Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

MẶT TIẾN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU


Nhà thơ Võ Chân Cữu, Du Tử Lê, Đặng Phú Phong, Nguyễn Lương Vỵ ở Mỹ                                                    
 Kỳ VIII

                                                   Suối Thác Chơi Vơi
Mưa về, khuất trên  những núi đồi chơi vơi sẽ hiện ra những nguồn thác nhỏ. Nơi ầm ì xối xả, chỗ róc rách, thầm thì.
Bạn tôi ví nó như một bài thơ ngắn. - Hay quá đi chứ !
Nhưng chữ “ngắn” có khi lại gây ra thắc mắc. “Văn hay chẳng nệ ngắn dài…”. Người hay dùng lối ẩn dụ cách nay chưa lâu vẫn thường kết thúc thư viết bằng câu “giấy ngắn, tình dài”. Tận thời Đường ở Trung Quốc, Giả Đảo từng tự bạch bằng hai câu thơ ngũ ngôn, về sau rất nổi tiếng :
                            “Nhị cú tam niên đắc
                              Nhất ngâm song lệ ưu”
Người đi trước đã dịch, theo thể lục bát :
                              Hai câu làm mất ba năm
                        Một ngâm lả chả đôi dòng lệ rơi
Nếu xem đó là một bài thơ ngắn, thì rõ ràng hình thức này đã có từ ngàn xưa. Kể cả “tiền thân” của thơ là những lời ca dao, thì thơ ngắn không phải là cái gì mới. Nhưng nhiều người hôm nay lại huênh hoang múa bút, làm như đó là một mốt thời thượng.
Hình thức và thời gian
Đã là nghệ thuật thì ngoài phạm trù chung, loại hình nào cũng đều có “quy luật” riêng của nó. Gọi là một bài thơ, thì ít nhất phải có từ 2 câu trở lên. Nếu chỉ một câu, thì nhất định chưa phải là “bài”, mà chỉ câu, hay một tứ thơ hay, được trích ra từ đâu đó. Vậy, “Ngắn” là bao nhiêu câu ? “Dài” : đến chừng nào ? Dài đến trường thiên, trường ca, hay câu chuyện kể bằng thơ ? Có lẽ nên để từng người cảm nhận, không cần phải tốn công phân định rạch ròi.
Thi sĩ Nguyên Sa là ông hoàng thơ tình ở Miền Nam trước ’75. Với nhiều người, bài thơ ngắn nhất theo thể lục bát của ông là :
Vết sâu
Khi em mở cửa bước vào
Hồng non trên má hồng đào trên môi
Những ngày âu yếm đã phai
Sao mang trả lại một thời oan khiên
Mang anh trả lại ưu phiền
Chỗ răng hạnh phúc vẫn còn vết sâu…
Ở thể tự do, là bài :
Năm ngón tay
Năm ngón tay
Trên bàn tay năm ngón
Có ngón dài, ngón ngắn
Có ngón chỉ đường đi
Có ngón tay đeo  nhẫn
Ngón tay tô môi
Ngón tay đánh phấn
Ngón tay chải đầu
Ngón tay đếm tiền
Ngón tay lái xe
Ngón tay thử coóc-sê
Ngón tay cài khuy áo

Em còn ngón tay nào ?
Để giữ lấy tay anh ?
Nhưng cũng trong những năm ’60, Nguyên Sa lại cho một bài thơ có nhiều khổ (dưới đây) là “ngắn :
Bài Thơ Ngắn

Anh làm một bài thơ ngắn
Riêng cho em
Để xóa một câu chuyện tầm thường:
Những đời người đã cũ!

Vì tất cả những gì nguyên lành
Đều xây trên một chút gì đổ vỡ

Nên anh chỉ bảo em
Những câu hỏi
Tất cả tại sao
Vẫn có một vì sao lòng mình không đến được

Và những câu hỏi
Tất cả tại ai
Vẫn chỉ có nghĩa là tan vỡ!...

