Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

LUẬN VỀ GIANG HỒ TỬU - HỒ NGẠC NGỮ

LUẬN VỀ GIANG HỒ TỬU

Cái máu giang hồ không đo đếm
Đứng lên ngồi xuống nhẹ như bông
Khi say ngất ngưởng trong trời đất
Tỉnh dậy buồn như chiếc ly không

Cái máu giang hồ đi không mỏi
Cả và thiên hạ vốn anh em
Xem cõi trần gian như mây nổi
Lại sợ chết chìm đôi mắt đen

Ư hư ! Trong máu giang hồ tửu
Có bao nhiêu rượu bấy nhiêu tình
Có ngày nhếch nhác, ngày sang cả
Chỉ nhắc rượu ngon nấu quê mình

Ta cũng giang hồ nhưng không rượu
Ngồi nghe bằng hữu luận chiêm bao
Bàn bên có tiếng cười khúc khích
Uống đi rồi nói mới anh hào !

05.01.2013

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

CÁI ĐUÔI - CAO THOẠI CHÂU

Hồi còn đi dạy học tất nhiên tôi phải dạy theo sách giáo khoa vì đó là pháp lệnh, điều này không thắc mắc gì bởi có câu “ăn cơm chúa múa tối ngày”, lẽ thường ở đâu cũng vậy thôi. Nhưng dạy môn lịch sử nên tôi không khỏi thắc mắc về “Nó” mỗi khi truyền lại cho học sinh lớp 10 về nguồn gốc con người và các thời kỳ phát triển của xã hội loài người từ khởi thủy đến thời kỳ cuối hết của loài người còn đang nằm ở tương lai. Cũng theo đó, loài người do một nhóm vượn thông minh tiến hóa mà thành.

     Chả là như thế này, vào một lúc nào đó cách nay hàng triệu triệu năm có một cuộc biến đổi khí hậu trên trái đất, loài vượn thông minh vốn sống bầy đàn trên ngọn cây, thức ăn khó kiếm dần mà các cố tổ của tôi cũng đa tình đáo để nên ngày càng đông bèn phải xuống đất sinh sống. Khi hạ thổ, có ngay sự phân công của cơ thể, thân đứng thẳng lên, hai chi trước chuyển công năng từ di chuyển đu đưa sang cầm nắm tức là tay bây giờ.

     Cái làm tôi thắc mắc là vì sao “nó” lại biến mất, đó là cái đuôi của vượn. Suy nghĩ thấy không lý giải được sự biến đi của “nó”, vì giả sử con người ngày nay mà còn cái đuôi thì cũng chẳng dị hợm hay vướng víu chi, ít ra “nó” cũng có thể làm hai việc. Một là đuổi ruồi muỗi, hai là vẫy vẫy khi vui mừng như gặp người quyền thế hoặc gặp người tình để thay cho “những lời muốn nói” mà có khi bị gọi là nịnh nọt chi đó. Người Mãn Châu khi vào chiếm Trung Hoa lập ra triều Mãn Thanh đã đem vào một kiểu tóc cho đàn ông. Gọt nửa đầu phía trước, tóc còn lại vuốt và bện thành cái đuôi sam lủng lẳng sau lưng, nhìn miết thấy cũng hay hay, có sao đâu với cái đuôi này!

     Bây giờ đã là thời hiện đại và nghe báo động sẽ có thể có một biến đổi khí hậu của trái đất, tôi cứ sờ sợ có một quy trình ngược và con người bỗng mọc đuôi trở lại. Nhưng lo là lo vậy thôi, đang có đuôi thì đuôi rụng hay đang không có đuôi mà mọc đuôi thì chắc cũng chỉ bâng khuâng một thời rời lại cũng quen đi khi bài học cách trí chỉnh sửa một tí rằng thân thể người ta có 4 phần : đầu, mình, chân tay và đuôi! Trong trường hợp ấy sẽ lại có cô gái làm thơ "Em là gái trời bắt...có đuôi" nghe cũng êm tai!

