Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU



                                                      Kỳ XII

                                    Uống  Rượu  Một  Mình

Lịch sử vẫn thường bị bóp méo bởi chính những người tham dự. Liệu có sự phản ánh nào là trung thực ? – Phải có chứ, trong các tác phẩm nghệ thuật, đáng tin nhất là ở loại hình thơ ca. Nhưng tùy theo căn cơ mỗi người, việc khám phá, nhận biết lắm khi phải tốn khá nhiều thời gian.
Ngày 30-4 năm ấy (1975) bạn đang ở đâu, làm gì ? tâm trạng thực mỗi người lúc đó ra sao ? Có thể rất nhiều người Sài Gòn, dù đang ở trong nước hay đã ra hải ngoại, đến nay vẫn khó trả lời câu ấy thật lòng. Tôi và nhiều bạn bè thân vẫn hiểu ra rằng, có người do bị “tiêm nhiễm”, chưa biết rõ sự thật của cuộc chiến tranh nên đã lỡ vội vã trở thành “ông cách mạng 30”. Có nhiều anh vội đi lùng mua, mặc ngay lên người bộ bà ba đen, đeo thêm vòng “băng đỏ” nới cánh tay; thậm chí còn ra đường lượm cây súng vứt vung vải, đeo vào vai rồi leo lên xe Jeep tự lái chạy vòng vòng khắp phố để chứng minh là “có tôi đây”…
Những chuyện vặt vãnh ấy có lẽ không cần thiết phải ghi lại làm gì. Người sáng tác ở đất Sài Gòn cũ, trước cơn biến động của lịch sử đã thể hiện tư cách của anh ra sao? Có lẽ tất cả vẫn còn được lưu dấu qua các tờ báo mới trong những năm đầu tiên từ thời điểm này.  Những người có máu thích “lập công” vẫn thường tìm cách khoe mẽ qua “sáng tác mới” ! Tôi và Nguyễn Tôn Nhan (được liệt vào nhóm các nhà thơ “Thiền”- tức coi đời là cõi không), khi được huy động vào đội ngũ văn nghệ sĩ tham gia diễu hành trong buổi mừng ngày chiến thắng được tổ chức tại quảng trường trước Dinh Độc Lập vào giữa tháng 5-75, đã không thể không lấy tạy bụm miệng cười trước cảnh tượng vui. Đó là việc một số cây bút “30” được “vinh dự” cử đi bên luồng để làm “cai”, xem người trong hàng bước đi có đúng nhịp hay không !
Trường đại học không còn giảng dạy, các báo, tạp chí , nhà in cũ đều phải đóng cửa. Họa sĩ Hồ Thành Đức vốn là người linh hoạt đã vẽ cho chúng tôi những cách mưu sinh mới, như sắm một chiếc xe đẩy trái cây đi bán dạo trên đường…; thành người lao động “vô sản” sẽ ít bị để ý hơn ! Nhà văn Cung Tích Biền sắm ngay một chiếc ba-gát máy. Anh mở hàng bằng chuyến chở sách vở, nồi niêu soong chảo giúp vợ chồng tôi chuyển từ nhà trọ ở Phú Nhuận lên chỗ mới được người thân cho ở tại xóm ga xe lửa Gò Vấp. Tôi ngồi sau yên xe chỉ đường. Tới đoạn ngang qua đường rầy, chiếc xe bỗng khựng hơi, rồi chết máy giữa. Anh Biền hối hả ra đầu xe, còn tôi ở bánh sau, ra sức đẩy nó vượt lên, kịp trước khi đầu xe lửa rít thắng lướt qua. Thật hú hồn, hú vía…
Ngày 2 tháng 5, dù tin là nhà văn Võ Phiến đã “kịp thời” di tản, nhưng anh Nguyễn Mộng Giác và tôi vẫn rủ nhau đến “thăm” nơi cư ngụ của gia đình ông ở đường Trần Quang Diệu nối dài. Cảnh nhà tan hoang, tài liệu sách vở vung vãi. Nhưng chưa bị ai vào tiếp quản. Tôi lượm và cất được một cuốn “note book” của ông để giữ làm kỷ niệm. Qua đó, tôi cũng hiểu hơn về cách làm việc (khá chi ly) của nhà văn. Sổ tay có ghi lại một số bài dân ca của người dân tộc thiểu số, làm theo thể thơ lục bát. Ngôn ngữ dân gian rất hiện thực, mà đầy âm điệu trữ tình. Những gì đã thành thơ, được muôn đời lưu lại, vẫn dùng những từ ngữ rất dung dị, gần gũi với sinh hoạt của con người, chứ không lên giọng cao đạo triết lý như các “trào lưu” thơ phương Tây hay “lên gân” như trong các tác phẩm tự nhận là hiện thực cách mạng.

Ló thụt

Bẵng đi bao nhiêu năm, gần như nhiều nhà văn, nhà thơ Sài Gòn cũ đều không công bố, hay được công nhận là có thêm tác phẩm nào “nặng ký”. Gánh nặng áo cơm gần như luôn nhắc nhớ: lúc này không phải là thời kỳ dành sáng tác. Có người nói rằng điều ấy đã cho thấy bản lĩnh và nội lực của mỗi người cầm bút. Cọng với sự vô vị trong các tác phẩm thuộc dòng văn nghệ chính danh, nhiều nhà phê bình và cả một số đông độc giả đâm ra mặc cảm, rằng người Việt khó có thể làm ra được tác phẩm lớn ! Có nhiều nhà thơ vẫn tự hào là người “có học thức” , nhưng vẫn lo ngại không biết ít bữa vào thời hội nhập, làm thơ bằng ngôn ngữ Việt thì khó tạo được sự cảm thụ trong toàn cầu !
Những vần thơ đã loan truyền, dù tả tình cảnh, tâm trạng thực của người sống sau thời điểm ’75 cũng ít làm cho người đọc rung động.