Nên anh chỉ làm bài thơ rất ngắn
Bài thơ rất nhỏ
Của đôi mắt khẩn cầu:
Em đừng rút bàn tay em
Ra khỏi bàn tay anh
Như người ta rót hết nước chè
Để lại chiếc ấm không trong một lần ấm rỏ!

Dù quanh chúng mình chỉ là những hàng rào đố kỵ
Giữa một đêm không trăng
Giữa một lòng chiều không đáy
Em đừng khóc làm gì
Cho nước mắt vu vơ
Dù đôi tay buông xuống
Chúng mình vẫn tin tưởng
Chúng mình vẫn say sưa
Chúng mình vẫn nhìn vào mắt nhau
Để mở một chân trời rất rộng...

Rõ ràng “ngắn”, hay “dài” cũng bởi vì “ý tại ngôn ngoại”.
Nếu trở lại với quy định về số lượng câu, thì từ giữa thập niên ’50, Quách Thoại (mất tháng 11-1957) đã làm một bài thơ ngắn rất nổi tiếng:
 Thược dược
Đứng im ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm màu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lay cúi đầu.

Nhiều người nói rằng không gian và thời gian mà Quách Thoại, Nguyên Sa đã sống và viết, thế giới vẫn còn ngăn cách. Dần dà, người ta cảm thấy hình như các tinh cầu quay nhanh hơn. Cõi riêng tư của mỗi con người có được là ít lắm. Thơ tứ tuyệt hiển nhiên là ngắn. Nhưng với nhà thơ, thì giây phút  “nhập thần” còn ngắn ngủi hơn. Như Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng) vào cuối thập niên ’60 đã làm một bài 3 câu :
   Sáng mênh mông
   Thơ thẩn trong vườn hồng
   Ồ bông, ồ mộng, ồ không
                         
Còn tôi, vào đầu thập niên ’70 :
Dấu Sương Cao Nguyên
Trăng xanh quá độ trăng tàn
Sáng chơi sương trắng trên ngàn
Lối về đất rộng mang mang.
                      (Võ Chân Cửu, thi tập Tinh Sương, 1972)
Câu thơ Linh hồn ?
Xin để ý câu kết những bài thơ ngắn của các nhà thơ trước ’75. Câu thơ như thốt lên một điều mới vụt hiện, “chỉ một sát na mà nhìn ra ba ngàn cõi”. Nhiều người nói đó là do ảnh hưởng từ triết học Thiền tông. Nhưng chịu Âm hưởng của Thiền tông nhất, phải nói đến thể thơ Hai Ku của Nhật Bản. Nhưng ngay cả Basho, một trong những thiền sư thi sĩ đầu tiên định hình cho thể thơ này hồi thế kỷ 17, câu kết của bài thơ lại không có sự lắng đọng của nội tâm, mà hài hòa, chia sẻ ra với muôn cảnh vật. Các bài Hai ku rất nổi tiếng của Basho :
Tịch liêu
Xuyên vào đá
Tiếng ve kêu.
Hoặc là
Trên cành khô
Quạ kêu
Chiều thu
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ đa âm. Một bài thơ Hai Ku chỉ trong vòng 17 âm tiết, nên các nhà thơ kiệm lời ? Tại Việt Nam, năm 2007 Lãnh sự quán Nhật bản phối hợp với Báo Tuổi Trẻ có phát động một cuộc thi sáng tác thơ Hai Ku bằng ngôn ngữ Việt hoặc Nhật. Cuộc chơi hào hứng, nhưng một số bài thơ đoạt giải lại ít được người yêu thơ xem chưa hẳn là tuyệt tác. Đáng ghi nhận là câu kết, hình như theo cách của người Nhật. Như bài đoạt giải nhất :
                         Đứa Trẻ
Xó chợ
Chiếc lon trắng
Hạnh của mồ côi
                  (Của Nguyễn Thánh Ngã ở Lâm Đồng)
Bài đoạt giải  nhì:
 Trăng khuyết treo trời đêm
Sợi mây trắng choàng qua đỉnh núi
Dòng sữa chảy êm đềm
                             (Của Trần Xuân Thái ở Đắc Lắc)
“Trích ghi” như bước thành thơ ?
Trong tóhế giới phẳng hôm  nay, “thơ ngắn” ra sao ? Đây đó trên các trang mạng, người ta vẫn truyền naynhau những bài thơ ngắn. một vị trí đáng lưu ý trong “chiếu” này, phải nhắc đến nhà thơ Dương Tường ở Hà Nội. Ông sinh năm 1932, là dịch giả của hơn 50 đầu sách đã xuất bản trước 2005. Thơ ông, những bài “ngắn” rất kén người đọc, vì từ ngôn ngữ đến tiết điệu trong câu đều được hình thành theo phong cách mới. Như bài :
Chợt thu 1
Một thoáng gợn tên là heo may
Một hương cây tên là kỷ niệm
Một góc phố tên là hò hẹn
Một nỗi nhớ tên là không tên