     Nói vậy thôi chứ bao nhiêu triệu năm nay con người chẳng vẫn từng mơ mình có một cái đuôi vừa để “thay lời muốn nói” vừa làm đồ trang sức cho một thời trang tiên tiến đó sao? Là những cô gái, những thiếu phụ, đang khi không bỗng nghe có cái gì lạ sau lưng, nhìn lại thấy có những cái đuôi và chọn lấy một cái cho riêng mình- cái đuôi không gắn vào đít người nữa mà gắn vào cuộc đời người ấy với những công dụng cực kỳ thân thiết! Là đàn ông nên tôi không hiểu được nếu sau lưng không có một cái đuôi nào thì người nữ sẽ cô đơn ra sao. Tôi chỉ biết, với tư cách đàn ông, hậu duệ đực của các cụ vượn cố tổ, tôi cũng là một cái đuôi của hậu duệ cái của các cụ cố. Thích thú, hạnh phúc nhưng không phải không có sự khổ xảy ra cho con người khi nó là cái đuôi của người khác và một cái đuôi khác tháp vào đời mình.

      Mái tóc đen mượt vừa đẹp vừa là truyền thống sinh học tổ tiên truyền lại bỗng nó thành tóc đầu đinh vàng hoe trông cái mặt ngố ngốc vô cùng. Nhưng đó là…cái tân kỳ, thời trang tiên tiến và thế là tự nguyện làm cái đuôi cho sự dị hợm đó! Quần áo đề che thân sao cho vừa gợi mỹ cảm vừa khoe được những đường cong, khoe được sự nở nang xuân sắc, một lời Hello của tình yêu. Nhưng bỗng đâu vải vóc co cụm lại để “tháo chạy tán loạn” như cảnh tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn cuối tháng 4-1975 để trơ ra những “khối vật chất” cũng chỉ là…gạch ngói, bê tông đã mất linh hồn! Queue de cheval của các cô gái thuở nào đẹp đến hút hồn

      Tôi nghĩ đến một nhà thơ khả kính là Tản Đà. Vào buổi giao thời văn chương cũ mới những thập kỷ đầu thế kỷ 20, nhà thơ khả kính khả ái cũng bộc lộ sự cố gắng và tài năng mà tôi rất phục. Một mặt Tản Đà dịch thơ Đường ra lục bát trác tuyệt không có ai bằng kể cho đến nay. “Các trung đế tử kim hà tại/ Hạm ngoại trường giang không tự lưu” thành “Đế vương giờ ở nơi đâu/ Ngoài hiên sông lớn vẫn sầu lặng trôi”, nhà thơ đã làm tôi chết lặng người khi đọc nó. Mặt khác, Tản Đà ra vỉa hè cho chữ thư pháp, coi bói toán mưu sinh. Cụ đã không cần đến “Nó”, không làm cái đuôi của trào lưu văn chương mới thuở đó.

      Bây giờ, nhiều những trào lưu mới đang tái lập một tình cảnh như thời Tản Đà. Tản Đà không chết về thi ca nhưng nay có những “Tản Đà” hình như có thể sắp chết khi làm cái đuôi và cố chạy theo gắn vào cái mới đến. Tôi phỏng đoán thế, và hy vọng là mình chỉ đoán mò thôi. Là tôi nghĩ, cái đuôi nào cũng gắn vào đít, khác với cái đuôi sam trên đầu vua quan sĩ thứ nhà Thanh bên Trung Hoa ngày trước. Bùi Giáng viết “Hươu con từ đó lại bên người/ Kể lể lông vàng rụng hết đuôi/ Bốn cẳng từ nay xin bó lại/ Quỳ chân trên gối khóc không lời”. Về mặt nhân sinh, được là cái đuôi của chính mình có lẽ là tránh khỏi sự vong thân, tha hóa?

