nhưng không ai bắt ông làm gì. Cuối cùng chính quyền xã ghép ông vào loại thần kinh để ông làm gì thì làm trên vùng đồi núi giang sơn của ông. Từ đó đến nay cùng sống với họ chỉ có muông thú và bệnh sốt rét. Bà Phụng kể lại với tôi rằng có lần ông Lâm lên cơn sốt nặng đến nỗi tưởng không qua nổi. Ông vừa sốt vừa đi chảy, bà Phụng phải làm công việc mà ông Lâm không muốn là đưa ông về bệnh viện thị trấn cấp cứu. Bà dìu ông đi suốt gần mười lăm cây số, đến nơi đã nửa đêm. Lúc bấy giờ bà có cảm tưởng như chỉ cần ai đụng khẽ bà một cái là bà đổ sụm xuống như cái cây mục. Thế nhưng bà không thể để sáu đứa nhỏ một mình ban đêm giữa núi đồi. Bởi vậy khi bệnh viện cấp cứu ông Lâm thì bà quay về. Bà không hiểu nhờ đâu mà bà có thể bò lên được con dốc trước cửa nhà. Nhưng, bỗng nhiên, như có một ngọn đèn chiếu rực vào mắt làm bà nổi đom đóm. Bà hét lên bất tỉnh khi biết đó là cái gì. Đến khi bà tỉnh dậy, trong bóng đêm đen kịt lặng ngắt bà như còn ngửi thấy mùi hôi của con cọp. Bà lết vội vào nhà và, cảm ơn trời đất, sáu đứa trẻ vẫn còn nguyên! Chúng lăn mỗi đứa một góc trên cái sạp tre như những con thú dại ngủ say trong hang ổ, bao nhiêu thời đại có đổi thay chắc chúng cũng chẳng cần biết làm gì.

***

Kể xong những câu chuyện bà Phụng như hơi tỉnh hẳn, giống như vừa trút được một gánh nặng từ lâu chất chứa trong người. Và khi sực nhớ đến thực tại, bà vội vàng trùm lại chiếc khăn, chia tay tôi một cách vội vàng rồi tiếp tục đẩy chiếc xe lên dốc. Trong bà như vừa qua một trạm nghỉ. Khi cái dáng khô đét của bà lom khom bên chiếc xe đẩy chỉ còn một chấm nhỏ đằng xa tôi vẫn còn đứng giữa đường. Bỗng nhiên tôi nhớ lại câu nói nửa đùa nửa thật với ông Lâm khi chia tay: "Anh coi chừng đấy, sẽ có ngày bọn nhóc trói gô anh lại, chứ không phải là ai khác đâu!". Dĩ nhiên chỉ nửa đùa nửa thật với ông Lâm thôi, còn tôi đã nghĩ phải như thế. Và chỉ có như thế thôi, đến khi thằng Thạch nó đủ sức vượt qua giới hạn của bố nó đã vạch ra chắc thế giới này mới có đổi thay.

Huế 9-1984/4-1985
T.N.S
(SH28/12-87)
 http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

LỜI ĐỂ LẠI CHO CON - NGUYỄN MIÊN THẢO



LỜI ĐỂ LẠI CHO CON

Các con sinh ra giữa thời khốn khó
những bữa cơm không có tiếng cười
những bữa cơm độn hoài khoai sắn
tuổi-thơ-trốn-tìm không có món đồ chơi

Cái nghèo khó dạy các con làm được con người
cái nghèo khó dạy các con những điều nhân nghĩa
ba suốt một đời đi tìm lẽ phải
trả giá cuộc đời bằng những đòn roi

Ba vẫn tin đời tươi đẹp vô ngần
ba vẫn tin ngày mai có những điều đổi khác
giữa trăm nghìn lối đi biết giữ mình trong sạch
hãy yêu người người sẽ yêu ta

Rồi có một ngày ba sẽ đi xa
lẽ sinh diệt thường tình ai biết được
các con rất buồn nhưng đừng bật khóc
nỗi đau nào rồi cũng sẽ phôi pha

Ngày ba đi mẹ con như chim lẻ bạn
sẽ buồn thương nhung nhớ đến vô vàn
thôi hãy nén nỗi đau ngày ly biệt
biết đâu chừng gặp lại giữa trần gian

Lời cuối cùng ba để lại các con
hãy biết sống cuộc đời thanh bạch
tiền tài lợi danh đều không có thực
sống thật thà đời sẽ vui hơn