Lần về Quảng Ngãi mới đây, nhân bàn chuyện “thơ ngắn”, tôi gặp được những điều thú vị. Tác giả Nguyễn Trung Hiếu, một hội viên Hội Nhà văn VN trong năm 2012 xuất bản tập “Trước tháng tư bảy lăm” mang nhãn Nhà xuất bản Văn Học, ghi thể loại là “Trích Ghi”, vì dưới mỗi bài đều ghi ngày tháng làm. Đo thực chất là những bài thơ ngắn. Như bài:
 Không ca mổ nào được thiếu bí thư chi bộ
Tuy ông Trần Bình học lực lớp năm
Phải có mặt và ký vào biên bản
Đúng thủ tục rồi, các bác sĩ mới yên tâm
                                         (Ngày 20-7-1968)
Tác giả Đinh Tấn Phước vốn ở thị thành miền Trung, làm thơ từ 1965. Sau tập thơ Gió Mùa, rồi Chạm Bóng, nay ông xuất bản tập “N” Bài Thơ Ngắn, cũng mang nhãn NXB Văn Học gồm 101 bài thơ ba câu. “Nội dung có thể nằm hoặc không ở những câu chữ”.Thơ ông mang âm hưởng Haiku. Riêng câu kết lại kết hợp sự lóe sáng của “lóe sáng” trong cõi tâm linh và sự “sẻ chia” của kiếp người nặng nợ:
                Bài 27
tôi cánh chim
bay
không để lại vết gì

               Bài 19

mang câu thơ
đi qua một câu thơ
chiều sa mạc
Có thể chưa thành “bài”, nhưng thơ “ngắn” vẫn phải có hơi hướm của thơ. Trên các triền cao, rừng vắng, những dòng nước vẫn tìm đường ra dòng sông thơ, về nơi biển cả-nghệ thuật.
                                                                                        (Còn tiếp)



Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

MẤT TÍCH - NGUYỄN MIÊN THẢO

Mất tích

Nếu ngày sau mình không còn gặp lại
Thì em ơi thanh thản để yêu người
Anh có đi khắp ba nghìn thế giới
Cũng không còn một cõi để rong chơi

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

TÌNH DUYÊN TÔI - TỪ HOÀI TẤN

tình duyên tôi



Yêu em một ngày
Trong hầm than cũ thời niên thiếu
Một ngày của ngày xưa
Bằng cả quãng đời sau đó
Yêu em một ngày
Sớm mai rồi em biến mất
Tôi trơ đôi tay không
Những năm còn lại làm sao tìm được
Một hôm tôi gặp em
Trong quán rượu tháng năm
Tôi nói yêu em
Như ngày xưa yêu em một ngày
Em nhìn tôi lạ lùng
Rồi quay lưng đi thẳng
Tôi lầm bầm ôi yêu em có một ngày
Dẫu một ngày mà bằng cả quãng đời sau đó
Những ngày sau cùng tôi gặp em luôn
Trên khắp nẻo đường trên khắp ngõ hẻm
Gặp em giữa đêm khuya
Hay gặp em giữa trưa nồng
Hoặc chiều vừa xế bóng
Tôi cố nhìn hoài không nhận được ra em
Như ngày xưa đã yêu em một ngày
Ôi dẫu yêu em có một ngày
Mà bằng cả quãng đời sau đó
                                               (Huế 1967)
                                                    TỪ HOÀI TẤN