                   *Nguyễn Dương Quang
                    Ngày về
                  
Cải tạo về, lên non phát rẫy
vợ lo “phe phẩy”, ta tiều phu
độc lập tự do hạnh phúc nhất
vừa làm chủ vừa làm bí thư

                  
                        Tả xung hữu đột tan cây cỏ
                   thoáng chốc  một vạt Đông Trường Sơn
                   úng đạn thua rồi, nay trận rựa
                   chiến chinh, chinh chiến ta coi thường

                   Lều cỏ dưới chân con thác nhỏ
                   trôi trôi bèo bọt chuyện ngày xưa
                   dòng suối tí teo làn cá trắng
                   sáng trưa chiều độc món cá tươi

                   Lâu lâu về xóm vợ mừng rơn
                   đáp đền sông núi như tân hôn
                   bốn thế hệ nồi bo bo nóng
                   má em hồng hơn bà Tú Xương

                   Trăm thước lên cao, trăm thước xuống
                   hoa nào đẹp bằng hoa khoai lang
                   trận “Đào Khoai”,  vợ cười yểm trợ
                   khoai sùng, khoai mụn gánh tung tăng

                   Đời lẩn quẩn lưỡi câu, cuốc rựa
                   tương lai, dĩ vãng, đám sương mù
                   gió động vách lều đêm chợt nhớ
                   bạn tù xa lán trại âm u
                                                              (1977)

Mãi tới gần 38 năm của ngày 30/4 tôi mới được đọc một bài thơ thú vị về cảnh sống của một người đi học tập trở về như của Nguyễn Dương Quang. Bài thơ  này trong tập “Đêm Ôm Đàn Uống Rượu Một Mình”. Sách in xong hồi cuối năm 2012, là bản thảo “Để kỷ niệm và dành tặng bạn bè”. Đây là tập thơ đầu tiên, khi tác giả đã tròn 70 tuổi. Cần nói thêm rằng Nguyễn Dương Quang hiện tham gia Hội văn nghệ tỉnh Lâm Đồng. Làm thơ và sáng tác nhạc, nhưng từ trước đến nay, chưa bao giờ ông tự  nhận mình là một nhà thơ !
“Đêm Ôm Đàn Uống Rượu Một Mình” có 57 bài thơ, 2 phụ bản nhạc được tác giả sáng tác từ 1962 đến nay. Bài thơ “Đêm cuối năm viết cho má” có những câu “Hình như cây súng con lạ lắm/ sao nó run lên khi đạn lên nòng” đã được nhà phê bình Đặng Tiến trích dẫn khi viết lời tựa cho bộ “Thơ Miền Nam trong thời chiến” (Thư Ấn quán xuất bản năm 2005). Đi học tập về, Nguyễn Dương Quang đi làm rẫy, rồi anh vào kinh doanh và tiếp tục làm thơ, như một cách “chơi”. Vẫn giọng thơ hiền lành, không hận thù dù đã trải qua những ngày đau khổ. Vì từ xưa, khi còn mang áo lính, ông đã nhận ra rằng :
                   ….
                   Có kẻ dạy ta về chủ nghĩa
                   Ta nghe mà có hiểu gì đâu
                   Chỉ biết xót xa rừng tít biển
                   Lòng đau như mìn chặt chân cầu…
                                                      (Trong đêm mưa tiền đồn-1969)

Joseph Brodsky (1940-1996) là nhà thơ Nga, đã bị Liên Xô trục xuất năm 1972. Ông trở thành công dân Mỹ từ  năm 1977. Tại diễn văn nhận giải Nobel văn học năm 1987, Brodsky đã cực lực cảnh báo về tình trạng nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng “đang là tài sản đặc quyền của thiểu số trong xã hội. Nó không lành mạnh và đầy nguy cơ”!
Ở đâu có sự độc quyền trong định hướng sáng tác và thưởng ngoạn thẩm mỹ đối với văn học, rõ ràng sẽ không giúp sản sinh ra các tác phẩm hay. Nên những bài thơ như của Nguyễn Dương Quang chỉ có thể “ló thụt” trình làng. Đây cũng là điều dễ hiểu.

Số phận

“Điều khiến thơ ca khác biệt với các loại hình văn học khác là ở chỗ nó ngay lập tức sử dụng cả ba phương thức nhận thức (phân tích, trực cảm và phương thức mà các nhà tiên tri trong Kinh Thánh sử dụng: mặc khải), bởi vì cả 3 đều có trong ngôn ngữ; và không hiếm khi chỉ bằng một từ, một vần, người viết bài thơ có thể đến nơi mà trước đó chưa ai từng đến, -và có thể còn xa hơn cả nơi chính anh ta mong ước.” (Lời dịch từ tiếng Nga của Đoàn Tử Huyến, sách Các nhà thơ Giải Nobel- NXB Lao Động 1/2007)

Đến Mỹ rồi trở về, gặp gỡ nhiều người vẫn một lòng nặng nợ với câu chữ và âm điệu làm ra những bài thơ, tôi càng hiểu hơn điều mà Brodky đã đúc kết như trên. Câu dẫn đã nêu trên khá nghiêng về nghệ thuật thể hiện một bài thơ. Nhưng có khi, sự phân tích từ trí tuệ lại mở nguồn cho một cảm xúc dài hơi để qua ngôn ngữ, nhà thơ ra sức thể hiện thành tác phẩm. Đó là sự hình thành nên những bản trường ca. Thể loại này trong bộ môn thơ, hiện chưa được các nhà thơ và nhà phê bình định dạng rõ nét. Trường ca trước tiên phải là “thơ dài”, còn nó có cốt truyện, có nhân vật chính như các trường ca cổ; cảm xúc của người viết dẫn dắt người đọc đến đâu…? Tất cả còn đang được tranh luận. Năm nay, tổ chức Liên hiệp các hội nghệ thuật VN ở thông báo mới nhất của về cuộc thi sáng tác về đề tài văn học cách mạng, trong phần thể loại đã ghi thêm loại hình “trường ca”. Sự minh định chưa rõ ràng về thể loại này, theo nhiều người, sẽ là một kẻ hở cho những nhà dùng văn kiếm cơ hội chia chác tiền thưởng. Và giải thưởng khi công bố, chắc cũng khó đến tay các ngòi bút không ở trong nhóm đặc quyền, dù anh có tên hội viên trong Hội văn nghệ Bình Định. Tôi đã nói điều này với nhà thơ Khổng Vĩnh Nguyên khi anh ôm tác phẩm mới nhất đi bán dạo. Đêm Phượng Hoàng Trở Dạ & Lửa Gầm Nhật Tảo là hai trường ca đứng chung thành một tựa sách, mang nhãn nhà xuất bản Hội Nhà Văn in ra từ tháng 12 - 2011. 
Khổng Vĩnh Nguyên quê ở Bình Định. “Đêm Phượng Hoàng Trở Dạ” được cảm hứng từ sự kiện người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ trên đường dẫn quân chống giặc ngoại xâm có ý định xây dựng “Phượng Hoàng Trung đô” tại Nghệ An. Còn “Lửa Gầm Nhật Tảo” viết về cuộc đời lãnh tụ nghĩa quân Nguyễn Trung Trực (1838-1868) trên đường chống Pháp. Cảm xúc nẩy sinh khi nhà thơ phát hiện người anh hùng này có gốc gác cùng miền quê nghèo, thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát.

