Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

CỔ ĐỘ - NGUYỄN MIÊN THẢO



ta muốn hóa thành chim
bay về thành nội cổ
sáng chiều gọi tên em
ca bài ca cổ độ

ta muốn hóa thành chim
đậu trên thành quách cũ
ngậm một nhánh hoàng anh
bay vào trong thiên cổ

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

THẤT LẠC - HOÀNG LỘC

em như đã không còn em năm ngoái
(và năm nay cũng khác của năm nào)
tụi chim sẻ dẫu vừa bay trở lại
mà sân vườn mớ lúa cũ còn đâu ?

ta rất tệ những ngày thưa vắng gió
nhớ vi vu (tiếng nước lạnh đầu sông ?)
thân ốm yếu chỉ choàng thêm lớp áo
và lao đi cho ngắn lối bềnh bồng

em sẽ phải bớt thêm mùa con gái
niềm hư hao không tránh nổi bên người
nên ta mất ta và em năm ngoái
để năm nào, cùng tưởng tiếc chưa nguôi

ta không thể vì em quên nhắc nhớ
những điều riêng nghe cứ rất hoang đường
đời có được chỉ đôi lần hạnh ngộ
mà cuối đời lạc mất dấu thiên hương


9-5-13

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

KHÔNG LẼ ANH QUÊN - TRẦM MẶC



Không lẽ bây giờ anh đã quên
Tình thơ trong sáng tựa trăng rằm
Ánh mắt đằm thắm chiều gặp gỡ
Gọi gió Xuân về em nhớ mong

Lời yêu mát ngọt anh gởi trao
Em nghe như mới tựa hôm nào
Xuân tình êm dịu đôi mắt ấy 
Tha thiết nhìn ai sóng dạt dào

Anh đã quên rồi, anh sẽ quên
Còn em  nhớ mãi chẳng hề quên
Khoảng trời thơ mộng, bình yên lắm
Sao giờ xa mãi đến vô biên

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

Ý NGHĨA "DUY NGÃ ĐỘC TÔN - HT THÍCH THANH TỪ

Ngày Lễ Phật đản, chúng ta thường được nghe nhắc đến hình ảnh Đức Phật mới ra đời đi bảy bước, tay chỉ trời tay chỉ đất, nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, đa số ai cũng thuộc lòng như thế. 
 