Nguồn : Tập san VĂN - số 87 ngày 01 tháng 8 năm 1967

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

NHÀ THƠ HOÀI KHANH BỊ TAI BIẾN

Thông báo khẩn: nhà thơ Hoài Khanh bị tai biến

Chiều nay vừa nhận được tin nhắn từ bạn thơ Uyên Hà Đà Nẵng thông báo :
Nhà thơ Hoài Khanh bị tai biến hiện nằm  cấp cứu tại Bệnh Viện Hoàn Mỹ đường Nguyễn Văn Linh TP Đà Nẵng.
Bạn văn, thân hữu quan tâm có thể đến thăm hỏi.
Hoặc liên hệ với Uyên Hà - 0909908021 nếu muốn biết thêm thông tin.

Cầu chúc nhà thơ sớm qua khỏi

Vài dòng tiểu sử:

Hoài Khanh tên thật Võ Văn Quế . Sinh năm1934 tại phường Đức Nghĩa, Phan Thiết, Bình Thuận. Hiện trú tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, Đồng Nai. Trước 1975 làm báo, có thời gian phụ trách tòa soạn tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ và trông coi nhà xuất bản Ca Dao tại Sài Gòn .
Sau 1975 lui về cuốc đất trồng khoai ở Biên Hòa cho tới nay.

Đã in :
- Dâng Rừng (thơ, 1957)
- Thân Phận (thơ, 1962)
- Lục Bát (thơ, 1968)
- Gió Bấc, Trẻ Nhỏ Đoá Hồng và Dế (thơ, 1970)
- Trí Nhớ  Hoang Vu và Khói (tập truyện, 1970)
- Hương Sắc Mong Manh (thơ, nxb Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ, 2006)
- Buông Xả Thanh Thản, Đối Thoại Triết học (dịch Martin Heidegger, nxb Văn hoá, 2007)

Sẽ in :

- Phương Trời Lưu Viễn (thơ)
- Lang Thang Vào Thế Giới Nghệ Thuật (tập 1 )
- Lang Thang Vào Thế Giới Âm Nhạc Cổ Điển (tập1)
                                  
Ngồi lại bên cầu

Người em gái trở về đây một bận
Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ
Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
Mầu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa

Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá
Và cô đơn đã ghi dấu trên tay
Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

(trích từ tập thơ Thân Phận )

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

ĐÊM MƯA THIẾU MỘT LỜI RU - TRẦM MẶC

Đêm nay về lời ru không còn nữa
Giáo án nhạt nhòa, trang vở trắng chờ ai
Dòng mực xanh thở dài, thôi mai nhé
ru tình buồn đêm vắng, tiếng gà khuya

Mưa đầu mùa trên vùng cao đất đỏ
đêm dài qua nghe nhớ quá anh ơi!
Nơi xa ấy có lúc nào anh nghĩ
phố thị buồn ai gõ bước chân khuya

Ngủ ngoan em, lời ai còn vang mãi
quên nhọc nhằn, thôi trầm tưởng nghe em
Anh xa rồi, còn ai ru câu hát
mỗi đêm về cho giấc ngủ em ngoan

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

KHÚC LY TAO - HOÀNG THỊ THIỀU ANH

KHÚC LY TAO

L

Ngày nắng hạ xênh xang ngàn nỗi nhớ
Dấu môi hồng ru những bước chân đi
Miền quên lãng ẩn sâu chùm ký ức
Phai phôi rồi khách lữ thứ bơ vơ

Nơi quạnh quẽ tôi ngồi ru mình ngủ
Giai khúc buồn dìu dặt nỗi riêng tây
Chút tịch lặng nhen tình tôi vụng dại
Nghe trong lòng rực rở  những tàn phai

Chiều tím mộng về qua nơi cuối bãi
Một nhành hoa trinh trắng giữa hôn hoàng
Đất thần kinh càn khôn hoang vắng
Chợt khởi nguyên một cõi sắc vô thường