                    * Khổng Vĩnh Nguyên
                   Tuổi thơ đi biển

                   Ngày mới bắt đầu bay cánh chim bói cá
                   Gà gáy vang tan sương ma Hời xóm Lưới
                   Ta theo cha đi chài
                   Sau cơn bão, lập đông trời biển lặng
                   Sóng bạc đầu tan vào hư không
                   Tan vào lòng mẹ quê lành lạnh
                   Đứng bên cồn cát trắng trông cha

                   Mẹ ta như tượng đá sườn non
                   Như hòn vọng phu xõa tóc
                   Dáng hao gầy phơ phất cỏ lau
                   Ta hồn nhiên như bình minh hực hỡ
Tương lai thẳng hướng mặt trời
Mái chèo phăng phăng hăng mùi khoai nướng
Lướt qua liềm trăng hạ huyền
Cha ta ngửa nón chai uống vị quê nhà nước mắt
Nước mắt mồ hôi thấm vào xương tủy
Như giọt sương rơi trên cồn cát chiều chiều:

-         “Chiều chiều quạ nói với diều
Ở trong xóm núi thật  hiều gà con
Gà con bươi rác bươi rơm
Em ta chèo chẹo đòi cơm tối ngày !”

Mái chèo ta phang vào giông bão
Phang vào chân trời
Ôi mái chèo tuổi thơ đi biển
Đi vào sống chết mênh mông !...
Bình minh tuôn đổ nước hồng
Gió tràn lồng ngực trai tơ
Nhọn sắt tiếng bầy nhạn biển
Vụt ngang bầu trời
Đọng bóng trùng khơi
Gọi mời…những người con của biển !…

Đoạn mở đầu của bản trường ca là tiếng than về số phận của những người dân nghèo miền Trung. Từ đó, ngày xưa Nguyễn Trumg Trực đã theo tiếng gọi của Nguyễn Tri Phương “Đoàn lưu dân lạy đất trời/ Hào ca nam tiến đáp lời Cửu Long”… Ở đây, các thể thơ truyền thống như ca trù, lục bát, thất ngôn…và lời trích từ ca dao được sử dụng nối tiếp nhau, giúp người đọc hiểu được căn cơ cội nguồn cảm hứng của tác giả. Làm cho người đọc hiểu được tấm lòng người viết, thì hai trường ca này có thể đã thành công. Nhưng để tạo được một hơi thở mới trong làng sáng tác hôm nay, thì có lẽ ấn tượng này chưa đậm đà lắm. Bởi lẽ ngôn ngữ, từ cách diễn thơ trong từng câu, từng khổ thơ còn chìm lẫn trong cách diễn đạt khá cũ. Nhưng đáng ghi nhận là hai bản trường ca được in ra trong thời điểm khá “nhạy cảm”, là khơi dậy tinh thần “chống xâm lược”. Nhưng nhu cầu này đang được nhiều người trong giới cầm quyền  cho là khá “phức tạp” .
Mong muốn của người đọc thơ hôm nay không phải chỉ dừng ở những khái niệm đã có như “ái quốc”, “anh hùng”…, mà là hiểu thấu được căn nguyên tạo ra cái ác của con người. Dù sao, tiếng nói của một “nhà thơ nông dân”-biệt danh của Khổng Vĩnh Nguyên- rất là đáng quý. Có lẽ nhờ vậy nên sau vài chuyến đi vô nam “bán dạo”, dù các báo văn nghệ chính thống không hề điểm qua hay nhắc tới, số lượng 500 bản in cũng đã  được…tiêu thụ hết. Nhờ vậy mà tác giả, nhà thơ nông dân nghèo Khổng Vĩnh Nguyên có tí tiền còm, tiếp tục “đêm về mua rượu uống một mình” !
                                                                                  (Còn tiếp)