Ngày trước khi tôi còn trẻ, có một vị Phật tử thắc mắc hỏi: “Bạch Thầy, thường bài kệ phải đủ bốn câu, sao bài kệ này có hai câu, còn hai câu nữa ở đâu?” Nghe hỏi vậy, tôi chỉ còn cách là xin hẹn về tìm lại, vì thật ra lúc đó tôi cũng chỉ thuộc có hai câu. 
dan sinh 1.jpg
Tôn tượng Đức Phật đản sinh 
Sau này đọc kinh A-hàm, tôi mới giật mình thực tình mình dốt rõ ràng. Trong A-hàm có ghi bốn câu đàng hoàng, chớ không phải chỉ hai câu. Bốn câu đó nguyên văn chữ Hán là:
Thiên thượng thiên hạ,
Duy ngã độc tôn.
Nhất thiết thế gian,
Sinh lão bệnh tử.
Chính bốn câu này mới nói lên hết ý nghĩa thâm trầm về câu nói của Đức Phật khi mới ra đời. Chúng ta sẽ thấy tinh thần Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển sai biệt ở chỗ nào? Gần đây Phật tử hay hỏi: “Đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao Đức Phật mới ra đời một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói “Duy ngã độc tôn”, như vậy Ngài đề cao cái ngã quá mức rồi, thế thì việc này có mâu thuẫn với giáo lý vô ngã không?”. 
Đó là vấn đề mà tất cả huynh đệ cần phải nắm cho vững. Tra cứu lại tôi thấy rõ ràng, nếu xét về bốn câu kệ đó với tinh thần Nguyên thủy thì dẫn đủ bốn câu: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử”, 
nghĩa là trên trời dưới trời chỉ có ta là hơn hết. Tại sao ta hơn hết? Vì trong tất cả thế gian, ta đã vượt khỏi sanh già bệnh chết. Phật hơn tất cả thế gian vì Ngài đã qua khỏi sanh già bệnh chết. Đó là cái hơn theo tinh thần Nguyên thủy. Như vậy câu nói đó không phải đề cao cái ngã.
Tại sao chư Tổ Việt Nam không dùng hết bốn câu, lại dùng hai câu thôi, có ý nghĩa gì? Đâu phải các Ngài không đọc qua bài kệ đó, nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ có thể bị nghi ngờ ở điểm này. Bởi vì tinh thần Phật giáo Phát triển đi thẳng vào ngã của Pháp thân, chớ không phải cái ngã của thân này. Nên nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là chỉ cho ngã Pháp thân. 
Như chúng ta đã biết, ngã của thân tứ đại ngũ uẩn này vô thường sanh diệt, không có nghĩa gì nên giáo lý nói vô ngã. Vô ngã là vô cái ngã tứ đại ngũ uẩn, nhưng Pháp thân là thể bất sanh bất diệt, nó trên hết. 
Vì vậy Phật nói “Duy ngã độc tôn”. Trong kinh Kim cang có bài kệ “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”, 
tức là nếu dùng sắc thấy Ta, dùng âm thanh cầu Ta, người đó hành đạo tà, không thể thấy Như Lai. Như vậy chữ Ngã này chỉ cho ngã gì? Ngã của Pháp thân nên không thể dùng sắc tướng, âm thanh mà cầu. Nếu ai dùng sắc tướng âm thanh mà cầu Pháp thân, đó là tà.
Giáo lý Phát triển đề cao ngã là cái ngã Pháp thân. Theo tinh thần Phật giáo Phát triển, chúng ta tu phải giác ngộ được Pháp thân, mới giải thoát sanh tử. Từ đó ta thấy tinh thần Phật giáo Nguyên thủy và tinh thần Phật giáo phát triển có chỗ khác nhau. Phật giáo Nguyên thủy nhắm vào điểm Phật đã vượt qua sanh tử của chúng sanh nên nói Ngài hơn hết. Phật giáo Phát triển nhắm vào Pháp thân của chúng ta, là cái không sanh không diệt nên nói hơn hết. Hiểu như vậy mới có thể trả lời câu hỏi trên của Phật tử mà không bị lúng túng.
Có một Phật tử hỏi chúng tôi: “Thưa Thầy, Phật tử tu theo đạo Phật, hiện tại bản thân, gia đình, xã hội có lợi ích gì?”. Câu hỏi này rất thực tế, chúng ta không thể lơ là được. Thật ra vấn đề được nêu lên không phải quá khó, nhưng chúng tôi muốn dẫn lại để Tăng Ni ý thức trách nhiệm của người giảng dạy giáo lý. Chúng ta giảng dạy giáo lý phải làm sao cho Phật tử thâm hiểu, ứng dụng tu hành có lợi cho bản thân, gia đình và xã hội, đó là trọng tâm của việc truyền bá Chánh pháp. Chính nhờ những câu hỏi này làm cho chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng về giáo lý nhà Phật, dạy thế nào cho có lợi ích thiết thực, chớ không thể nói suông được.
Tôi thường dạy Phật tử tu là cốt chuyển đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý. Cho nên nói tới tu là nói tới sự chuyển hóa, biến cái dở xấu trở thành cái hay tốt. Nói cụ thể hơn về tu ba nghiệp nghĩa là ngày xưa chưa biết tu vị đó sát sanh, trộm cắp, tà dâm v.v... Bây giờ biết tu rồi thì không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Nếu tích cực hơn, hồi xưa vị đó sát sanh, bây giờ biết tu rồi chuyển lại chẳng những không sát sanh mà còn phóng sanh, không phạm tội trộm cắp mà còn tập hạnh bố thí, không tà dâm mà còn khuyến khích những người chung quanh giữ hạnh trinh bạch. 
Hồi xưa chưa biết tu ta nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt vô nghĩa. Bây giờ chặng đầu của sự tu là bớt nói dối, bớt nói hai lưỡi, bớt nói hung dữ, bớt nói thêu dệt. Qua chặng thứ hai phải tiến lên, khi xưa mình nói dối thì bây giờ luôn luôn nói lời chân thật; khi xưa nói hai lưỡi tức nói ly gián, bây giờ nói lời hòa hợp; khi xưa nói lời hung dữ ác độc, bây giờ nói lời hiền hòa nhã nhặn, khi xưa nói lời thêu dệt vô nghĩa, bây giờ nói lời hợp lý.
Ngày xưa tâm ý nhiều tham, nhiều sân, nhiều si, bây giờ bớt tham, bớt sân, bớt si, đó là chặng số một. Qua chặng thứ hai, chẳng những bớt tham mà còn tập thương người cứu vật, chia sẻ giúp đỡ kẻ cơ hàn. Chẳng những bớt sân mà còn tập trải lòng từ bi đến khắp mọi người. Chẳng những bớt si mà còn tập mở mang trí tuệ theo Chánh pháp. Như vậy thay vì tham sân si, bây giờ đổi lại thành bố thí, từ bi, trí tuệ. Đó là tu. 
la Bo de.JPG
Nếu một Phật tử, bản thân không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, bớt tham sân si, như vậy có lợi ích chưa? Bản thân có lợi ích cụ thể rồi. Nếu một thành viên trong gia đình tốt như vậy, tự nhiên gia đình cũng an vui, xã hội cũng tốt theo. Rõ ràng việc tu có lợi ích thiết thực cho mọi người và xã hội.
Lúc tôi đi giảng ở Rạch Giá với thầy Huyền Vi, đề tài giảng là giáo lý Nhị thừa. Trong đó nói về tứ thiền, bát định cho tới tứ quả Thanh văn. Vì thuộc bài nên tôi giảng tương đối cũng rõ. Sau khi giảng xong, có một Phật tử quỳ thưa: “Thưa Thầy, Thầy giảng về tứ thiền, bát định và tứ quả Thanh văn, chúng con nghe hiểu rồi, nhưng xin hỏi thật trong các tầng thiền định và quả vị đó, Thầy đã chứng được cái nào rồi?”. Lúc đó tôi ngớ ngẩn, không trả lời được. May nhờ thầy Huyền Vi ngồi bên cạnh lanh trí, trả lời dùm tôi: “Đạo hữu quên rồi sao, trong kinh thường nói người tu chứng giống như kẻ uống nước nóng lạnh tự biết, làm sao nói cho đạo hữu nghe được”. Lần đó Thầy Huyền Vi đã trả lời cứu bồ tôi. Nhưng thật tình, khi ấy tôi rất đau. Tại sao?
Chúng tôi cứ quen học hiểu, mà không có thì giờ tu. Một đêm nhiều lắm là tụng kinh đủ hai thời, đôi khi thiếu nữa. Nhất là làm giảng sư được quyền nghỉ để nghiên cứu bài vở, nên tu lếu lếu thôi, chẳng có tới đâu. Chừng khi giảng mình học bài kỹ, nói cho người ta nghe hiểu, Phật tử tưởng mình đã chứng khá khá rồi, khi hỏi lại mình chới với không giải quyết được. Gặp phải câu hỏi trên, lòng tôi bất an vô cùng, vì thấy mình giống như cái máy thâu thanh. Thu lời của những bậc thầy đi trước, rồi phát ra y như vậy, chớ bản thân chưa có gì hết. Do đó tôi thầm nguyện, lúc nào đủ duyên mình phải tìm chỗ tu để yên lòng một chút, chớ nói hay mà làm không được, thật khổ tâm quá. Đó là lý do sau này tôi tìm lên núi tu thiền.
Tôi kể lại những điều này cho Tăng Ni thấy bổn phận của một người Thầy không giản đơn như mình tưởng. Ta phải nói thế nào cho người hiểu, kế họ hỏi tới công phu tu hành mình cũng phải biết, không thể lúng túng được. Muốn thế chúng ta phải có tu. Tu thế nào? Trong các thời khóa tụng của nhà thiền, thường nhất là kinh Bát-nhã. Bát-nhã là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch trí tuệ, loại trí tuệ siêu xuất thế gian, chứ không phải trí tuệ thường. Muốn bước vào cửa thiền trước tiên phải thâm nhập lý Bát-nhã.
Lý Bát-nhã còn được gọi là cửa Không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tại sao chúng ta tu thiền phải đi từ cửa Không? Vì nếu thấy thân này thật, đối với ngoại cảnh, từ con người cho tới muôn vật, chúng ta đều thấy thật hết thì tâm sẽ chạy theo nó. Bây giờ, muốn tâm không chạy theo, chúng ta phải quán sát kỹ tất cả sự vật ở ngoài cũng do duyên hợp, không thật. Cái nhà từ khoảnh đất trống, ta dựng cây cối, gạch ngói v.v… để thành cái nhà. 
Do vậy cái nhà là tướng duyên hợp. Do duyên hợp nên có ngày nó phải bại hoại, tường vách đổ sụp. Những gì duyên hợp đều hư dối. Từ cái nhà cho đến mọi sự mọi vật, có thứ nào không phải duyên hợp đâu, nên chúng sẽ đi đến bại hoại. Biết rõ như vậy mới không dính mắc với cảnh bên ngoài. Không dính mắc ngoại cảnh thì tâm mới an định được, còn dính mắc thì không bao giờ an định.
Thí dụ như quý Phật tử vừa mới to tiếng với ai đó chừng nửa giờ, bây giờ vô ngồi thiền có yên không? Vừa ngồi vừa tiếp tục cãi, không cãi bằng miệng mà cãi bằng tâm. Họ nói câu đó là sao, mình phải trả lời thế nào cho xứng v.v… cứ ôn tới ôn lui hoài. Vì chúng ta thấy câu nói thật nên không bỏ được. Nếu ta quán con người đó không thật thì lời nói của họ có thật đâu, tất cả là chuyện rỗng, có gì quan trọng. Thấy vậy liền buông nhẹ. Buông được thì ngồi thiền mới yên. Cho nên trước tiên bước vào cửa thiền, chúng ta phải đi từ lý Bát-nhã, dẹp bỏ tất cả những cố chấp của mình.
Kinh Bát-nhã nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” nghĩa thế nào? Bây giờ tôi dẫn câu chuyện xưa thế này. Đời Đường, có hai vị thiền sư trẻ Trí Tạng và Huệ Tạng, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất. Một hôm hai huynh đệ ra ngoài vườn chơi. Ngài Trí Tạng hỏi ngài Huệ Tạng:
- Sư đệ biết bắt hư không chăng?.
Ngài Huệ Tạng trả lời:
- Biết.
- Làm sao bắt?
Ngài Huệ Tạng liền đưa tay ra ôm hư không. Ngài Trí Tạng quở:
- Bắt như vậy làm sao được hư không?
Ngài Huệ Tạng hỏi:
- Huynh làm sao bắt?
Ngài Trí Tạng liền nắm lấy lỗ mũi Huệ Tạng lôi đi. Ngài Huệ Tạng la:
- Nắm như vậy chết người ta, buông ra!
Ngài Trí Tạng nói:
- Bắt như vậy mới được hư không.
Câu chuyện này có đạo lý gì? Lỗ mũi tuy là hình thức vật chất, nhưng bên trong trống rỗng. Nắm cái sắc thì trong đó đã có cái không rồi. Đây là nghĩa sắc tức thị không. Nếu ôm hư không bên ngoài thì làm sao nắm được hư không? Như bình hoa trước mắt chúng ta, nếu bỏ mấy cọng hoa mỗi nơi mỗi cái thì bình hoa không còn. “Bình hoa” là giả danh, do đủ duyên hợp lại mới có, nếu thiếu duyên bình hoa không còn nữa. Nên nói thể bình hoa là không, do duyên hợp tạm có. Ngay nơi bình hoa chúng ta biết tánh nó là không. Tuy tánh không nhưng đủ duyên hợp lại thì thành bình hoa.
Như vậy lý không ở đây không phải không ngơ, mà là không có chủ thể cố định. Duyên hợp tạm có, duyên ly tán trở về không. Hoa khi phân tán khắp nơi, chỉ còn lại bình không, nếu ta cặm vào đó các hoa khác thì có bình hoa trở lại, nên nói “không tức là sắc”. Rõ ràng sắc và không đều không thật. Nói sắc nói không nhằm chỉ ra lý duyên hợp, đủ duyên thì không biến thành sắc, thiếu duyên thì sắc biến thành không. Nên ngay khi duyên hợp, tánh nó vẫn là không. Vì vậy kinh Bát-nhã nói “không” tất cả: không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, không sắc, thanh, hương… Không là nói đến thể của tất cả các pháp. Tất cả pháp chỉ có giả danh, không có thật thể.
Từ đó chúng ta dùng trí quán xét hết các sự vật bên ngoài, đều là duyên hợp tánh không. Biết như thế là tỉnh, hết mê. Cho nên biết được lý tánh không rồi, chúng ta mới bỏ được vọng tưởng điên đảo, các vị Bồ-tát mới có thể tu hành tiến lên thành Phật. Dùng trí tuệ Bát-nhã tức là dùng thanh kiếm bén ruồng hết sáu trần, không chấp không kẹt. Không chấp thì ngồi thiền êm ru, không nghĩ, không tính. Vừa chợt nhớ gì liền tự nhắc “Nó giả dối, có thật đâu mà nhớ”.
Thế nên bước vào cửa Không phải thấy rõ: Một, tất cả cảnh sắc đều hư dối, tự tánh là không. Hai, thân tứ đại duyên hợp hư dối, tự tánh là không. Ba, tâm vọng tưởng sanh diệt hư dối, tự tánh là không. Biết ba cái đó không thật rồi, chúng ta phải tìm cho ra cái chân thật. Đây là chỗ thiết yếu hành giả tu thiền cần phải biết. Cái thật đó lâu nay chúng ta không nhớ không biết nên chạy theo trăm thứ đảo điên. 
Bây giờ ta phải nhớ để nhận ra và sống lại với cái chân thật của chính mình, thì mới chấm dứt sanh tử và đau khổ. Hiểu rõ và thực hành đúng lời Phật dạy mới xứng đáng là đệ tử của Phật, mới có thể đền ân Phật Tổ và đầy đủ tư lương để trả nợ đàn na tín thí.