Tôi thấy tôi hòa quyện với thời gian
Xanh rười rượi khúc ly tao vĩnh cữu
Tôi đi giữa vui buồn muôn năm cũ
Vẫn nhận ra anh trong thinh lặng cuộc đời
2007

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU



 Hai nhà thơ Võ Chân Cữu và Nguyễn Lương Vỵ ở Mỹ                                                   

 Kỳ VII:

                               Mạch Ngầm, Nước Chảy Mây trôi…
Nếu đời người được ví như một dòng sông thì nghệ thuật chính là những nguồn mạch nước. Một lần nữa tôi nghiệm ra điều này khi lên các đầu nguồn thủy điện song Đồng Nai.
Hồi 2005 tôi vui sướng khi được cho quá giang từ Quảng Đức (Đak Nông) về Di Linh theo ngõ quốc lộ 28 để về Đà Lạt. Đường mới được tu sửa nhưng rất vắng xe đi. Những khúc ngoặc xuyên rừng chạy ven vách đá; lá quyện màn sương. Sông Đồng Nai khúc thượng nguồn kêu là dòng Đa Dâng (hay Đa Đờn) như một giải lụa mỏ. Một cây cầu bằng bê tông khá dài mới làm đã nối liền địa giới 2 vùng cao nguyên. Nhưng chỉ không lâu sau, đến năm 2009 sông đã bị chặn dòng cho mấy công trình thủy điện lớn. Hồ tích nước chính ở khá xa nhưng nước đầu nguồn đã tràn lên, nhấn chìm hoàn toàn cây cầu ấy. Mé bờ đã tự kéo ra hơn năm, sáu ki-lô-mét…
“Ở đâu” ?
Nước là vật thể không thích bị tù hãm. Cây cối thủy sinh ven những bờ mới; nguồn mạch từ lòng đất tiếp tục dâng trào thành những eo vịnh, con suối mới ngâm hòn đá tảng. Thiên nhiên và con người thật là kỳ diệu, giữa tháng 3 rồi, tôi từ Di Linh theo quốc lộ 28 hơn 30 cây số lên đến cuối xã Đinh Trang Hòa là dừng trước bờ. Con đò máy nho nhỏ nghe tiếng gọi sẽ cập bờ đưa người qua bên kia vùng nước ngập nối con đường cũ, khỏi phải đi vòng hàng mấy chục cây số theo con đường bộ mới mở nữa…
Người làm thơ hay cả một thời kỳ thơ ca nói chung, do số mệnh của lịch sử, không thể tránh khỏi tình trạng bị vây hãm. Sau bài “cánh chuồn chuồn” được tải lên tuần qua, có người trách tôi sao không lý giải rõ vì sao sau ’75 dòng thơ lục bát trong nước như lại ngừng trôi. Đọc các báo trong nước, kể cá những người từng làm thơ trước đó ở Sài Gòn, ngôn ngữ và nhịp điệu lại giống nhau đến thế. Là luyến la luyến lá những mạo từ, liên từ theo âm điệu ca dao phương Bắc. Hay để chứng tỏ “tinh thần dân tộc” và giai cấp “lao động”. Nhiều địa phương đều có thi đàn và các câu lạc bộ thơ lục bát. Nhưng hết thảy đều làm thơ giống nhau,  kể cả việc nhại theo trường thơ Bút Tre. Những nhà thơ lục bát “hàng đầu”, đôi khi bợ nguyên 2 câu ca dao ai cũng thuộc vào bài thơ của mình, nhưng không hều đánh dấu chú thích hoặc in nghiêng, để trong ngoặc kép (ví dụ “ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”) lại vẫn được các nhà phê bình xưng tụng hoặc ngợi ca. Vì sao vậy ?
Tôi không thể, đúng ra là những năm tháng dài đã “không dám” trả lời câu hỏi này. Bạn tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn là người mang tiếng lập dị. Vô quán mà không có bạn thân, anh chỉ ngồi một mình. Nếu ai đó chào, hỏi thăm: “Ông bây giờ ở đâu”, anh sẽ trả lời cụt ngủn :”Việt Nam”, hoặc “Sài Gòn”. Người nghe chán, sẽ tự động rút lui !