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU


Kỳ IX :
                                                                 CÁNH ĐỒNG BỎ HÓA

Làng Tân Thanh quê tôi tựa vào vách núi trông ra biển. Ngày nhỏ tôi vẫn theo các cậu lên lưng núi dọn rẫy, được ăn tại chỗ những củ khoai lùi thơm lừng. Cứ sau vài ba năm, rẫy trồng lại được bỏ hóa để cây rừng, cỏ dại lên ngút ngàn, đàn trâu thả đi lung…Mấy năm sau độ màu mỡ của đất tự nhiên được phục hồi.
Lối canh tác cổ truyền ấy về sau bị cho là lạc hậu. Người sinh ngày một đông nhưng đất không nở thêm được. Trên thế giới, hàng loạt thứ phân bón hóa học, thuốc kích thích được phát minh; các cuộc “cách mạng xanh” lan truyền, đưa năng suất cây trồng tăng vọt, đối phó với nạn thiếu đói. Nhưng đến một ngày kia, như trên vùng cao nguyên bazan màu mỡ mà tôi đang sống, cây trái bỗng nhiễm bệnh, biến hình. Cây cải bắp thảo bỗng mọc rễ lên đầu; Chuỗi cà phê nẩy quả to đùng nhưng xát ra, hạt nhân lại rất nhỏ…
                   Võ Chân Cửu
                   Nhớ núi Tượng
          `        Thuở nhỏ thèm trèo lên tới ngọn
                   Bắt bóng trăng xanh ngủ trốn ngày
                   Bây giờ đủ sức thì thôi đã
                   Bên trời xa cách mấy vùng mây.
                                                                                   (Thi tập Đại Mộng 1973)
Tứ thơ qua cách diễn tả rất thật thà, bình dị tôi làm cách 40 năm xa, hôm nay chẳng hiểu vì sao lại được một số tuyển tập và các trang mạng chọn đăng lại. Chợt nghĩ ra là hồn thơ trang viết của mỗi người có khi cũng cần được bỏ hóa. Trở về theo cung cách của thiên nhiên phải chăng là xu thế của con người khi trải qua nhiều đỉnh văn minh. Trong dòng chảy cuộc sống, cánh đồng thơ của mỗi người có khi được (hoặc “bị”) bỏ hóa theo nhiều kiểu.
‘Nhát búa cuộc đời…
Lần nào về miền Tây, tôi cũng kiếm cách về Cao Lãnh để thăm và ở lại chơi với Hạc Thành Hoa, bạn thơ vong niên ở thành phố Cao Lãnh. Anh sinh năm 1938, trước sau vẫn sống cuộc đời bình dị với nghề dạy học. Ngày xưa ở thị xã Sa Đéc, sau ’75 về tỉnh lỵ mới Cao Lãnh, anh vẫn chưa biết đi xe gắn máy. Tập thơ “Trong Nỗi Buồn Vàng” do Nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1971, tiếp đến là “Một Mình Như Cánh Lá” được Nhà xuất bản Giao Điểm in năm 1973 đều cho thấy tác giả có một nội lực thơ thâm hậu.
·        Hạc Thành Hoa
Trong nỗi buồn vàng:
Mây về sau  những cơn mưa
Nắng soi đỉnh ngọn cây thưa gần tàn
Nghe trời nhớ gió mênh mang
Buồn ôm kín  cả không gian vào lòng
Nay còn ntrên nẻo đường không
Gót nai rụng tiếng nchiều trong sương mù

Mai về từ bãi dâu vàng
Dấu chân biển động mưa tràn bến sông
Gió tha hương cánh phiêu bồng
Bóng trăng suông lại theo dòng nước xuôi
Đành như sương khói bên người
Nắng vàng hoa cúc một thời yêu em.
                                                                 (1964)
Như nhiều cây bút khác ở miền Nam, sau ’75 anh đã tự “bỏ hóa” tâm hồn thơ mình. Từng đào tạo nhiều lứa học sinh thành tài, về mặt xã hội, thầy giáo Nguyễn Đường Thai trở thành “Nhà giáo ưu tú”, nhưng về đường văn chương thì “nhà thơ” Hạc Thành Hoa thì gần như bị cố tình quên. Gần 10 năm sau ngày “mở cửa”, vào 1995, Hạc Thành Hoa cho in tập thơ thứ 3: Phía Sau Một Vầng Trăng. Đa phần trong tập là những bài thơ làm trước 1975 như một “hoài niệm”. Đôi bài ghi thời gian mới, thì Hạc Thành Hoa như gửi nỗi ngậm ngùi:
                   Chiếc thuyền
                   Có chiếc thuyền nằm im trong tủ kiếng
                   Buồm giương cao chờ đợi buổi ra khơi
                   Giấc mơ đó xa vời như cổ tích
                   Nửa đêm ngày thương nhớ biển không nguôi
                                                                                 (1993)
Tập thơ in ra, gần như chỉ để chuyền tay gửi tặng người thân và bằng hữu. Không một tạp chí văn chương chính thức nào nhắc đến. Hình như đó là số phận dành cho những cây bút sang tác trước 1975 còn ở lại trong nước. Hôm nay, Hạc Thành Hoa tiếp tục trải long mình. Ngôn ngữ anh vẫn hiền lành nhưng tâm hồn đầy ngịch cảnh:
Giấc Mơ Của Đá
Không còn tảng đá nào được yên thân
Bởi tiếng búa và tiếng đục vang lên vang lên
Ngay dưới chân nàng
Đang nuôi một giấc mơ
Đến thành đá
Từ khi có đá
Dù trơ trọi một mình
Vẫn đứng cho bầu trời bớt trống
Nàng tối sầm những khi trời chuyển mưa
Lại xanh ngay khi trời vừa tạnh
Nếu một ngày nàng âm thầm bước xuống
Thì cả bầu trời trống trải vô cùng
Giấc mơ cũng không còn nữa
Nàng đã thật sự chết ngay khi vừa sống…
Khi tôi rời thị xã ra đi
Thì nàng đã hóa đá
Hôm nay
Dưới mầu trời xanh ngày đó
Không biết nàng có còn là đá
Những nhát búa cuộc đời và chiếc đục thời gian
Có để cho nàng được yên
Với giấc mơ của đá.