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

THƯƠNG TƯỞNG 2 - HOÀNG LỘC

thương tưởng 2

data:image/jpeg;base64,/9j/4AAQSkZJRgABAQAAAQABAAD/2wCEAAkGBxMSEhUUExQUFhQWFhcWFhcXFRQXGBoYFBQXFxYWGBwYHCggHholHRQUITEhJSksLi4uFx8zODMsNygtLiwBCgoKDg0OGxAQGywkICY0LC8sNCwsLCw0LDQvLC8sLCwsLCwsLCwsLC0sLDQsLCwsLCwsLCwsLCwsLCwsLCwsLP/AABEIAKAAoAMBIgACEQEDEQH/xAAcAAACAwEBAQEAAAAAAAAAAAAEBQIDBgcBAAj/xAA3EAABAwIEAwcCBQMFAQAAAAABAAIRAyEEBRIxQVFhBiIycYGRoROxI8HR8PEHQmIUFUNy4TP/xAAZAQACAwEAAAAAAAAAAAAAAAACAwABBAX/xAAjEQACAgICAgIDAQAAAAAAAAAAAQIRAyESMQRBIlETYfEU/9oADAMBAAIRAxEAPwDnVLC0zuSiGYFgGxhUU6ceqJxVV0aQVreNnMWWNdAFPCNL7G0pwcnp2mUJhGQVe+u4mJ8kTxv0Asy9n1bK6Q5hC5fhaZeZ2VtQuduVS1t1f42kD+ZN6HQyuhyXtXLqBpv0iDpP2QlJ8q6i7xH/AB+yB439jFmX0DZPlrdA1tk8ZUc4wdMAaWQ4/YI7Lmk94mBx/RBY6qS4nnsOSKMNgzy/HQhxGGMLzBUyN00JtdDMF1fFXZFkbjRZSotlE0MKXGACT0CJwWBbGt7tLeA4nyutdkuMwzSGuY0kxa0gHmSN/ZDLKo6Dh488m3pGRfk9SPA7abwPzS6pTgwRcLrv+2U3g6XUy0mQ1rzI6nVHxyWY7T5C2BUYT0PA9D15IY5rlTQeTxeMbi7MHUhVBqJq01ANT2jNGWiotC+cAp1G8lXCqglsZUWQSTwUPNMqWHdUBiAJklxA+SqqzWs46j8D9UaEsGpCyloKkdpJVYqFGkKdkoMKsBWfUXrQroq6PZROEplxIHFqGDCSANzZPsVSNNmkCakAEgfvqgm0tBwjexbi64EMZ4RueZ4oF44lXGgG+Ix0FyrsNiwwyGNP/a6paWi33sXfTJBsYQtGGS47Bbmr2uhjQ2m24cKjI7p5EfKxeaFoaANnPkjy2HUJUm6to04VFzSTspxGPdzkgbWtO3qlrcweLyZ4X9yoYpkOJJ4zF5+UG8rMdM1HZ/NarnBusy4j0AXVc6xH02MczvMdDajYtJHi97eq5R2JwxNYGBzgn0ELp2Z4hxouYAO8N5jSRsR1sEuasZFmBz7CaHyPCbhLWRInaVscRgxiKIMBrvE2OBO7T0WSqUi034FbME+cf2cvycf45/p9EKjRJA5lVEK3EthzvNUkFNoTHob4muS6/L0HQK3GtBZTIG4M+bTdV1qUgvb6jkjg0f6ZvElxA5gH+Ed1Qmu2Ld7qLWFxsi69INZA8Rgk8uiqbWIENG4gnmiTvoCqeyAapUWzI4xIUXOhGZa0D8V/hb8nkpJ0iQjb2F5Th9ID3AkmzQN/NXZvX0sgeIwJ4qjFY00pJjU7wiNm80I6sSwvO829khJyfJmiTUVxQtcp6iqy66m4pwhnjplLczeQ8NG4iT53KYB6QY2rqeTJhZ/IdKjb4cfk2UVXgTeZUKDdTgOo+6g6AiMvplzgAP2Vks6dG/7KZMzUXxIBEH/qDf3K21bKaeJoRUHgcCAZGtrjf1aQCPMpb2eY1tEWtF90ZSxLWanEODQC4kiPCJn2CrnoYsd2xPQoGnAFwJafIGxWdz/DaKjjYX280/y/F1dB1XcSQ0XB0v1Ek/CUdpK2trZAlpcyQ2DAgjVzN/ur8V/MzebG8YixnjPkPsqIlEYsXHkPshRUhdFnLj0PA/Q+22xHCE9wtAmn3BNgW22udylmKo/TfcAh2/onFJj4Mn8PR3QTA3uSlzfRMceyOCw9JjprfiF1g0eGeA6le4vLGtqkwI48geSFwOJFOprAD3XAJs1vCR5JvrgEuvPeQybTCglJGbOBNSo6B3RcngAFW97Xmf8Ajp7Dmf8A1amjhC8Brv73APItAJ2Q/aDImBr2UQ4fSPeB4yJlEpp9guFdGZr1/qtLnbg/B2UKhikOrj8KOGHejmIU6re60HmSmpVoQ5XsAAMqyJVv0iTyTXJcqdUqNgWBE2RPStkT5SSXYmxuCc1kAfiOAgcQCYJPus7iKGkxxkj2XZsLkD6gfpaXODi0kCSNXNck7R4F+Gquo1Glr27gjpv1BF1z5zU9nYxY3BUkI6gunnZrClzwOcewMylAeRxT7snqNdsXMzcxYeJKl0aEzrGXABsbfwkvbXMqf0jh6dQGrUIBaLkM3d6kCwTik4BsoXKMqGJrNa4MAadReRdoB1EzvNrBIXIdcQbJcscaTYdci0ncRz29Upz2g5hAeBqd9htMrr2WZNhi/WQ6DBDSQR0cQB4uNvlR7Udi6VakTTaS8S7SSTq6Am4PIp/jz4v5GXy4c4/E4LmLY0HmwfCXOen2d4cCnSI/zb7EGD7rP1GrpyOVjXo2uJzDvhsANmSePmEQ6q11UAT/APNwnyAiEtxlPU9/dmC0SDe+yOy9p1nkARJ6jYLPJL0FGV6f2CU6ZJgjS3c800w0Eh7+7THgHEnmV9l2XOrOa3gbu5xyTvEYujRqAACrW2aP7KY/X92UbbdItJRVv+/wNyJrWgPqyyk12vU+xImQYKA/3htXG1ngtLakAAGbCQCfdIc4zJ2J1uc6QLN5RHALO0Kr6ZDhIKJ4eUWgF5HGaf0HZ5SbRrVABsZHSboLMqoLm+QR2IrsqOc+o0mQBAO56oKvhNdWwtATI2kuXYt8W249WEZUwPcOS7blGDZhMMAwAVH7u4+nkuT5Lg2iozfxtB9102riJYOYt6JWZ8ml6NXhxUU5ezRYWvToUNbnAC73Hr167L83f1RzL6+ID4gxAncjhK6X28zCoKTWMIloBc07EMGqPOy4XmmOdXeXu3Ky8NWdBTbdAscP3ZarscBqdUMEiGNjyufskeSUg6q0Ovv9lpshof6fEGi7wvh1MnjHDz4egUSLb9G5w1JzwAbBO8BSDQQBY7+v8ITLKReQ1vmTwA5laijgBpgbD9yjjGotsU53JJBOWVgCLbLT0aoIWXw1O8DmnNOWhK01Y/adHKs+7FVa1SowFtNoxNaq0mT3KhEAAdZ9lhu0nZZ9BhfTqtqtaYfp3b5iVp+3+eVi+uWVHgNxRZYkd0M8NuGoH3WDpZi9usyT9QQ+bz1K1JTrbOc3G9I3jMKPqlxBEhoMcRv8JthMtAcQBDdxx34pkcILc+RHJNcLRJExf+3b3KROfY2GOkrMn2gY+k0U8OItDnbb7Dz3SCnllVlI277tzI7rf1K6aMIXWdDp6BE1cqbABjeSI3Vxy0hM/H5O7Oc9mMhc8n6lmSJPQcEFmtJ2IrvIaWie6I4Cy6ZisCCA3wtHAKVHLRAtBRLyHdg/5U0onPjkeltxPFLMaCx5hpJtsupYjBSD6/ZLRkWoAgXO6r/T7ZbwKKpGby7BOBY8t/uB+RK2D7NHqg84oClQLiHHTpJ07gSNR8gPsj6jN1eKbm9j4x4oxHbau6zoLjJsNyI2XJamGAFSbOpu4deHwu2dpWtp031XbMa4xzPAeuy592e/p1jMez6rdDA5xJLyQDERAAvcv9kc+6Ch9mVyV8V6fV4Hvb810DOsI57KbKbfxX1AKXMFt3OHQDc9RzUcr/pJj6OLomqxrqLX63PY7V4LgEb3IHyug1cirMrtr0hTqfh/TdTedJA1ai6m+4BPEEXgXCHHG4uwskmpKhrlWDDGhoHKep5pzSbEILK3Co3UA5tyC1whzS2xBCa02Isj0DjjR7leAABPCTE+ZKY1mgAk8L+ynQbDQg87r6acamtc7utLjAk/fiY4wsjZqOJZ1lbqja1rvqtqdDqkuPysniclqNMaV3TGZcIaIt4fYf8AiEpZAwXN1pXkKlaOe/GdumQwbA7STt+7JqymGwSOaUUQdQBFgTEcJTio4uI6BZ5I1xJkGQbL4PndRpO4EKTWnV/iVTLSK3BpIRIpQNrKpwaagAKJxBB2UZIorrNDWHjP5omkBFgl7jNuEiEw0xtcKginHwGkuaYAMwC43tYDcpUW2TkvcCUsDbkdU/B2xeRC/EZQzFAU3yWlzSQOOlwcG+RIgrY0MO1rQABYwYSfJqRFb/GJ9bp+wS0o8rJjQQFW+g07geyjTPBWaln6HdlDMDTaIa0NuTYcTuVSKEWR8rwtVqTK4o8piAk3ajL2Yinoe2Q0h46OYZBHWydpdjn95BLotuhMydFOd+78he1CQrKv2I+CrKsaiOM8Lq10LbMzSrQ9pkyJEc04p12wSd+SztOWy7eHfMpgxgdsYEyrl3QMZDanVHAX6q4hrhYpa1xm++yLwrNzGw5pfKnQXMG0kPMcES3vCZ/JeYXxk7k8tlaXxZoETx3kq2yWUuPeaBzt6Jl9SWxtG5QdMN1iG3AO+10RWdIidz6KWvZSZ7S1Dih6FCakdVe50cf3yUKjocDtcI8ctuiWnoNdhvp1ARJkET1TGi0BvReB4cBtO6kBKJyvsYo0U4t5aJDS7bYgfdeMEnzV7CpbbKrohICF8orwvA4oQj6o+AlFWrJMppEm6CxlCAS3ltCXlurQud1aEtfYz7eqvpmCJ4KGJoW8uav0TJHKfUqY5Pj+xcDHYRxFuZvxEdRxR+Do27vHgehQGFMuPBNqdMCY9Pz+UUm7Kigl1MjyciWutp/ZUaOIBEO24r6q2NuO3rsq47CUaJNcRGkWU6YsYEnieSg194VwMACbX3UrZK+yFNhkxawRNKhqdI2A34dVRSJkzsf0RNRzogG2wCj7IWgtaCeJET+gS6u6B6hTe82vMWhC4o2/fNafHVqxc5fQVhMWWnontKs2oLLIVKkH3UsLmbmbGPsgmqezVj+a0arXB5ngha2PAdzjgDb1WczXOnucA0QyL72d5DcFB0sWXbS7lwCW5O6NMcSSuzbsxmvwg9SqWSXJPgqpHGOid4YceaJPQmap6CWleFygXKDnKgQHEw2Z2Mx6oenXlgAMEx8BWZoHGI8jccT1SF1dzWzsR0MGPmBzQC33QjwtYAuPQRfkisPiz5xt/KUNmTF/z9lZQfw6H03SsidoRux9TxZNjz5+yY03CRy4cfNIBVAvtvv5b+aY0K23HmrgMikNWnl7hQxDo2NgPuqadQCCTH5qitiGknc2PQSSmFvQfhny25I9L+StfU5bzyQeGqXiRYb8eH5yvqxHCfUo4Q5vQL0rCqlYkCSPT9UPWd3T5KozCgX2joVujFRVIS3ZCsZnySt7nSQee43hNKQkgcwoswZkk+k23UlGLew4Tko0hMC47k6RuYjfh5o7CCPLYBfVqMkcANgrsPwS1iiuhks0pO2PMrw08rbp0Xpblz4b0RDqiRN2xsVovL1U+oqXVVS6qgCLqjgd0ixbIkaiJJiJ57SExqVklxuLBtIiSZ9oj5VPopn/2Q==
 