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

KHÚC LÃNG DU - HOÀNG THỊ THIỀU ANH

KHÚC LÃNG DU
Em nghiêng đời xuống nhé
Soi dấu cuộc tình buồn
Ru đời chút hư ảo
Đêm về giữa chiêm bao
Nắng hạ vàng xác xao
Giọt,giọt rơi trong vắt
Phố vắng tênh dấu mặt
Mắt lá hồn chát chao
Lắng ttrong nỗi khát khao
Là niềm tin dịu vợi
Tơ sầu giăng chờ đợi
Kéo cung đàn tả tơi
Em nằm giữa tinh khôi
Nhìn đời lăn náo nức
Bâng khuâng chiều thổn thức
Khẻ hát lời lẻ loi
Mê mãi những con đường
Nhịp bước chân cô quạnh
Ai thả từng nốt lặng
Cuối chân trời xa xăm
Em tìm chút thanh âm
Trong ngút ngàn hơi thở
Dìu bước chân bơ vơ
Say nghiêng tràn nỗi nhớ
Thôi chỉ là giấc mơ
Lung linh hồn lá cỏ
Thả trôi theo mây gió
Cuộc tình muộn...rơi...rơi
22.6.2007

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT -VÕ CHÂN CỮU



Kỳ 13
Một Thời Mây Khói

Con người rất yêu thích tiếng chim nhưng vẫn chưa giải thích được hết ý nghĩa của nó. Những tiếng ca hay nhất là để dành cho tình nhân ? Các nhà thơ cũng vậy. Đã có tổng kết cho rằng có những bài thơ được viết ra để nhằm chinh phục trái tim hay một bóng hình ai đó !

Nhận định trên tất nhiên đúng, nhưng tất cả không hoàn toàn như vậy. Tình yêu là một bản năng, và có những người suốt đời chỉ làm thơ tình, nhưng khi đi vào giải mã tâm lý và cơ thể, có khi họ lại bị…thiếu phần nào đó. Làm sao giải nghĩa được tình yêu. Cách hay nhất là bạn cứ thưởng thức những bài thơ tình hay. Trăm phương nghìn vẻ…
“Ôi mới hôm nào như hôm qua”…Lang thang qua những góc phố ở trung tâm Sài Gòn, từ năm mươi năm xưa, có người đã thốt lên: Ô hay con gái bay nhiều quá/ Hai cánh tay mềm như cánh chim…
Chàng thi sĩ ấy là Hoàng Trúc Ly (1933-1983), tác giả của một tập thơ duy nhất: Trong Cơn Yêu Dấu, in năm 1963. Tên tuổi ông không nổi cộm như các “ông hoàng thơ tình” cùng thời; ông sống đơn độc, chết đơn độc vì một tai nạn giao thông đường phố, ngay chính trên con đường mà ông vẫn thường lang thang để uống rượu và làm thơ. Những năm ấy, khó khăn từ cuộc sống khiến người ta phải mau quên tất cả. Cả một nền văn học của 20 năm ngắn ngủi ở Sài Gòn tưởng đã bị phủ nhận, nhưng rồi những bài thơ tình của ông không thể bị lãng quên.

Hoàng Trúc Ly

Nằm mộng thấy nữ sinh

                       (
Tặng Hoa của trăm hoa)

Ta từ giấc mộng bước gần em
Đường phố đầy trăng hay mặt trời chìm
Ô hay con gái bay nhiều quá
Hai cánh tay mềm như cánh chim

Như cuống của hoa như cội của cành
Em đến bao giờ là em của anh
Thôi đã vô cùng cô liêu bóng cả
Như chim xa rừng tội nghiệp rừng xanh

Tuyệt mù giấc mộng mỏng như sương
Vai áo hào hoa tê tê bụi đường
Ra đi ta đắp lên sông núi
Trời rộng sông dài nỗi nhớ thương

Hoàng Trúc Ly khi làm thơ gần như chỉ làm thơ tình, như một nợ nghiệp, khó hiểu được vì sao. Ông có quê gốc ở Bình Định nhưng sinh quán ở Quảng Nam. Theo tiểu sử truyền miệng, ông là con trong một gia đình danh giá. Mẹ ruột là cháu nội của thí sĩ Đào Tấn-ông tổ nghệ thuật tuồng. Sau 1954 thân phụ làm việc tại trụ sở Ủy hội đình chiến. Hoàng Trúc Ly đã đậu bằng Tú tài Pháp, ghi danh vào học trường Luật nhưng rồi ông bỏ ngang, ra thuê một căn phòng ở trọ tại khu vực đường Nguyễn Cư Trinh, quận II để được tự do đi ngao du làm thơ, cộng tác với một số tờ báo độ nhật. Thơ ông qua các tạp chí Văn nghệ, Hiện Đại được nhiều người mê thích. Người chị là chủ nhà sách Việt Hương trên đường Lê Lợi đã bỏ tiền xuất bản tập sách đầu tay cho cậu em thi sĩ.

Mạnh thường quân

Nhà sách Việt Hương ở bên cạnh nhà sách lớn Khai Trí do ông Nguyễn Hùng Trương làm chủ. Đặt tên nhà sách là Khai Trí, ông Nguyễn Hùng Trương hình như muốn tiếp nối con đường “khai trí-tiến đức” của các nhà văn hóa đi trước, nên ông nhảy vào thêm lãnh vực xuất bản. Các xuất bản phẩm đầu tiên của Khai Trí là tủ sách “Học làm người”, tiếp đó bước sang thêm lãnh vực xuất bản sách giáo khoa rồi văn học, chú trọng các sáng tác mà ông cho là có ích trên đường giáo dục thanh thiếu niên.
Giữa thập niên ’60, thi sĩ Trần Tuấn Kiệt được Ông Khai Trí đồng ý cho ứng tiền hàng tháng để bỏ công sưu tập, viết lời bình cho bộ sách Thi ca Việt Nam toàn tập. Theo chân Trần Tuấn Kiệt, Hoàng Trúc Ly cũng được ông Khai Trí tiếp đãi trọng thị. Ông trả tiền trước để chàng thi sĩ ngồi viết các truyện về thiếu nhi đưa ông xuất bản ! Hàng ngày, ngoài giờ viết truyện theo “đơn đặt hang”, Hoàng Trúc Ly ung dung lang thang uống rượu và làm thơ !
Năm 1968 khi vào Sài Gòn để đi học và hoạt động văn nghệ, những ngày rảnh rỗi, tôi vẫn đến nhà sách Khai Trí để tự do lựa quyển nào thích thì ngồi đọc “cọp”-đọc xong đem để lại ngay ngắn trên kệ.
Một bữa tôi chứng kiến cảnh một thanh niên trạc tuổi sau khi đọc ong đã lận sách vào lung, lẻn ra về. Nhân viên hiệu sách bắt được, giữ anh ta lại, mời vào một phòng riêng để đích thân ông Khai Trí ra hỏi chuyện ! Không dọa dẫm kêu công an hay lập biên bản, ông chủ lại tâm tình và hỏi hoàn cảnh sống và lý do vì sao đi ăn cắp sách. Cuối cùng là những lời khuyên và… cho ra về. Sau ’75, theo chính sách cải tạo tư bản tư doanh, nhà sách Khai Trí bị tịch biên rồi “quốc hữu hóa” toàn bộ. Ông Nguyễn Hùng trương được phép cho ra ngoài sinh sống, nhưng đến cuối thập niên ’90, người ta thấy ông lại trở về sài Gòn. Hình như ông kiếm được một góc nhỏ trên đường Điên Biên Phủ (Phan Thanh Giản cũ) dựng lại bảng hiệu “Khai Trí” với những hang sách ký cóp, sưu tập được đâu đó. Có lần, ông vẫn bày tỏ tâm sự muốn xuất bản tiếp một số bản thảo về giáo dục, xã hội. Nhưng cuộc thế kinh doanh đã khác. Sau mấy năm, ông về thế giới bên kia trong vô vọng.
Sau biến cố ’75, Hoàng Trúc Ly không còn ai mời viết. Ông vẫn sống lang thang, nổi chìm đến ngày không vượt qua song dòng đời.