Mẹ các con từng xẻ thịt banh da
dòng sữa ngọt nuôi các con khôn lớn
hãy nhớ ngôi nhà các con đã ở
hãy thuận hòa từ ruột mẹ sinh ra

Cuộc sống các con từ nguồn cội ông cha
hãy khắc cốt ghi tâm lời ba dặn
dù cơm áo dù biển dâu dời đổi
trong tim các con không mất bóng quê nhà

Dù đường đời có trăm phương nghìn ngã
nơi ra đi chính là chốn quay về
cuộc sống này có trăm nghìn dấu hỏi
các con tự trả lời bằng chính các con thôi

Những điều ba để lại các con vô cùng giản dị
như bông hoa mỗi sáng nở trong vườn
hãy chăm bón cho cuộc đời tươi tốt
gỗ mục nào không có dấu trầm hương

8.2008

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

NGÀY THƠ VIẾNG MỘ THI NHÂN

Ngày thơ- Viếng mộ thi nhân

Nhân Tết Nguyên tiêu ( Rằm tháng Giang Giáp Ngọ), Ngày thơ Việt Nam lần thứ XII, năm nay Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức đi Viếng mộ thi nhân lần thứ 6 vào sáng 14 âm lịch (nhằm ngày 13/2/2014) để tưởng nhớ những tài hoa văn chương đã khuất. 
Ngày thơ- Viếng mộ thi nhân
Các văn nghệ sĩ thắp hương viếng mộ cụ Phan Bội Châu
Viếng mộ thi nhân là hoạt động thường niên vào mỗi dịp Nguyên Tiêu của văn nghệ sĩ Cố đô Huế, nhằm tri ân các thế hệ đã đóng góp cho thi ca tỉnh nhà và đất nước. Đây là một tập tục văn hóa mới rất có ý nghĩa, mà các văn nghệ sĩ Huế đã dày công tổ chức. Đây cũng là dịp để giáo dục, khơi dậy truyền thống thơ ca cho thế hệ trẻ trên đất Cố Đô. Có khi nó có ý nghĩa tâm linh hơn là tổ chức một đêm thơ công cộng, vài chục tác giả lên đọc. Có lẽ chỉ duy nhất ở Huế mới có tập tục Viếng mộ thi nhân.
                                           Viếng mộ thi sĩ Phạm Quỳnh
Trong tiết trời mưa xuân lất phất, hành trình các lần Viếng mộ thị nhân bắt đầu là Nhà lưu niệm Phan Bội Châu ở đường Phan Bội Châu. Đây là căn nhà cũ nơi nhà chí sĩ yêu nước, “Ông già bến Ngự” từng sống. Sau đó, đoàn văn nghệ sĩ đi thăm nghĩa trang Phan Bội Châu ở 5- đường Thanh Hải, nơi an nghỉ của 21 nhà chí sĩ như Hải Triều, Đạm Phương nữ sử, Nguyễn Chí Diểu…Sau đó đến đồi Từ Hiếu, nơi an nghỉ của nhiều văn nghệ sĩ, chí sĩ yêu nước như nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Hoàng Triều Trần Thúc Nhẫn, Trần Cao Vân - Thái Phiên, vợ chồng nhà thơ Vĩnh Mai – Phương Chi, văn Trịnh Xuân An...Tiếp đến là thăm mộ họa sĩ Bửu Chỉ ở nghĩa trang Ba Đồn. Điểm  nghĩa trang thành phố Huế có mộ của nhà thơ Thanh Tịnh, Thái Ngọc San, Nguyễn Văn Phương (Phương xích lô) và Nguyễn Xuân Hoàng.
                                                 Viếng mộ thi sĩ Phạm Hầu
Ngoài các khu nghĩa trang có mộ văn nhân nói trên, lâu nay các văn nghệ sĩ Huế còn chưa biết một khu nghĩa trang khác có mộ nhà văn, học giả lừng danh Phạm Quỳnh và nhà thơ Phạm Hầu.
Ngày thơ Viếng mộ thi nhân là một sinh hoạt rất có ý nghĩa của các văn nghệ sĩ vùng đất thi ca Huế. 
 