thì thôi em đã yên phần
kể như hốt hụi một lần được may
sống vui,
khổ
với đời này
là bao nhiêu đó trên tay em còn

chồng con ờ,
lại chồng con
hay ho chi chuyện đau lòng ấy đâu
(em than như đã cơ cầu
em than để mãi ta đau một đời)

gừng vừa muối mặn thì thôi
em bưng như thế cũng rồi hồng nhan

5-2013

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

CHÚNG TA CÓ MỘT NGÀY - VÔ BIÊN

Chúng ta có một ngày

Vệt nắng đầu ngày
Sáng lóa trên nóc nhà ai.
Là lúc ly cafe tôi vừa cạn
Những vòng khói đâu đó
Còn quẩn quanh trong đêm sâu

Ước gì bức tường kia mục rã đi, đổ sụp ngay
Biển ầm ào lớn dậy, giông bão và sóng thần
Cuộn cào rác rưởi
Cuốn đi lầu cao và mộ địa
Để rồi còn lại rổng lặng, những ngọn gió mới, nguyên sơ một linh hồn

Tôi bước ra khỏi quán
Nắm một ngày trong tay đi đánh cược
Những chiếc đu bay vù qua vù lại
Không đủ quay chong chóng
Ngã nghiêng mặt người
Tất cả ẩn sâu vào lớp vải che
Những thiên thần, những ác quỷ
Những tên cướp ngày...
Những gái điếm, những chân tu
Và những người chưa từng yêu nhau

Nắm trong tay một ngày
Tôi thầm chia đều cho những loài chim,
những hàng cây,
Những cụ già, em bé và chúng ta.
Một ngày mà mặt trời cho và tận hiến
Không ngã giá

Tôi ngửa mặt.
Trên kia bầu trời xanh trong mây trắng bồng bềnh
Sao ở đây loài người u buồn quá
Thế hệ u buồn quá
Lê thê giai dẳng bao hệ lụy của chiến bại
Quê hương ơi bao giờ mới hết lầm than

Tôi đánh cược một ngày
Vào bầy chim, loài bồ câu, loài tình yêu
Chúng vỗ cánh bay lên
Những vệt phân còn sót lại...

Sơn Trà, 9h sáng 8/5/2013

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

MAI ANH VỀ ĐI LẠI ĐƯỜNG XƯA - TRẦM MẶC

Huế bây giờ
còn nắng hạ không em
Anh muốn vể đường xưa
lối mộng
Nơi ấy có em của một thời
không vang bóng
em có còn tóc xỏa nón nghiêng che
Huế bây giờ
có còn những trưa áo trắng
Buổi tan trường
ai đưa đón em về
Ôi nhớ quá, phượng hồng ve réo gọi


Anh nghe lòng vụn vỡ mối tình riêng
Mai em nhé
mai anh về… em nhé
được cùng em nhắc lại chuyện ngày xưa

Em bé bỏng
anh ngu ngơ, khờ khạo quá
Rồi giờ đây
thương lắm tháng ngày trôi
Anh vẫn nhớ một ngày qua Đồng Khánh
Chiều tím buồn
mưa lất phất
gío hắt hiu
Anh lúng túng, vụng về ..không nói được
Để bây giờ tiếc nuối mộng ngày xanh
Huế bây giờ
còn nắng vàng chiều Vỹ Dạ không em
Cho anh gởi chút tình xưa năm ấy
còn mãi trong anh…
kỷ niệm vàng năm tháng
Mãi mãi em ơi ! dù tình yêu không trở lại
Anh muốn về ngóng mãi buổi trường tan