Dĩ vãng

Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng 
Thương về con nước ngại ngùng xuôi
 
Những người em nhỏ bên kia ấy
 
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
 
Tôi muốn hôn bằng môi của em
 
Mùa xưa thê thiết nắng hoe thèm
 
Lòng trong đã trắng tình nguyên thủy
 
Nghe bước xuân về êm quá êm
 
Em lắng tai đâu… chiều lửng lơ
 
Thơ tôi vừa hát khúc ban sơ
 
Lòng chưa tội lỗi mà vô cớ
 
Bỗng muốn gục quỳ bên tuổi thơ
 
Em là em – tôi có là tôi?….
 
Dù nghĩa
 thời gian ngăn cách rồi 
Tôi đứng bên này lưu luyến quá
 
Những người em nhỏ của tôi ơi!
 
(Trong Cơn Yêu Dấu)

Phạm Công Thiện ngày xưa từng cho rằng mỗi chữ mỗi câu trong thơ Hoàng trúc Ly gần như có ma lực. Tôi muốn thêm rằng ma lực ấy có được nhờ cảnh tình trong sang. Ở một bài thơ khác, Hoàng Trúc Ly từng làm các đoạn diễn tả về vẻ đẹp của người con gái, từ môi, từ mắt đến sợi tóc, ngón tay…Tất cả đều không vẩn đục dục vọng xác thịt. Thi sĩ đã thăng hoa từ những vật chất, hình hài cụ thể để tìm ra chốn thiên đàng.

Như là mây khói

Gần như các nhà thơ sinh ra từ giải đất Miền Trung đều là những nhà thơ tình. Tình trong thơ Hoàng Trúc Ly là sự tiếp nối của dòng thơ tiền chiến với thời hiện đại, nhưng đến cuối thập niên ’60 đầu ’70, các nhà thơ thấm đẫm giữa nỗi đau chiến tranh và viễn tượng hòa bình nên bóng dáng tình yêu lại lắng xuống, chìm đắm trong mọi hình dáng. Năm 2010, nhà văn Trần Hoài Thư khi xuất bản tuyển tập Mây Khói Quê Nhà của Phạm Cao Hoàng đã viết rằng thời điểm ấy “Thơ Phạm cao Hoàng đến với người yêu thơ như là một hiện tượng”…”Riêng với Phạm Cao Hoàng, tình yêu trong thơ anh là tình yêu thánh thiện, mà người yêu phần lớn mang hình ảnh của một người thành nữ”.

Phạm cao Hoàng
Một ngày với tình nhân
ngày đã đến ngày vui cùng chim hót
đưa em đi qua lũng xuống đồi
dắt em đi trèo non lội suối
dìu em theo tiếng nhạc của trời
khi yêu em tôi yêu đời thêm một chút
dù trong tôi buồn bã biết bao ngày
nên yêu em dù tôi vẫn biết
có một ngày tay sẽ vẫy tay
ngày cũng sắp tàn theo tiếng hát
đưa em về đưa em về thôi
tình đã chín tình đầy trong mắt
tình đã nồng tình mọng trên môi
nắm tay tôi hỡi bàn tay ma quái
buộc tôi đi hỡi sợi thắt lưng hồng
một ngày có tình nhân bên cạnh
là một ngày đỡ thấy cô đơn
khi yêu em tôi yêu đời thêm một chút
dù trong tôi tan vỡ đã lâu rồi
nên yêu em dù tôi vẫn biết
đường về nhà em xa ngái trong tôi
chiều nay đi với em dưới trời mây xám
tôi nghe trong tôi có một chút êm đềm
một ngày có tình nhân bên cạnh
là một ngày sắp thấy phút ly tan.
“Một ngày có tình nhân bên cạnh/ Là một ngày đỡ thấy cô đơn…” Giọng thơ ấy rất thật thà, hiền lành nhưng vì sao nó vẫn lay động lòng người ? Có phải vì mỗi ngày, người ta gần như càng mất đi sự chân thật ? Thơ Phạm Cao Hoàng không bóng bẩy, kiểu cách nhưng nó lại nằm sâu trong lòng người. Có lẽ nó xuất phát từ cách nhìn sự vật.
Cao Thoại Châu cho rằng “Người làm thơ nào cũng có thể giải bày tâm trạng, nhưng giải bày thành thơ nhiều cảm xúc như thế thì không nhiều. Đấy là “Đẳng cấp thi sĩ”. Tôi muốn cho rằng “đẳng cấp” ấy chính là nét riêng của mỗi nhà thơ. Phạm Cao Hoàng không lộ liễu, cũng không thầm thì dụ dỗ, nhưng nó làm người nữ đọc lời thơ sẽ chia sẻ nỗi cô đơn khi chia ly.
Chia tay Đà Lạt

và tôi lại chia tay Đà Lạt
trở lại quê người với những cơn bão tuyết mùa đông
tôi mang theo nỗi buồn xa xứ
và nỗi hoài hương nặng trĩu trong lòng
tôi lại thấy bóng tôi bên dòng Potomac
bên bờ Đại Tây Dương nghe quê hương réo gọi trái tim mình
đi không phải là đi biệt xứ
thương quê nhà còn lại phía sau lưng
lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
nói với em về một đoạn đời buồn
nói với em về những dòng sông lưu lạc
trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn

và tôi lại chia tay Đà Lạt
chia tay những con đường in dấu chân xưa
chia tay rừng thông và cỏ cây sương khói
chia tay mây trời và gió núi Langbiang
mong bình yên đến với Kim Huê
và những người ở lại
mong một ngày về…
dù chưa biết khi nào…

Khác với Hoàng Trúc Ly, Phạm Cao Hoàng là một nhà giáo. Bài thơ mới trên đây anh làm vào đầu năm 2012, khi vừa về thăm Việt Nam, trở lại đất Mỹ. Lặng sâu trong nỗi nhớ quê hương là bóng hình những người yêu quý. Tình yêu, một khi đã hòa quyện con người với một miền đất, sẽ trở thành mây khói mênh mông, nhưng là nỗi nhớ không phai. Vì đâu ?

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

NHỚ -NGUYỄN MIÊN THẢO



NHỚ

Nửa khuya nhớ tiếng em cười
Nhớ câu em nói nhớ lời yêu thương
Nhớ em từ cõi vô thường
Nhớ em từ thuở bên vườn cổ thi
Nhớ hoài mỗi bước em đi
Nhớ đôi giọt lệ thầm thì cho anh
Nhớ em anh tự dỗ dành
Nhớ em anh tự dỗ dành anh thôi

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

TÁC GIẢ TÌNH KHÚC " AI VỀ SÔNG TƯƠNG " ĐÃ QUA ĐỜI



Tác giả tình khúc Ai về sông Tương đã “dứt tơ vương”
- Ngày 09/5/2013, Nhạc sĩ Văn Giảng - tác giả Ai về sông Tương (với bút danh Thông Đạt) - đã qua đời ở Footscray (thành phố Melbourne, bang Victoria, Úc), hưởng thọ 89 tuổi.