Phương Anh 
http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

CÁM ƠN EM - NGUYỄN MIÊN THẢO



CÁM ƠN EM


Cám ơn em đã cho anh
Tình yêu với những tươi xanh cuộc đời
Tim anh chết lặng lâu rồi
Từ em thức dậy đất trời ...lãng du

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

BẾN TRE





Mai nhà chờ chủ nhân về mới chịu trổ bông . Ảnh chụp ngày 14 tháng Giêng Giáp Ngo

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI

NGUYỄN LƯƠNG VỴ - NĂM CHỮ NĂM CÂU

 
NĂM CHỮ NĂM CÂU

Tập thơ thứ Tám của Nguyễn Lương Vỵ
Trình bày bìa: Lê Giang Trần
Trình bày trang trong: Tác giả
Chân dung tác giả: Họa sỹTrương Đình Uyên
Hình tác giả: Nguyễn Quế Phương
In tại nhà in: Number One Pringting
Wesminster - California - Tháng 01.2014
Copyright © 2014
by Vy Nguyen - Nguyen Que Phuong
Liên lạc tác giả: nguyenluongvy@yahoo.com



Trân trọng cám ơn Tác Giả gửi tặng

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

DỌC ĐƯỜNG - VÕ CHÂN CỬU



           Bài 10
Hoài Niệm Xuân Xa
Tượng đài mới không còn cảnh súng ống và giáo mác chĩa ngang. Hình tượng đã thu gọn. Chỉ một biểu tượng họng súng và bên kia là chiếc cò chờ lảy. 40 năm sau chiến tranh, sự nghi ngại hoặc quy chụp vẫn còn lấp ló đâu đó.