Hai chữ “ở đâu ?” trong thời điểm đó và ngay đến tận bây giờ thực ra mang nghĩa là “ở cơ quan nào” ? Thời buổi bấy giờ kiếm việc làm đã khó, được vào làm việc tại một cơ quan Nhà nước lại càng khó hơn !. Trong tinh thần “làm chủ tập thể”, với các văn nghệ sĩ, thì “cái tôi” là thứ cần phải dẹp bỏ trước tiên. Làm việc ở một cơ quan tiếng tăm, nhiều quyền lực thì vinh dự và tài năng càng cao, nên người đời thường lấy tiếng cơ quan giới thiệu thay cho “cái tôi” của mình. Như vậy thì làm sao có được thơ hay, nhất là với thơ lục bát, là thể thơ mà ai làm cũng được ! Ở hải ngoại thì các nhà thơ “đương đại” hết cổ súy cho thể loại cách tân, tân hình thức, lại tham gia vào “trường phái hậu hiện đại”. Các nhà thơ “mới” này sẵn sang “khinh miệt” thể thơ lục bát và những người làm thơ lục bát ! Tôi đã đọc được nhiều “tuyên ngôn” theo xu hướng này.
Cõi “Huyền Âm”
Giữa tháng 3-2013 này tôi vừa nhận được tập thơ “Tám Câu Lục Huyền Âm” của Nguyễn Lương Vỵ từ Mỹ gửi về tặng. Trong lá thư riêng gửi qua Mail, Nguyễn Lương Vỵ cho biết tập thơ thứ 7 này xem như chấm dứt những âm hưởng mà từ “âm” đã đeo đuổi ông kể từ tập thơ đầu tay: “Âm Vang Và Sắc Màu” in ở Sài Gòn, mang nhãn “Nhà xuất bản Trẻ” 1991. Như tên gọi, phần chính của tập thơ mới này 108 bài thơ 6 chữ tám câu mà ông mới làm trong mấy năm gần đây. Trước đó, từ 2010 trong tập thơ Tinh Âm, Nguyễn Lương Vỵ có 3 bài dùng thể thơ 6 chữ khá dài là “Lục Huyền Âm: Vọng Quốc Âm”, “Lục Ngôn: Mỹ Từ Pháp”, và“Lục Ngôn: Ngấm Âm Bùa Hương”. Nhưng ở “Tám Câu Lục Huyền Âm”, như tên gọi, mỗi bài thơ chỉ gói gọn trong 8 câu. Nếu như ở Tinh Âm, các bài thơ  6 chữ theo lối cổ phong dùng từ rất giản dị, gieo vần thoải mái, thì trong “Tám Câu Lục Huyền Âm”, ngay từ bài thơ thay lời tựa, Nguyễn Lương Vỵ đã tự tuân thủ khá nghiêm ngặt về cách gieo vần của các bài thơ cổ xưa:
       Dốc Trăng Cố Xứ
                            (Thay lời tựa)
    Nhớ quá dốc trăng cố xứ
    Hít một hơi ứ thiên cao
    Ruột gan tim phổi ngất ngứ
    Hồn phách trí não phập phào
    Đất trào huyết hoa bức tử
    Gió vút máu đá vụt trào
    Nếp trán vết hằn tâm sự
    Dốc trăng huyết đĩa dầu hao…
      Tinh âm của tập thơ này được tác giả dành để “Tri ân tiền bối Nguyễn Trãi”. Chính Nguyễn Trãi (1380-1442) là người đầu tiên đã xem chữ Nôm là quốc âm, và đem vào thơ để nhắc nhở, cưỡng lại sự quá lệ thuộc vào Hán học và thơ Đường.
·        Nguyễn Trãi
Thủ Vĩ Ngâm (Bài 1)
    Góc thành Nam lều một gian
    No nước uống thiếu cơm ăn
    Con đòi trốn dường ai quyến
    Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn
Riều quan chẳng phải ẩn chẳng phải
    Góc thành Nam lều một gian
                               (Quốc Âm Thi Tập)