Nhạc sĩ Văn Giảng tên thật là Ngô Văn Giảng, sinh năm 1924 tại làng Bác Vọng Ðông, Thừa Thiên. Ông là một người chơi đàn guitar, hawaiian guitar và contrabass nổi tiếng ở Huế, là trưởng ban nhạc của Đài phát thanh Huế, từ lúc đài này mới thành lập (1949), sau đó là giám đốc Trường quốc gia Âm nhạc Huế (1963).
Những bản nhạc của Văn Giảng như Hoa cài mái tóc, Tình em biển rộng sông dài, Đôi mắt huyền từng được ấn hành hàng chục nghìn bản, phổ biến rộng rãi trên thị trường. Nhưng nói đến nhạc tình của Văn Giảng, chúng ta không thể quên Ai về sông Tương được viết năm 1949, đã dẫn đầu như một bản nhạc “top”, bản nhạc được thính giả yêu cầu nhiều nhất của Đài phát thanh Pháp Á trong hai năm 1949-1950 dưới cái tên tác giả là Thông Ðạt.
Chúng tôi xin đăng lại bài hát đã làm nên tên tuổi của ông như một nén hương tưởng nhớ người nghệ sĩ tài hoa:

 
AI VỀ SÔNG TƯƠNG
Ai có về bên bến sông Tương,
nhắn người duyên dáng tôi thương, bao ngày ôm mối tơ vương.
Tháng với ngày mờ, nhuốm đau thương,
tâm hồn mơ bóng em luôn, mong vài lời em ngập hương.

Thu nay về vương áng thê lương,
vắng người duyên dáng tôi thương, mối tình tôi vẫn cô đơn.
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em,
mơ hoài hình bóng không quên, hương tình mộng say dịu êm

Bao ngày qua, Thu lại về mang sầu tới
Nàng say tình mới hồn tôi tơi bời,
nhìn hoa cười đón mừng vui duyên nàng:
Tình thơ ngây từ đây nát tan

Hoa ơi ! Thôi ngưng cười đùa lả lơi.
Cùng tôi buồn đắm đừng vui chi tình,
đầy bao ngày thắm: dày xéo tâm hồn này lệ sầu hoen ý thu.

Ai có về bên bến sông Tương,
nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương.
Ôi duyên hờ từ nay bơ vơ.
Dây tình tôi nắn cung tơ, rút lòng sầu trách người mơ...

BBT
 http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

CÁCH ĐẶT TÊN KÉP CỦA VUA MINH MẠNG CHO CON CHÁU TRONG HOÀNG TỘC - NGUYỄN HỒNG TRÂN

Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng.


Cách đặt tên kép của vua Minh Mạng cho con cháu trong hoàng tộc
Khi lên làm vua, ông biết lo lắng nhiều việc: lo xây dựng chính trị, phát triển giáo dục, văn hóa xã hội v.v... chắc là ông rất tâm đắc câu phương châm mà người xưa thường nói: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nghĩa là muốn cho dân chúng yên ổn, làm ăn phát đạt thì phải lo điều hành cai quản nhà nước thật nghiêm minh, chặt chẽ. Nhưng muốn vậy thì trước tiên phải lo dàn xếp nội bộ gia tộc được êm thấm theo khuôn phép rõ ràng.

Minh Mạng cũng đã biết từ nhiều đời vua trước đây ở trong nước và nước ngoài do việc tề gia không tốt nên đã sinh ra tranh chấp quyền hành trong nội bộ hoàng gia dẫn đến ngai vàng bị sụp đổ, triều đình nát tan. Vì thế, ông lo lắng cho cơ nghiệp nhà Nguyễn. Nếu không tìm cách tề gia cho nghiêm chỉnh thì cũng dẫn đến số phận như thế thôi. Cho nên Minh Mạng đã nghĩ ra nhiều cách để duy trì đế nghiệp của mình và con cháu kế tục lâu dài về sau. Trong đó có một cách mang đậm sắc thái văn hóa, tâm lý xã hội. Đó là cách đặt tên kép. Nghĩa là bên cạnh tên chính, phải ghép thêm một tên phía trước theo phân định bắt buộc để biết vị trí, thứ lớp của mình trong hàng ngũ của hoàng tộc. Nhưng trình bày việc đó như thế nào cho tế nhị với các hoàng tử anh em để họ dễ chấp thuận là việc không dễ dàng. Minh Mạng biết rằng anh em mình ai cũng yêu thích thơ văn nên ông bèn nghĩ ra cách tạo ra những bài thơ có ý nghĩa xã hội - nhân văn thâm thúy. Nhà vua đã sáng tác ra 11 bài thơ kiểu “ngũ ngôn, tứ cú” để dễ đọc, dễ nhớ. Trong đó có một bài gọi là “Đế hệ thi” và 10 bài gọi là “Phiên hệ thi”.

Bài “Đế hệ thi” dùng để đặt tên kép cho các con cháu nội nhà vua từ vua Thiệu Trị trở về sau theo thứ tự với các chữ trong bài thơ. Đó là:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh.
Bảo Quý Định Long Trường.
Hiền Năng Kham Kế Thuật.
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Bài thơ này trong Thế tộc phả Nguyễn Phước đã dịch nội dung ý nghĩa thành thơ như sau:

Huấn nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng
Gắng giữ gìn cho xứng ân sâu
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn
Đời đời nối nghiệp tiền nhân
Nước nhà hưng thịnh muôn phần phát huy.

Bài thơ này gồm 20 chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng, mỗi chữ có một ý nghĩa sâu xa. Người ta đã truyền lại lời giải thích của vua Minh Mạng theo từng chữ thành câu thơ như sau:

1.MIÊN: Trường cửu phước duyên trên hết.
2.HƯỜNG: Oai hùng đúc kết thế gia.
3.ƯNG: Nên danh xây dựng sơn hà.
4.BỬU: Bối báu lợi tha quần chúng.
5.VĨNH: Bền chí hùng anh ca tụng.
6.BẢO: Ôm lòng khí dũng bình sanh
7.QUÝ: Cao sang vinh hạnh công thành.
8.ĐỊNH: Tiên quyết thi hành oanh liệt
9.LONG: Vương tướng rồng tiên nối nghiệp.
10.TRƯỜNG: Vĩnh cửu nối tiếp giống nòi.
11.HIỀN: Tài đức phúc ấm sáng soi.
12.NĂNG: Gương nơi khuôn phép bờ cõi.
13.KHAM: Đảm đương mọi cơ cấu giỏi
14.KẾ: Hoạch sách mây khói cân phân.
15.THUẬT: Biên chép lời đúng ý dân.
16.THẾ: Mãi thọ cận thân gia tộc.
17.THOẠI: Ngọc quí tha hồ phước lộc.
18.QUỐC: Dân phục nằm gốc giang san.
19.GIA: Muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng
20.XƯƠNG: Phồn thịnh bình an thiên hạ.

Khi đặt tên kép cho cháu chắt của vua Minh Mạng thì cứ lấy tên chính của người đó ghép với một chữ trong bài thơ “Đế hệ thi” theo thứ tự từng đời từ cao xuống thấp, mỗi đời một chữ. Khi có tên kép rồi thì có thể không cần ghi họ (họ coi như được ẩn) người ta vẫn hiểu đó là thuộc họ tộc Nguyễn Phước. Thí dụ: Miên Tông là vua Thiệu Trị (con vua Minh Mạng). Ghi đầy đủ là Nguyễn Phước Miên Tông; Vua Tự Đức là Hường Nhậm (Hường hoặc Hồng đều như nhau), là con vua Thiệu Trị; Ưng Chân là vua Dục Đức (con nuôi của vua Tự Đức, con đẻ của Nguyễn Phước Hồng Y); Bửu Lân là vua Thành Thái, con vua Dục Đức, tức NP. Ưng Chân); Vĩnh Thụy là vua Bảo Đại (con vua Khải Định tức là NP Bửu Đảo).

Những người không làm vua nhưng thuộc dòng đế hệ của vua Minh Mạng cũng được đặt tên kép (theo hàng từng đời, từng chữ) và được ẩn họ như thế. Thí dụ: Nhà thơ Ưng Bình (hiệu Thúc Dạ Thị) là con cụ Nguyễn Phúc Hồng Thiết, cháu nội cụ Nguyễn Phúc Miên Trinh (Nhà thơ Túy Lý Vương). Nhà Hán học: Vĩnh Cao là con cụ Bửu Kế.