Trên thế giới, cái ác hình như đã được nâng cấp với những loại súng giết người hàng loạt, với bom vi khuẩn…Những câu thơ liệu có còn giúp con người gần nhau không ?
Sau buổi viếng tang một  nhà thơ vừa nằm xuống sau thời gian dài ủ bệnh, chúng tôi dừng lại nghỉ bên lề một đô thị mới. Màu xanh cây trồng và những mặt hồ khiến mọi người khó nghĩ nơi đây xưa kia là bãi chiến trường. Chỉ có màu hoa tím bằng lăng và những chảo truyền hình.
Đã vào cuối năm, người, xe trên phố đều hối hả. Tôi cảm ơn những phút thảnh thơi trên sườn đồi sau khung biệt thự mà người bạn văn nghệ tạo dựng được. Bỗng chuông Viber trên điện thoại reng êm. Một bạn hữu từ bên kia bờ đại dương sau lời chúc Tết nói những lời khá thẳng thắn: “Chúc các ông sẽ viết được nhiều nữa. Nhưng làm sao viết cho thế hệ trẻ mai sau và lới trẻ hôm nay đọc được. Chứ đừng cứ than vãn hay hoài niệm mãi. Mong thay” !
Lời nhắc như nhát dao cứa. Tôi về đem câu nhắc nhở ấy đến cho nhiều bạn làm văn chương. Có người đang chăm bẳm dựng cốt truyện cho những cuộc thi mới phát động. Có người chuyên lục, xào những bài báo để biến thành bút ký để trả nợ cho những ngày được đi giao lưu, nghỉ dưỡng từ nguồn kinh phí mang danh đi thực tế. Người suốt ngày hí hố lên “phây”-(Face book) tự cho mình tự do nhất lập tức ngụy biện rằng ta viết cho muôn đời, trước sau đều có thể đọc, chứ việc gì phải đặt vấn đề cũ rích là “viết cho ai” !
Vô thường !
Tôi giao thiệp khá nhiều lứa cầm bút. Chuyện văn chương mà, “văn mình vợ người” ! Thôi thì “Xấu đẹp tùy người đối diện”. Câu đùa giỡn ngày xưa về những chàng hoặc nàng chuyên tham gia “tìm bạn bốn phương”, không ngờ là cách trả lời khéo nhất để tránh mất lòng nhau. Từ bao năm nay, tôi luôn  nhắc mình không để lệ thuộc vào yêu cầu của các phe nhóm cầm chịch việc đăng tải. Vậy thì nhân dịp hết năm, thử điểm qua vài tác phẩm của những anh em quen biết vậy.
“Dì Lucia”, tập truyện ngắn của Mang Viên Long, cùng tập thơ “Phục Hưng Tôi & Em” của Từ Hoài Tấn phát hành trong tháng 12-2013. Hai tác phẩm được các tác giả gửi gắm nhiều tâm trạng. Cả 2 đều là tác giả quen thuộc, nhiều triển vọng trước năm 1975. Dì Lucia gồm 13 truyện ngắn được Mang Viên Long viết cả trước và sau mốc lịch sử đáng nhớ (1975). Dưới mỗi truyện đều có ghi ngày hoàn thành. Truyện “Những Mùa Trăng Có Nhau” đã đăng trên Tuổi Ngọc, tạp chí dành cho tuổi mới lớn ở Sài Gòn năm 1972; Dì Lucia đăng trên tạp chí Bách Khoa tháng 11-1973. Còn “Điều Bất Ngờ Đã Đến” được viết năm 1985; “Dọc Theo Một Dãy Phố” được sáng tác vào tháng 12-2012.
Người ta dễ nhận ra một Mang Viên Long trước sau như một trong cách hành văn, cách chọn và diễn tả nhân vật. Mang Viên Long khác với một Võ Phiến chi ly khi diễn tả bên ngoài mà lắt léo khi suy diễn nội tâm của con người, sự việc. Anh cũng rất khác với Võ Hồng, vị thầy giáo đôn hậu, chi tiết nào cũng mang tình cảm hướng về cái đẹp. Đó là 2 nhà văn Miền Trung khá gần gũi, nên hình như anh thừa hưởng được sự tinh tế của cả 2 vị. Anh không nói thẳng về nỗi đau mình phải chịu đựng sau ngày “mất dạy”; không oán trách cũng không than thở. Chỉ cho nó trôi đi như dòng đời. Nhưng nếu để ý, người ta nhìn thấy sự mất mát đâu đó làm trái tim tiếc nuối. Trong truyện ngắn “Chim Bay Về Đâu” viết năm 1985, nhân vật cô giáo Thương bị gia đình chồng buộc phải tự nguyện ly hôn vì lý do lý lịch, cho con đường thăng tiến của chồng được thênh thang. Đầu đuôi là 2 anh trai của Thương “vượt biên”. Ai đã sống ở Miền Trung những năm sau ngày hòa bình mới cảm thông được sự dòm ngó, tác động đến “sinh mệnh chính trị” của những người thuộc gia đình có người vượt biên. Cô giáo Thương sau khi ký đơn ly dị, đã bồng con về sống với cha mẹ ruột. Nhưng mỗi tuần cô phải bồng con đến trình diện công an xã một lần ! Cuối cùng nàng chọn cách lẳng lặng bỏ đi xứ khác ở. Bức thư để lại cho cha mẹ viết:
Ngày 23 tháng 10 năm 1978
Kính thưa Ba Má
Con đã đắn đo, suy nghĩ kỹ rồi, con không thể  sống ở nơi đây được nữa, con phải đi đến một nơi xa, thật xa, để kiếm một việc làm,để nuôi con, để có thể giúp đỡ ba má, để khỏi phải chết mòn vì kỷ niệm.
Con có để lại chút ít tiền trong ngăn tủ, ba má hãy cứ lấy ra mà chi tiêu. Con sẽ xin làm bất cứ việc gì để sống, miễn sống xa nơi này. Con xin gửi cháu Hải ở lại với Ba Má. Rồi con sẽ trở về đón cháu khi đã có nơi ăn ở, việc làm ổn định.
………..
Đoạn cuối, Mang Viên Long diễn tả cảnh người thiếu phụ một mình ra khỏi nhà:
“Buổi sớm mai thật tĩnh lặng. Thương thoáng ngước nhìn lên bầu trời, những cánh cò trắng đang chao đi, vỗ cánh lặng lẽ, không biết sẽ dừng nghỉ nơi đâu? Thương chợt dừng lại. nàng quay n hìn quê nhà một lần nữa. Làng xóm đang ngủ thiếp. Vạn vật im ắng, hoang sơ, n hư một thuở đất trời vừa mới được tạo dựng. Thương nghĩ thầm: Trong cõi đất trời mênh mông lạnh buốt này, ta sẽ đi về đâu ?”
Chắc có người đọc truyện này sẽ thốt lên rằng “nỗi khổ đau quá lớn mà tác giả hiền quá” ! Thực ra, ở đoạn trước, tác giả đã cho người cha của Thương nói với vợ: “Bà tưởng tôi là gỗ đá hay sao ? Nhưng bà phải hiểu rằng, trên cõi đời này, không có ai lột da sống đời được cả. Đêm nào bà cũng tụng kinh mà không nhớ lời Đức Phật dạy là: “Vạn vật đều vô thường và khổ đau” sao ?
Quả nhiên vạn vật đều vô thường. Người vượt biên năm xưa, nay trở về sẽ trở thành “Việt Kiều yêu nước”. Nhưng còn nhân vật Thương ? Có lẽ số phận nàng cũng đã bình yên nhưn tác giả. Trong những năm thất nghiệp, Mang Viên Long dựng quầy “sửa khóa, làm chìa”. đêm về anh yên bình viết văn. Từ 2003 anh liên tục xin “liên kết” xuất bản tác phẩm mới. Dì Lucia được NXB Hội Nhà Văn cấp phép, là tác phẩm thứ 18, là tập sách thứ 13 in sau 1975. Sách được tác giả tự phát hành, nhưng nghe đâu cuốn nào cũng thu hồi được đủ tiền in !
Búp vẫn còn non ?
Khác với Mang Viên Long, các bài thơ đưa vào “Phục Hưng Tôi & Em” đều được Từ Hoài Tấn sáng tác trước 1975. Ngoài nhiều tập thơ in chung, năm 2003 và 2012 anh đã xuất bản 2 tập thơ riêng nhưng không để nhiều dấu ấn. Ngược lại, những bài sang tác trước 1975 lại được độc giả đón nhận. Chính nhiều bạn bè, than hữu ở trong nước và nước ngoài đã giúp anh thực hiện tuyển tập thơ này. Một cách hoài niệm chăng ? Hỏi cũng là trả lời.
Có mặt trong tuyển tập “Bông & Giấy” (NXB Lao Động 2010), Từ Hoài Tấn từng được xếp vào các tác giả “hậu hiện đại Việt Nam”. Nhưng đọc Phục Hưng Tôi & Em, người ta lại thấy giọng thơ phá cách của anh đã có từ xưa, như trong bài:
          trên những búp non báo hiệu
          Nơi ấy, nơi tất cả những khổ đau đã mọc thành cây cổ thụ và hoàng
          hôn không bao giờ dời đi  
          Mọi người sống và chết
          Dưới trời cô đơn