    Nguyễn Lương Vỵ dành khá nhiều cảm xúc về bi kịch trong cuộc đời Nguyễn Trãi:
·        Gửi Quốc Âm
VI

     Khóc ai nào biết khóc ai
     Lệ Chi Viên oán ngút dài
     Rưng rức ngần sương cay mắt
     Sững sờ trận gió ù tai
     Sử lịch chìm sâu ngất ngất
     Thời gian trôi giạt phai phai
     Ém trong ngực một tiếng thét
     Khóc ai nào biết khóc ai?!…
Khi đã thấm nỗi đau từ sứ mệnh Nguyễn Trãi, tác giả Tám Câu Lục Huyền Âm hôm nay hình như đã nhận ra sự “trêu ngươi” của lịch sử, đành khuây khỏa trong những điều “vu vơ” như gió thổi, mây trôi giữa đất trời. Nhờ vậy mà tập Lục Ngôn này có những bài khá hay. Như:
   Gửi Bóng hình
   1/
   Mần thơ trao gửi bóng hình
   Chữ hồn nhiên khóc lung linh
   Bóng ơi sao mà cũ rích
   Hình ơi sao mà mới tinh
   Nụ tầm xuân trời chuyển dạ
   Giọt đàn thu đất trở mình
   Tìm nhau đỏ con mắt đá
   Âm khuya gót máu lặng thinh…
Con số 6 gần như không không mang nét linh thiêng như con các số khác (như 1, 3, 7, 9) nhưng khi trở thành một thể thơ “lục ngôn” thuần Việt, nó cho phép các câu thơ biến hình một cách linh động. Như Nguyễn rãi, trong các bài thơ lục ngôn, trừ câu mở đầu chỉ 6 chữ, các câu sau có hể biến hóa rất linh động, có 7,8 chữ. Một số nhà thơ hiện đại, như Thanh Tâm Tuyền trong các bài thơ làm theo thể cổ phong, cũng mở đầu với một câu 6 chữ. Như trong bài “Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Bái Khi Đi Vác Nứa”:
   Tuột té nhào trên hẻm núi
   chết điếng toàn thân trong giây lâu
   mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
   ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu…
Vi diệu mạch ngầm
Trên một trang mạng gần đây, có người tự hào đã tiên phong kết hợp hài hòa những khắt khe của niêm luật từ thể “thất ngôn bát cú” trong thơ Đường và cách gieo vần theo yêu vận, “lối biền ngẫu” trong nhịp lục bát vào thể thơ 6 chữ ! Trong thực tế phong thái ấy đã được nhiều người vận dụng, kể cả tôi, khi bị kềm hãm, bế tắc vì vấn nạn đi tìm cái mới cho thơ ca. Còn Nguyễn Lương Vỵ giờ đây, khi tự trói mình trong niêm luật của “Tám Câu Lục Huyền Âm”, lại nhận ra sự vi diệu của những ngôn từ giản đơn:
     Gửi Một Người-Thơ
     IV
     Ngoài kia mùa đi mấy thuở
    Tang thương núi nhớ mây ngàn
    Chép bài thơ trong trí nhớ
    Gửi niềm đau theo trăng tan
     Một nét lung mềm tím phố
     Một trời nhạc lắng xanh đàn
     Hình như còn neo bóng nhỏ
    Còn đây hương gió ngọc lan…
Dòng nước sau những năm tháng bị vây bủa sẽ tự nó chuyển mình, phải không ?
                                                                                               (Còn nữa)


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

TIẾNG HÁT EM - NGUYỄN MIÊN THẢO





Tiếng hát em vút cao vút cao
căn như sợi dây
treo tòn ten chiếc bánh
anh thèm thuồng
muốn cắn vào em

tiếng hát em vút cao vút cao thêm
anh quằn quại đớn đau
anh hân hoan cuồng nhiệt
anh sấm sét bạo tàn

tiếng hát em vọng về từ sâu thẳm
và bên anh
như có dấu em nằm