Như vậy bài “Đế hệ thi” của vua Minh Mạng chỉ mới thực dụng được câu đầu tiên “Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh” thì đã hết chế độ nhà vua ở Việt Nam. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của tục lệ này khá đậm nét ở Huế nên trong thực tế xã hội hiện nay vẫn còn nhiều người ở thế hệ sau của Hoàng tộc Minh Mạng vẫn thích đặt tên kép để kỷ niệm nguồn gốc tổ tông là con cháu nội nhà vua nhưng vẫn kèm theo họ Nguyễn Phước.

Theo Thế phả của Nguyễn Phước tộc có ghi thêm rằng:

“Bài Đế hệ thi được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách), cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; Các bài Phiên hệ thi cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc. Có tư liệu cho rằng tới thời Vua Tự Ðức, chúng đã bị nấu ra để trả nợ chiến phí bốn triệu đồng cho Pháp và Tây Ban Nha theo Hiệp ước Nhâm Tuất (1862). Không ai biết sự thật ra sao, vì đến lúc Ngài Bảo Ðại - vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn thoái vị, các loại kim sách này đã không còn nữa.

Nói chung, con cháu các hệ Chánh từ vua Minh Mạng trở về sau, kể cả các Phòng thuộc hệ Chánh, đều đặt họ tên kép theo cách nói trên”.

Ngoài ra, Minh Mạng còn quy định cách viết chữ Hán theo từng bộ đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế hệ thi là một bộ Ngự Chế Mạng Danh Thi:

Miên (có bộ miên chữ Hán), Hồng (bộ nhân), Ưng (bộ thị), Bửu (bộ sơn), Vĩnh (bộ ngọc), Bảo (bộ phụ), Quý (bộ nhân), Định (bộ ngôn), Long (bộ thủ), Trường (bộ hòa),

Hiền (bộ bối), Năng (bộ lực), Kham (bộ thủ), Kế (bộ ngôn), Thuật (bộ tâm),

Thế (bộ ngọc), Thoại (bộ thạch), Quốc (bộ đại), Gia (bộ hòa), Xương (bộ tiểu),

Nghĩa là anh em ruột của vua phải đặt tên có cùng một bộ:

Ví dụ: Vua Thiệu Trị, có chữ lót là Miên, và tên là Tông (thuộc bộ “miên”: (宀) và tất cả các anh em của Vua Thiệu Trị cũng đều phải có tên chữ Hán có bộ Miên như thế cả, còn các con của vua Thiệu Trị thì tên đặt theo chữ Hán phải có bộ “nhân” (亻), con kế ngôi của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức (Hồng Nhậm) có bộ nhân (亻) trong tên chữ Hán, nhưng con của các vị Hoàng Tử anh em ruột của vua Thiệu Trị thì phải đặt tên không được có bộ nhân (亻), trừ con vua Thiệu Trị).

Bài “Phiên hệ thi” là gồm 10 bài thơ dùng đặt tên kép cho các con cháu những ông hoàng anh em với vua Minh Mạng (vua Gia Long có 13 người con, 2 người con cả và con thứ mất sớm, người con thứ 3 được phong là Hoàng Thái tử, nhưng về sau do sức khỏe yếu nên không thay vua cha lên ngôi vua được. Vì vậy, vua Minh Mạng là con thứ 4 được chọn lên ngôi vua, nên còn lại 10 anh em. Do đó, Minh Mạng đặt 10 bài thơ ngũ ngôn tứ cú. Mỗi bài tặng cho mỗi ông để buộc con cháu phải đặt tên kép theo quy định thứ tự các đời như các chữ kế tiếp nhau trong từng bài thơ.

Bài 1: Tặng cho TĂNG DUỆ (Hoàng tử thứ 3 - Anh Duệ hệ)
Mỹ Duệ Anh Cường Tráng.
Liên Huy Phát Bội Hương.
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận.
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.

Bài 2: Tặng KIẾN AN VƯƠNG (hoàng tử thứ 5) (Kiến An hệ)
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật.
Du Hành Suất Nghĩa Phương.
Dưỡng Di Tương Thực Hảo.
Cao Túc Thể Vy Tường.

Bài 3: Tặng ĐỊNH VIỄN QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 6 - Định Viễn hệ)
Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái.
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha.
Nghiễm Cách Do Trung Đạt.
Liên Trung Tập Cát Đa.

Bài 4: Tặng DIÊN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 7 - Diên Khánh hệ).
Diên Hội Phong Hạnh Hiệp.
Trọng Phùng Tuấn Lãng Nghi.
Hậu Lưu Thành Tứ Diệu.
Diễm Khánh Thích Phương Huy.

Bài 5: Tặng ĐIỆN BÀN CÔNG (Hoàng tử thứ 8 - Điện Bàn hệ).
Tín Điện Tự Duy Chánh.
Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh.
Túc Cung Thừa Hữu Nghị.
Vinh Hiển Tập Khanh Danh.

Bài 6: Tặng THIỆU HÓA QUẬN VƯƠNG (Hoàng tử thứ 9 - Thiệu Hóa hệ).
Thiên Thiệu Kỷ Tuần Lý.
Văn Tri Tại Mẫn Du.
Ngưng Lân Tài Chế Lạc.
Địch Đạo Doãn Phu Hưu.

Bài 7: Tặng QUẢNG OAI CÔNG (Hoàng tử thứ 10 - Quản Oai hệ).
Phụng Phù Trung Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ.
Điển Học Kỳ Gia Chí.
Đôn Di Khắc Tự Trì.

Bài 8: Tặng THƯỜNG TÍN QUẬN CÔNG (Hoàng tử thứ 11 - Thường Tín hệ)
Thường Cát Tuân Gia Huấn.
Lẫm Trang Túy Thạnh Cung.
Thận Tu Di Tấn Đức.
Thọ Ích Mậu Tân Công.

Bài 9: Tặng AN KHÁNH VƯƠNG (Hoàng tử thứ 12-An Khánh hệ).
Khâm Tùng Xưng Ý Phạm.
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy.
Khải Đế Đằng Cần Dự.
Quyến Ninh Đặng Tập Hy.

Bài 10: Tặng TỪ SƠN CÔNG (Hoàng tử thứ 13 - Từ Sơn hệ).
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm.
Phu Văn Ái Diệu Dương.
Bách Chi Quân Phụ Dực.
Vạn Diệp Hiệu Khuôn Tương.

Từ khi có quy định của vua Minh Mạng về việc đặt tên kép theo “Đế hệ thi” hay “Phiên hệ thi” thì người đặt tên đều có thể chỉ ghi theo tên kép mà không ghi họ cũng được (ẩn họ). Chính nhờ đó mà người ta dễ nhận ra con cháu của Minh Mạng.

Việc đặt tên kép theo 10 bài thơ trong “Phiên hệ thi” như trên với 200 chữ thì bà con nội thân nhà Nguyễn cũng khó nhớ để biết chính xác người mang tên kép có đúng là con cháu của các ông Hoàng trong phiên hệ hay không? Tuy vậy, người ta cũng có cách để tìm ra gốc tích thuộc dòng chi nào, phòng nào trong phiên hệ. Đương nhiên trước hết là người mang tên kép đó phải có gốc là họ tộc Nguyễn Phước (hay Phúc cũng như nhau). Đối với các con cháu trai của các ông Hoàng anh em vua Minh Mạng thì phần lớn lấy họ Tôn Thất.

“Họ” Tôn Thất bắt đầu xuất hiện từ năm 1822. “Họ” này áp dụng cho con cháu của anh em vua Minh Mạng; khi đặt có thêm chữ lót theo thế thứ của bài phiên hệ thi dành cho dòng họ mình.

Ví dụ: ông Tôn Thất Cường Để (thường gọi giản lược là Cường Để) là dòng dõi con trưởng vua Gia Long (Hoàng tử Cảnh); ông Tôn Thất Dương Kỵ là dòng dõi con thứ 13 của vua Gia Long là Hoàng tử Từ Sơn. Mặt khác, phải xem tên kép của đời cha, ông cũng phải phù hợp với thứ tự các từ đã được đặt ra trong từng phiên hệ. Thí dụ: Ông Tôn Thất Viễn Bào (GV. Môn tiếng Anh, Trường ĐH Ngoại ngữ Huế) đúng là người thuộc phòng Định Viễn Quận Vương. Bởi vì ông Viễn Bào là con cụ Chiêm Tấn; GS.TSKH. Nguyễn Viễn Thọ là con của cụ Nguyễn Phước Chiêm Tế.