...Chiếc đục thời gian”
Phải chăng thơ ca bị phủ nhận bằng nhiều cách. Phổ biến nhất với các nhà nắm giữ phương tiện truyền thông là không đả động đến nó nữa. Hay là bởi ngôn ngữ, nhịp điệu thơ bất lực trong thể hiện nhịp điệu cuộc sinh tồn ? Người ta mong đợi những luồng khí mới. Những âm thanh náo loạn đã cất lên để tạo sự chú ý. Tiêu biểu cho xu hướng này, các nhà thơ từng chủ trương “tân hình thức” ở nước ngoài đã giới thiệu tập của “Các Nhà Thơ Đương Đại”. Còn ở trong nước, tiêu biểu nhất là Tuyển tập “Bông & Giấy” của “30 tác giả hôm nay” xuất bản giữa năm 2010. Các nhà thơ mới cố tình khẳng định cái tôi “đương đại” hoặc “hôm nay” như một nổ lực phủ nhận giá trị các dòng thơ cũ và những người đi trước. Nhưng điều đáng lưu tâm là trong số những tác giả, tác phẩm được công kênh là “hôm nay” lại có khá nhiều những nhà thơ và các bài thơ của trước 1975, như Lê Văn Ngăn, Từ Hoài Tấn,Nguyễn Đạt..; đáng tiếc là những người làm sách đã không ghi năm tháng sang tác dưới những bài thơ cũ in lại. Cũ và mới, hóa ra chỉ là một cách nói khi xưng tụng. Vẻ đẹp của nghệ thuật thường không có biên giới, vậy sao lại tự hạn hẹp nó, hỡi các nhà thơ ?

Nên để cho cánh đồng thơ tự bỏ hóa !

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

HÌNH NHƯ HUẾ ĐÃ - NGUYỄN MIÊN THẢO


HÌNH NHƯ HUẾ ĐÃ

Xin hôn hơi thở của em
Để thêm một chút ấm êm cuộc đời
Từ muôn vạn kiếp trước rồi
Nụ hôn vẫn mãi xanh tươi lạ thường
Hôn em hôn đến vô cùng
Cho nên cứ ngở chưa từng hôn nhau
Hôn em sợi tóc rối nhàu
Anh xin gánh hết nỗi sầu thế gian

Hôn em hơi thở mong manh
Hình như Huế đã tan tành,chết chưa!