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU




Kỳ 11:
Những Nụ Hoa Cô Độc
 “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội. Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ. Còn thơ là gì thì ta chẳng biết !”…
Tôi xin phép được trích mấy câu tản văn thuộc loại “tuyệt cú” của Bùi Trung niên Thi sĩ (Bùi Giáng) để bàn về một ngõ trên “mặt tiền nghệ thuật” lần này. Kiểu nói này từng được các nhà tư tưởng ngàn xưa dùng đến.
Thơ Thiền !
Câu“Thơ là gì thì ta chẳng biết” đã làm cho cõi Thơ khá gần với cõi Đạo. Các nhà nghiên cứu văn học dùng chữ quốc ngữ từ hơn nửa thế kỷ trước đã khai sinh thêm một tên gọi là “Thơ Thiền” để định danh khuynh hướng thơ sản sinh khi môn phái Thiền tông của Phật Giáo được Bồ Đề Đạt Ma du nhập từ Ấn Độ về Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI. Vào Việt Nam trong thời Lý, Trần, tư duy Thiền tông lại hòa quyện với tinh túy đạo Khổng và tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử theo hướng “tam giáo đồng nguyên”. Hệ tưởng của Thiền Việt ảnh hưởng lớn tới cốt cách xử thế và hành động của nhiều lớp người, từ lớp quan lại, kẻ sĩ đến giới bình dân.
Nhiều người rất thuộc và nhớ bài kệ “Thị đệ tử (Dặn học trò)” mà Thiền sư Vạn Hạnh đã dặn trước khi ngài bước vào cõi vô thường (năm Thuận Thiên thứ 9, dương lịch 1018):
                        Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy nhi lộ thảo đầu phô
Ngô Tất Tố đã dịch :
Thân như bóng chớp, có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Kia kìa ngọn cỏ, giọt sương đông
Không ít nhà thơ đã tỏ ý không đồng cảm với tên gọi “Thơ Thiền”. Họ một mực cho rằng “Thơ là thơ, Thiền là thiền”. Từ xa xưa, có thể có nhiều bài thơ hay xuất phát là những bài kệ. Nhưng nếu đã là thơ, là lại vào một cõi khác. Đúng vậy không ?
Qua nhiều trào lưu nghệ thuật, hai tiếng “Thơ Thiền” lại được nhắc đến khá nhiều ở Miền Nam từ giữa thập niên ’60 thế kỷ trước. Khi đó, Phật Giáo và tư tưởng Thiền Tông trở thành một hướng mở trước những bế tắc của các nền văn minh cơ khí. Đầu tiên, có thể là những bài văn vần dùng nhiều pháp ngôn và hình tượng trong đạo Phật nhằm “thi hóa” các gương tu hành, đưa con người rời những bến mê. Nhưng rồi sau đó, ngày càng có nhiều bài thơ mang màu sắc tư tưởng phương Đông, hoặc cảm hứng nhiều nét huyền nhiệm của thiên nhiên, vũ trụ ra đời. Tất cả đều được quy rằng đó là Thơ Thiền. Có thể điểm ra các nhà thơ được sách báo liệt kê vào xu hướng này. Lớp đứng tuổi là Bùi Giáng, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư. Lứa tiếp tiếp nối gồm Huy Tưởng, Nguyễn Tôn Nhan, Đặng Tấn Tới, Võ Chân Cửu, Lê Nghị…
Cõi hỗn mang
Nghệ thuật thơ ca cần phải sử dụng ngôn ngữ. còn nhập thiền là từ tâm niệm tiến dần đến cõi vô ngôn. Về phương pháp thể hiện, hai bên hoàn toàn khác nhau. Từ cảm xúc và bằng cảm xúc, thơ ca có thể từng lúc bước vào từng thế giới riêng trong cõi linh hồn. Còn hành thiền lại có thể nhìn ra vô lượng kiếp. Vậy mà sao hai bên lại gắn với nhau ? Thì ra điểm tương đồng là trên đường đi , cả 2 cách đều có thể dẫn tới, hoặc tạo ra niềm hoan lạc của tâm hồn. Nếu coi thơ như một đường dẫn, thì trước tiên nó có thể là một bài kệ, một “phương tiện” để đi tới hành thiền. Nhưng gọi là “thơ thiền” , thì chỉ khi nào bài kệ vượt thoát những giới hạn của ngôn ngữ giáo điều, giáo lý, như khi Thiền sư Vạn Hạnh “Thị đệ tử”, khi đó nó mới thật là “thơ”. Hóa ra, 2 hình danh sắc tướng này “tuy hai mà một, tuy một mà hai”… Tâm thức mỗi người nếu không thấu rõ điều này có thể sẽ bị rơi vào trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, lẫn lộn giữa cái “có” và cái “không”. Nói dễ hiểu là người ấy sẽ đâm ra “tửng tửng”.
Tại quê hương Thành Bình Định-tức kinh đô Đồ Bàn (nay là thị xã An Nhơn) của Vương quốc Champa cũ, vào hai mươi năm sau nhóm Bàn Thành Tứ Hữu (Quách Tấn, Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên), đã xuất hiện một nguồn thơ đáng nhớ: Vũ Thúy Thụy Ca (Đặng Tấn Tới). Ông có thơ in khi bán nguyệt san Văn mới ra đời. Năm đó nhà thơ mới vào học Trung học đệ nhị cấp ở Quy Nhơn (1965-1966). Sau tập thơ đầu tay Mưa Mắt Tình (1969) mang nhiều âm hưởng trữ tình, vào thập niên’70, ông đứng ra thành lập nhà xuất bản Vận Động ở Sài Gòn, cho trình làng thi tập Tâm Thu Kinh, rồi xuất bản riêng một ấn phẩm mang tựa Tuyệt Huyết Ca. Đây là một bài thơ dài tạo nên hiện tượng lạ trong làng thơ lúc này. Nhưng, trong nổ lực làm mới nhịp điệu và thi ngôn, lúc đó Đặng Tấn Tới đã gần như sắp bị lạc vào cõi hỗn mang:
* Đặng Tấn Tới
Thấy gì ?
Hết lời chẳng tới vô ngôn
Thơ ca rất mực chân dồn bước chân
Kìa kìa rõ cái gần gần
Đuổi chơi chớ bắt cho thần thẩn thơ
Nghìn xưa soi đến bây giờ
Bóng trăng trăng bóng ai ngờ nước xanh
Nên em mới lại vin cành
Thấy gì trong vắt dưới mành mi cong ?
Ngay ở hai câu đầu tiên, bài thơ nói rất rõ nghịch cảnh của chàng thi sĩ đang muốn dùng thơ để đi vào cõi Thiền. Cũng may là cảm xúc từ cõi thơ khá màu nhiệm, nên đã đưa nhà thơ về lại với những vẻ đẹp của trần gian. Anh đã “Thấy gì trong vắt dưới vành mi cong”của cô thiếu nữ. Không may là sau cuộc thế đảo chiều, anh phải viết đôi vần thơ với những câu vô thưởng vô phạt. Ngậm ngùi sao.
Chuyện cũ, chuyện mới
Năm 1973, nhà văn Nguyễn Mộng Giác rời đất Quy Nhơn vào làm việc tại Viện nghiên cứu giáo dục ở Sài Gòn. Anh có cơ hội được đọc một số sách báo xuất bản từ Hà Nội. Một hôm gặp tôi, anh báo tin: “ngoài đó, có một số bài viết về văn nghệ miền Nam đã nhắc đến tên cậu” ! Tôi phớt lờ, không quan tâm nhiều, vì nghĩ rằng thơ mình đã làm đều không hề đi vào ca ngợi thế lực chính trị nào. Mãi đến sau ’75, khi có người giải thích, tôi mới hiểu vì đâu mình được nêu tên là ở trong số các cây bút chịu ảnh hưởng của “văn hóa thực dân mới”: Tôi nằm trong số các nhà thơ thiền ! Khi đó, tôi không phủ nhận hay công nhận. Và nói thật cho đến tận bây giờ, tôi cũng không thể hiểu tường tận thế nào là Thiền và Thơ Thiền.
Cuối 2012 khi sang Mỹ chơi, tôi được đọc một số sách, tạp chí văn, thấy nhiều cây bút hải ngoại có cách khen ngợi nhau là làm thơ thiền, hay có âm hưởng thiền. Tôi ngẫm ra rằng : Thiền đã và đang là mốt văn chương. Thiền chính là cuộc sống mỗi người đều muốn “đạt” tới.
Lên chơi Vườn quốc gia Yosemeti, trở về tôi có làm bài thơ mới. Khi đưa nhiều người xem, tôi không nghe ai bảo đó là thơ thiền. Có khi do bài thơ chưa hay. Nhưng tôi rất mừng vì Thơ Thiền có lúc từng bị xem là “ảnh hưởng của văn hóa thực dân mới”, thì hiện nay cả ở trong và ngoài nước, lại có nhiều làm thơ mang “âm hưởng Thiền”.
* Võ Chân Cửu
Lên Yosemeti , thấy tuyết
Lần đầu tiên thấy tuyết
In bọt trắng ven đường
Lòng ta đâm nghi hoặc
Hay ai vừa mới sơn ?
Đây Dầu-sao-mơ-đi
Rừng cao xô núi kép
Nước vực sôi thầm thì
Tuyết sinh thời mặc tuyết
Sờ mới hay tuyết thật
Ta trách mình đại nghi
Tuyết sinh thời mặc tuyết
Khách đến rồi lại đi
Lên dốc cao nghìn mét
Ai hay ta tìm gì ?
Vỗ tay đánh cái “bép”
Hóa ra cũng do mầy !
Ta cũng quen diễn kịch
Thực-giả, định làm gì ?
Có người trốn phố thị
Về kết áo vỏ cây
Khi hát cùng muông thú
Ai cảm nỗi vui vầy ?
Cảm ơn tầng sương tuyết
Mai về ta chắp tay.
                            ( 11-2012)
“Hành Thiền” hôm nay
Trong các bạn thơ ngày xưa, có Hồ Ngạc Ngữ là người từng đam mê hành thiền. Khi đó, anh đã mon men vào cõi Thơ Thiền, có những bài thơ 3, 4 câu khá nổi tiếng (Vì sao người đi tu,…). Theo biến động lịch sử, anh về sống tại một vùng kinh tế mới, rồi tiếp tục làm thơ, đa phần là cảm xúc dành cho tuổi mới lớn. Hồ Ngạc Ngữ có duyên tiếp cận với lớp làm thơ sau ’75. Một năm nay, thơ của anh lại chuyển dòng theo hướng hiện đại (của riêng anh).
* Hồ Ngạc Ngữ
Người Đàn Bà Cô Đơn
                                                               (Gửi PTTT)