Thực ra 10 bài thơ của “Phiên hệ thi” có một số chữ vua Minh Mạng đã dùng lúc đầu có khác với sau này (như đã ghi ở trên). Về sau vì do một số chữ bị phạm húy nên đã thay đổi lại. Gồm có 11 chữ thay đổi như sau (chữ trong ngoặc đơn là chữ gốc lúc đầu): Kiến (Cẩn), Ninh (An), Trọng (Nguyên), Tuấn (Thái), Thỏa (Kiến), Kỳ (Thuần), Du (Cầu), Cát (Hổ), Tòng (Hoa), Dương (Hoàng), Quân (Giai).

Vấn đề đặt tên kép của vua Minh Mạng còn nhiều ý nghĩa sâu sắc, thâm nho lắm. Chúng tôi không thể giải bày thêm nhiều nữa. Hy vọng rằng những điều đó được nêu ra ở trên có thể giúp cho bạn đọc phần nào hiểu được về cách đặt tên kép ngày xưa của vua Minh Mạng.

Ngoài việc đặt tên kép cho con cháu trai của Hoàng tộc như quy định theo 11 bài thơ trên thì cũng có quy định đặt tên kép cho con cháu chắt gái theo cách riêng.

Đối với nữ, việc đặt chữ lót khác hẳn. Trước tên kép của từng người thì phải thêm các tên lót theo quy định là: đối con gái của vua gọi là Công chúa đi đôi với tên kép. Ví dụ như Công chúa An Đông, Công chúa Ngọc Tây... Cháu gái nội của vua lấy chữ lót trước tên kép là Công Nữ, chắt gái nội của vua thì chữ lót trước tên kép là Công Tôn Nữ; tiếp tục các cháu chắt những đời sau với các chữ lót trước tên kép lần lượt là: Công Tằng Tôn Nữ (thuộc cháu 4 đời), Công Huyền Tôn Nữ (thuộc cháu 5 đời), Lai Huyền Tôn Nữ” (thuộc cháu 6 đời).

------------
Lưu ý: Có tài liệu đã nói rằng 11 bài thơ này không phải chính vua Minh Mạng sáng tác, mà là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên (người quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), có tài liệu ghi là Nguyễn Đình Phiên là tác giả của 11 bài thơ ấy. Chuyện này tôi cho rằng đây là một sự ngộ nhận của ai đó mà thôi, chưa có tài liệu thật chính xác để khẳng định điều đó. Vì vua Minh Mạng là một ông vua sành thơ và cũng thông thái chữ Hán, không lẽ nào nhà vua không sáng tác được bài “Đệ hệ thi” và “Phiên hệ thi” hay sao mà lại nhờ người khác sáng tác rồi lấy tên cho mình? Thật là vô lý!

Theo tôi nghĩ rằng 11 bài thơ ấy là do vua Minh Mạng đưa ra nội dung, mục đích, ý tưởng và giao cho một vị quan chịu trách nhiệm soạn thảo ra rồi trình lên nhà vua xem xét, sửa đổi cho hoàn chỉnh rồi mới chính thức ban hành để làm Ngọc phả Hoàng tộc nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1820, Nguyễn Đình Phiên đã tâu lên vua Minh Mạng: “Bề tôi Đông các học sĩ Nguyễn Đình Phiên cúi đầu, rập đầu trăm lạy kính tâu về việc: Nay kính vâng chủ kiếm soạn các chữ trong Ngọc Phổ. Hãy kính đấy. Kính cẩn xếp thành 11 bài 4 câu 20 chữ, tổng cộng 220 chữ. Kính cẩn trình bày theo thứ tự. Kính chờ Thánh thượng xét đoán” (bản dịch từ chữ Hán, Châu bản triều Nguyễn, tờ 223 đến 235).

Bài “Đế hệ thi”, Đinh Hồng Phiên viết:

Miên hồng khai bửu tộ
Bảo định ứng trinh tường
Toản tự di nhân viễn
Gia hy tích dận trường.

Đọc bài thảo, vua Minh Mạng ban đầu sửa chữ Khai thành chữ Ưng. Câu thứ hai vua sửa lại là Long quý định bảo trường. Câu ba, Toản tự di nhân viễn, vua sửa lại là Hiền năng kham kế thuật. Câu bốn: các chữ hy tích dận trường vua sửa thành Thụy Quốc gia xương. Rồi vua lại sửa câu bốn một lần nữa, thành Thế Thọ Quốc Gia Xương. Sau đó vua chỉnh lại Thế Thụy. Rồi vua tham khảo ý kiến anh em mình và các trí thức trong triều, một lần sửa nữa mới chính thức thành: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quý Định Long Trường/ Hiền Năng Kham Kế Thuật / Thế Thụy Quốc Gia Xương.

Như vậy chúng ta cũng đủ hiểu rằng bài “Đế hệ thi” không phải là hoàn toàn do Đinh Hồng Phiên sáng tác.

Có lẽ vì người hậu duệ của cụ Phiên là ông Đinh Văn Niêm đọc một tài liệu chữ Hán lưu trữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam có ghi bút tích của cụ Phiên nói rằng cụ viết bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” để làm kim sách cho nhà vua.

Bởi vì cụ Phiên là người văn hay chữ đẹp nên vua Minh Mạng mới sai lo việc soạn thảo để nhà vua xem xét sửa chữa rồi mới chính thức ban hành, chứ không do cụ Đinh Hồng Phiên sáng tác hoàn toàn 11 bài thơ đó. Thế nhưng báo Văn hóa Nghệ An cũng như một số bài viết trên báo chí đã có người vội vàng đưa lên bài “Tìm lại tác giả bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi”.

Nội dung bài đó nói rằng bài “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” là của tác giả Đinh Hồng Phiên người Nghệ An. Một số cứ liệu nêu ra trong bài đó là không chứng minh được là cụ Phiên là tác giả độc nhất của 11 bài thơ đó. Chắc cụ Phiên ở thế giới âm cũng phải chạy đến và lạy vua Minh Mạng mà tạ lỗi đã phạm Thượng vì để cho lớp hậu duệ tâng bốc mình quá đáng!...

N.H.T
(SDB8/3-13)


Tài liệu tham khảo:

1.Nguyễn Phước Tộc Thế phả. Nxb Thuận Hóa, Huế 1995.
2.Niên biểu lịch sử Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội 1999.
3.Kim sách và ngân sách triều Nguyễn Tg: Tôn Thất Thọ (Đã đăng trên X&N số 342 - tháng 10/2009 ký là Tôn Châu Quân) 4. “Nghiên cứu Huế” do Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, tập 8, do Nxb. Thuận Hóa ấn hành, QI/ 2012.