          Nơi ấy, nơi những bàn tay rời rã đưa lên không kịp chào
          Giữa hai chuyến xe tốc hành về vực thẳm
          Những người yêu nhau trong một thời đại cuối cùng
          Không bao giờ  nữa
          Không bao giờ nữa

          Nơi ấy, nơi những chùm hoa đầy giọt độc
          Là thức ăn từng ngày của mọi người
          Hãy vui sước hãy ca hát
          Hãy xum xoe hãy đòa giỡn
          Trong bóng tối của lưỡi hái khổng lồ
          Cái chết khôn g ngừng bủa xuống
          Cùng với lời kêu gọi
          Cùng với lời ca ngợi
          Những chùm nho thành sủng
          Nơi ấy, có những điều nghe không được nói không được
          Và phải bịt chặt hai lỗ tai phải khâu lại mồm mép
          Con mắt đượic chế tạo sẵn trưng bày ở các cửa hàng
Cùng những hình nhân  qua lại trong lồng kiếng

Nơi ấy không có gì để nói
Nhưng
Trên những búp non vừa mới thấy đêm qua
Trong khu vườn của loài hoa tội ác
Như báo hiệu một điều gì
                                                                          (1969)
         (Lưu ý : tựa bài không viết hoa)
Qua Từ Hoài Tấn, tập thơ này cho thấy mọi phân định, gán ghép về trường phái đều khiên cưỡng. Sau trường thơ tự do mà Thanh Tâm Tuyền khởi xưởng, nhiều nhà thơ Việt Nam cũng biết nhìn sự vật với cặp mắt sắp đặt sự vật. Cái bí của các nhà thơ tự nhận là đang “đương đại” là đã không thấy hết dòng chảy thơ ca Miền Nam 1954-1975. Phải chăng búp thơ năm nào nay vẫn còn non ?
          “…Phê bình đã bỏ quên thơ Miền Nam sau 1954-đây là mảng rất quan trọng. Thơ hiện nay vẫn nằm trong lãnh địa mà thơ Miền Nam cũ tạo ra…Thơ hôm nay đang cố vươn lên thơ Miền Nam trước đây và thơ chống Mỹ.”
                                                                      Nguyễn Thụy Kha
                                                         ( trích từ Tạp chí Văn học số 1-1994)
Trong những ngày tất niên Quý Tỵ, tôi muốn trích những dòng mà  nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha ở đất Bắc đã viết từ 20 năm trước để tạm dừng chuyện “Dọc Đường”.
                                                                                                Võ Chân Cửu