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

VỘI VÃ BUỒN BUỔI SÁNG BỎ ĐI NHANH - CAO THOẠI CHÂU

VỘI VÃ BUỒN BUỔI SÁNG BỎ ĐI NHANH

Núi cũng buồn ngơ ngác nhớ sương giăng
Bảo sao anh không nhớ em giữa đời sầu khổ
Vắng sương sớm núi chẳng là gì nữa
Anh một mình chẳng thấy là anh

Vắng em là vắng sự yên bình
Sống tất cả chỉ còn như mô phỏng
Con cò đứng trên bờ hoang bãi vắng
Mô phỏng một cành nhánh cây khô

Anh vẫn đi giữa những hoàng hôn
Cánh cửa ngày dần dần khép lại
Trước anh là một vùng bóng tối
Không có đèn khó nhận ra em

Sông còn buồn sao anh vui được
Dẫu sao sông cũng đầy những nước
Còn cá tôm rong rêu cành mục
Nuột nà về những sỏi trắng phau phau

Sông biết đau lòng quặn lên từng khúc
Bên này bồi lại lở bên kia
Anh bị sói mòn lấy chi bù đắp
Cỏ quanh thân thôi cũng mượt thân sầu

Tôm cá sống bầy đàn có đâu đơn chiếc
Khi buồn có thể hớp trăng tan
Đầu đội trời chân anh đạp đất
Đất hẹp dần không đủ chỗ lang thang

Sáng vội vã ghi vào tờ lịch
Vội vã buồn vội vã giấu buồn đi
Chiếc kim đồng hồ đi vội vã
Bỏ lại anh đứng đấy tự bao giờ
19-4-2013
 
Nguồn : caothoaichau.blogspot.com
 

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

MỘT BÔNG HỒNG NỞ GIỮA TIM ANH - PHẠM CAO HOÀNG

em yêu dấu, sáng nay khi thức dậy
anh vươn vai nghe chim hót bên ngoài
trong tim anh có chút gì rộn rã
có chút gì nhè nhẹ như mây bay

vâng, anh sẽ khoác áo mưa, xuống phố
uống cốc cà phê thơm ngát khói hòa bình
để anh thấy đất trời kia rực rỡ
nỗi vui mừng đợi suốt mấy mươi năm

em yêu dấu, đây là lần thứ nhất
trong đời mình anh thấy quá hân hoan
anh muốn nói với muôn người trên mặt đất
rằng nơi đây sắp hết điêu tàn

và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng
không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm
ba giờ sáng xuống Ngã Tư Quốc Tế
ăn một tô mì thơm ngát bình yên

có thể nào sáng mai trên thành phố cũ
người ta bảo nhau: hôm nay hòa bình
người ta dắt nhau trên đường trẩy hội
riêng một bông hồng nở giữa tim anh

em yêu dấu, mộng có khi là thực
đợi lâu rồi, cũng có lúc, phải không em?
bóng hòa bình dẫu gần hay xa lắc
cũng tin rằng sẽ có, nhé em
                                                    Phạm Cao Hoàng
                                                                                          1 9 7 3

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

SÂU NẶNG - HOÀNG LỘC

sâu nặng

http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSO9m7sy-j8ib6unrp5fEDvkFydZLCfRFrdYPZzKc7lrIOkoTOQ
 
con đường ấy dẫu mưa lầy nắng bụi
cũng vai tình một thuở gánh gồng qua
nhiều lúc biết em chẳng cần nhớ nữa
mỗi bước thầm cũng luống tuổi trong ta

những cớ sự bất ngờ như gió chướng
thổi ngày xưa đến lạc nấm xiêu mồ
thôi cứ kể như một lần trễ muộn
em không đành mà cứ phải buông tay

ta sống đủ với ân tình nhân nghĩa
là ơn em - (ơn của cả bao người)
ngày sắp cạn khi mây còn tứ xứ
chừng nỗi niềm đã không thể nguôi ngoai

cứ quanh quẩn ở cuối trời gió nắng
nghe se lòng chén rượu buổi ly hương
em rất bạc sao tình kia sâu nặng
vẫn theo ta và thủy tận sơn cùng    

4-13


hoàng lộc

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

GIỮA HOÀNG HÔN XƯA - ĐỖ NGHÊ

GIỮA HOÀNG HÔN XƯA

http://www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/DN.jpg
 
Còn lại gì không
Rêu phong dấu giày
Nước hồ quanh quẩn
Mây đồi quên bay

Ta về lối cũ
Giữa hoàng hôn xưa
Lâu đài thành quách
Tàn phai đâu ngờ

Nhớ em qua đó
Mà hồn như mơ
Mây trời phiêu lãng
Ngàn năm hững hờ

Ta về lối cũ
Nghe lòng lạnh băng
Thiếu em hoàng hậu
Ngai vàng như không…

ĐỖ NGHÊ