http://tapchisonghuong.com.vn

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

THI TÍNH TỰ DO - KHỔNG ĐỨC

Tự do là vô hạn, nhưng không phải là vô ảo. Nó không chỉ thể hiện sự tồn tại trong triết học và thi học, mà còn biểu hiện trong văn học phê bình của chủ nghĩa tồn tại, Heidegger và Sartre đều là những nhà phê bình tài hoa, có không ít những bản văn để đời; các ông ấy cho rằng thi tính tồn tại trong văn học, nhưng phản đối chủ nghĩa hình thức và nội dung duy mỹ. Họ phê bình thi tính nhưng vẫn quán triệt tư tưởng tự do hóa không thể nào dừng lại được; phản ánh  khuynh hướng tự do hóa triệt để của khẩu hiệu “Không tự do thà chết còn hơn”. Phê bình thi tính tự do, tức là phê bình tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa tồn tại và đây cũng là phương pháp đặc sắc và là qui luật.
       “… Nên thơ thay, con người cư trú trên tinh cầu này.”(c’est poétiquement pourtant, que l’homme  habite sur cette terre).
Đó là câu thơ hay của Holderlins (1770 – 1843) , một trong những thi nhân nổi tiếng ở Đức. Cũng là chủ đề trong tác phẩm “ Thi, ngôn ngữ, ý tứ” của Heidegger bình luận về Holderlins và bản chất thi ca. Chỗ cư trú của con người ở đây là thi ý. Thi ý kiến tạo bản tính đặc thù của nơi cư trú; thi ý và cư trú không hề bài bác lẫn nhau; trái lại nó cùng thuộc một vị trí hỗ tương hô hoán cho nhau. Thi ý là năng lực cơ bản nơi con người cư trú. Ý nghĩa của thi ý cư trú là gì? Nó có ý nghĩa là tự do thẩm mỹ. Heidegger chủ trương  “ thi ngôn chí “; phương pháp phê bình của ông là  đem thi, ngôn (ngôn ngữ) và chí (tư tưởng) phân chia ra để chúng “đối thoại” với nhau, rồi từ sự đối thoại của ba sự kiện đó mà hiển hiện tư tưởng ý nghĩa. Ông cho rằng “tính của nghệ thuật là thi tính”. Một trong những nhiệm vụ của thơ là bộc lộ ý nghĩa và chân lý, mà chân lý và ý nghĩa bị ẩn giấu  trong ngôn ngữ và thi ca. Phê bình là bài trừ sự che đậy, khiến cho tư tưởng và ý nghĩa phô bày ra, từ ẩn giấu đến phô bày triển hiện tư tưởng ý nghĩa của ngôn ngữ và thơ. Ông nói sở dĩ chọn thơ Holderlins làm đối tượng phê bình, không phải vì thơ của ông ấy được kể là nhiều nhất, mà chỉ là vì thơ của Holderlins là thơ kêu gọi của định mệnh, chứ không phải do chính bản thân biểu đạt tính chất của thơ. Điều đó giúp cho việc tìm kiếm yếu tố bản chất của bản chất tính.
Ông trích trong tập thơ  củ0a Holderlins 5 câu thơ quan thiết như sau :
 “ Trong tất cả hoạt động của con người làm thơ là chân thực nhất “
 “ Vì vậy con người có một thứ của cải nguy hiểm nhất là ngôn ngữ - nhưng chính điều đó lại chứng thực sự tồn tại của nó.’
 “ Từ khi con người có sự đàm thoại, có thể nghe được âm thanh người này người khác”
 “ Nhưng có được sự trường tồn ấy do thi nhân đạt được thần tứ.”
 “ Con người có đầy đủ tài đức, nên thi ý được cư trú trên mảnh đất này.”
Rõ ràng là ông ta  quan tâm đến thơ và lịch sử ngôn ngữ, chủ nghĩa tồn tại, và phương thức suy luận. Cho rằng lãnh vực hoạt động của thơ là ngôn ngữ. Do đó bản chất của thơ cần phải thông qua bản chất của ngôn ngữ để hiểu rõ. Cơ sở “hiện thế” của con người là đối thoại, ngôn ngữ trong sự đối thoại mới chân chính thành hiện thực. Holderlins đi thẳng vào sự suy luận bản chất của thơ, từ chỗ tối cao của  ý nghĩa  mà nhìn thì đó là lịch sử, vì nó là thời đại chuẩn bị lịch sử, nhưng kể như là bản chất của lịch sử thì nó là bản chất của bản chất tính.
Sao lại gọi là bản chất của bản chất tính? Sartre cho rằng, đó là tự do, Theo quan điểm của ông “vũ khí phê phán không thể quay lại phê phán vũ khí”; thi tính triển khai tách rời nội dung của tự do, thì nó sẽ biến thành ngôn ngữ học, tu từ học, phù hiệu học, ngữ nghĩa học, tự thuật học, và đối tượng tư duy, không thể nào thành  bình  luận tự do của phản tỉnh. Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, văn đàn Tây phương đã biểu hiện sự lầm lẫn về phê bình, quá thiên về phê bình hình thức mà quá ít phản tỉnh tự do, văn học đánh mất bản chân tự do, phê bình thành ra giảng giải và chính là đánh mất  giá trị tồn tại. Đối với văn học Pháp cũng như Âu Châu từ thế kỷ 17 trở lại đây, theo Sartre đó là thời đại triển khai dạng thức phê bình thi tính tự do hóa của Hegel. Ông giống như Hégel triển khai sự thăng trầm tiêu trưởng của lý niệm, biểu hiện một thứ cuồng nhiệt  mãnh liệt phê bình tư do hóa thi tính, phác họa gần 200 năm cái quỹ tích vận động tự do hóa văn học.
Ông cho rằng thế kỷ 17, giữa tác giả và độc giả có sự đồng nhất tính, chức trách của tác gia rõ ràng, đối tượng tả tác là có những sự giáo dưỡng, giới định nghiêm túc, độc giả tích cực, những độc giả đối với tác giả cùng tiến hành coi ngó chăm sóc tác gia không có đầy đủ khả năng  diễn đạt quá tự do. Chủ nghĩa văn học cổ điển không có sức lực biểu hiện tinh thần tự do; tác giả chủ nghĩa cổ điển là một thứ giai cấp ký sinh, họ không vì đại chúng lao động mà thuyết thoại, nỗ lực làm cho tác phẩm tận thiện tận mỹ, hợp với đạo đức luân lý và qui phạm của xã hội, chỉ làm vui thích tầng lớp quí tộc và vua chúa. Tác phẩm miêu thuật nhiều sự thể nghiệm, hòa hài mà xung đột thích ứng đối với phê phán. Ý chí tự do  không được phô bày đúng mức. Văn học thế kỷ 18, thời kỳ cao độ của giai cấp tư sản, đó là thời đại có hương vị, tính chính trị, tính dân chủ và tính tự do được triển khai, tác giả không chỉ được giai cấp lãnh đạo nuôi dưỡng, mà còn được giai cấp tư sản cùng dân chúng duy trì; sự tả tác của tác gia xuất hiện đối tượng phục vụ và đa nguyên hóa, như Kant, J.J. Rousseau có thể biểu đạt trực tiếp sự thể nghiệm và cảm tưởng đối với vấn đề tình dục, thống khổ, tự do v..v… Tinh thần tự do của thế kỷ 18 là thời kỳ có thể đưa đến sự phản ứng của công chúng, nhưng cũng là thời kỳ của lịch sử lý tính, lịch sử của quyền lực.. Sự lưu hành văn học giáo hội, sự hoằng dương tinh thần lý tính đến một trình độ nào đó chắc chắn sẽ ức chế tinh thần tự do văn học.
 Đối diện với văn học thế kỷ 19 trở lại đây, Sartre căn cứ theo quan điểm tự do của giai cấp tư sản tiến hành phân tích thí tính tự do hóa. Giai cấp tư sản coi văn học như là công cụ, mà văn học tự thân thì khát khao độc lập, văn học khát khao đập phá hàng rào của giai cấp tư sản để hướng về tự do, sự mâu thuẫn của nó sinh ra trương lực. Một mặt khác văn học mang tính dân chủ, tự do, nhất là văn học bình dân đạt đến sự phát triển, sụ tự do của nhân tính đạt đến trình độ biểu đạt; văn học thương nghiệp chiếm cứ bộ phận thị trường, nó cởi mở sự ràng buộc của tư tưởng  tôn giáo, cự tuyệt hình thái ý thức phục vụ giai cấp tư sản; nhưng sự độc lập của văn học cũng như sự tự do bị sự dẫn dụ của kim tiền. Dòng văn học chủ lưu chậm chạp và hình thức uốn cong  hướng về  trường phái văn học hiện đại. Nó lại một lần nữa bị nhóm người thiểu số cầm nắm, không thể nào tiếp thu được với nhân dân đại chúng. Văn học chuyển vào giai đoạn phản tỉnh, nhắm đả phá các hình thức cũ và tôi luyện một thứ kỹ xảo tả tác nhằm nỗ lực kiến lập tiêu chuẩn thẩm mỹ của chính mình. Kết quả là văn học độc lập tính tăng gia, tự do tính lại không được duy trì một cách rộng rãi. Sau thế kỷ 19, và sau hai cuộc thế chiến, giai cấp vô sản được phát triển, văn học giai cấp tư sản cùng với giai cấp vô sản, về phương diện tự do cái nầy tiêu thì cái kia trưởng tạo cho văn đàn có hai khuynh hướng chủ yếu: phủ định tự do và tự do phủ định tạo thành nền văn học đang biến chuyển chưa biết về đâu ?  
Khổng Đức