Tưởng tượng khi em trở về bóng tối tràn ngập căn nhà với những mùi hương năm tháng
Tiếng nhảy nhẹ nhàng của con mèo hoang khuấy động nỗi buồn sót lại
Người đàn bà gian truân trong cuộc đời đã dừng ngoài cánh cửa
Em mang chiếc bóng người mẹ bước vào
Thắp lên chút ánh sáng dịu dàng một nửa hạnh phúc một nửa khổ đau
Em nhóm lên bếp lửa
Như ngày xưa đã nấu bữa cơm cho gia đình
Bây giờ chỉ nấu cho con những món nướng trong chiếc lò vi ba đã cũ
Và trong căn phòng nhỏ đứa con trai sẽ vừa gặm một mẩu xương vừa chơi game
Như một con chó con tội nghiệp

Tưởng tượng em nằm khỏa thân trên chiếc giường một mình vì trời nóng
Tình yêu như một món hàng cao cấp từ lâu em không nghĩ tới
Thứ lụa là người ta khoác lên cơ thể thanh xuân những cô gái mới lớn
Đẩy vào những căn phòng kín bưng tội lỗi
Tiếng máy điều hòa chạy rất nhỏ như tiếng thì thầm của thời gian
Em nằm đó, không xúc cảm và vô vọng
Thoáng nhớ tới anh như nhớ người đàn ông em thoáng gặp ở ngã tư đường
Trong buổi chiều có rất nhiều lá vàng rơi rụng

Đêm rất khó thở vì bóng trăng chênh chếch ngoài khung cửa sổ
Bay vào những giấc mơ, có lẽ, từ nhà hàng xóm sang
Những giấc mơ đầy hình ảnh cơm,áo,gạo tiền
Những giấc mơ chìm đắm con người vào mặt đất
Lẽ ra, những giấc mơ
đã bay lượn đến trời xanh

Tưởng tượng tới em
những đêm khuya ngồi khóc một mình
Tiếng khóc nén lại trên cánh tay yếu đuối
Như tiếng con mèo quào trên cánh cửa đã tróc nước sơn xanh
Loang lổ màu gỗ mục
Những giọt lệ bay lên thành những ngôi sao đêm lấp lánh
Và trong những nỗi nhớ về em, anh sẽ gặp.
                                                                 (Tháng 3-2013)
Ngoài 60 tuổi đời, thơ anh đang thực sự trẻ lại. Phải chăng đó là nhờ “hương thiền” mà anh đã tích tụ từ thời thanh xuân ?
Đọc thơ mới của Hồ Ngạc Ngữ, rồi những nhà thơ thuộc thế hệ 8 X, 9X hôm nay, không thể không mừng khi có những người hết lòng trên con đường thi ca, đã có được những cảm nhận đáng nể trong cuộc đời. Như nhà thơ nữ Ngô Thị Hạnh (sinh 1980) trong một lần lên Đà Lạt. Khi biết đến loài thông đỏ quý hiếm và sản vật của nó, trái tim cô đã bừng lên cảm xúc:
……………
Chỉ biết
Dù có dầu thông đỏ
Ướp nhiều đời thân xác cũng hư vô.
                             (Dầu thông đỏ)
Có thể thi sĩ nào cũng là người từng hành thiền trong nhiều kiếp trước.
          Nhưng với bài thơ sau đây, bản lĩnh của cô đã bộc lộ rõ nét hơn:

* Ngô Thị Hạnh
Rượu Tình
Em và tình yêu leo cầu thang say khướt nỗi buồn
nỗi nhớ liêu xiêu
hàng cây tiêu điều, xơ xác…
Em thoát khỏi cuộc đời anh
như thoát khỏi cơn mê thời thiếu nữ
Ngày dài
như nỗi buồn của chữ
không thể hiện nổi mình.
Đọc thơ anh vào một chiều nắng gắt
những con chữ đổ mồ hôi…
em uống phải thơ là uống phải thứ rượu tình
suốt đời không tỉnh nổi!
như chú ếch nằm dài khắc khoải một cơn mê.
Tiếng cười nghe như những mảnh ly đang vỡ.

Đâu phải cứ phải mang hương thiền thì bài thơ mới sống dai, mới vào cõi “vô ngôn”. Trong những vần thơ hay thì sức sống trường tồn như cõi thiền. Bài thơ thường là những nụ hoa cô độc.
                                              (Còn tiếp)