|
|
|
1
'Ngậm thẻ qua
sông'
do Hội Nhà văn xuất bản vào đầu năm 2013, ngoài phần thơ còn xen kẽ các
phụ bản, gồm 4 ký họa của Trần Đạt, Nguyễn Tuấn, Bùi Ngọc Tư, tranh bìa cùng
hai bức nữa của Nguyên Lý (Quỳnh Bích Châu), và hai bản phổ nhạc, một của Vũ
Ngọc Giao, một của Châu Đăng Khoa.
Tập thơ mỏng,
trang nhã. Mười chín bài, viết theo thể trường đoản cú (hai bài), lục bát
(chín bài), bảy chữ cổ phong cách tân (bốn bài), tám chữ phá cách liên vận
hay cách vận (bốn bài). Bài sớm nhất có ghi thời điểm sáng tác năm 1972; bài
trễ nhất có thể là đoản thi in đầu tập 'Nghĩ về thơ', hẳn mới được
viết gần đây. Như thế, tuy là tập thơ đầu tay, 'Ngậm thẻ qua sông'
thật ra có hơn bốn chục tuổi đời.
2
Cảm tưởng đầu
tiên, thơ Phù Hư mang phong vị cổ, 'mây ngâm úng nước chiều trời /chuông
xô tháp nhọc nặng lời chia tay/ ở lâu nhà phố ngủ lầy/ nhạc phao tin ngựa
rong đầy phố câm' (Ngưa ô vong). Hoặc 'ngàn năm biên ải giữ oan hồn/
lá rừng xô gió núi sông xương/chết phơi khí tiết vô danh sĩ/chết đắng cay ma
núi ngậm hờn' (Quân bộ khúc, 1973). Thế nhưng trong hơi hướng cổ của
những câu thơ vừa trích, cùng với những câu thơ khác suốt tập, chan chứa hình
ảnh lạ và đắt, phong cách diễn đạt cá biệt, mang tính sáng tạo với nỗ lực tìm
tòi cái mới và con đường riêng của một thi sĩ, dù lúc viết chúng ra, tuổi anh
chỉ vừa qua ngưỡng hai mươi, 'mặt thâm hiểm quá răng trắng nhởn/biên giới
xế chiều như cõi âm/cây che mù mịt vùng lãnh khí/có tiếng ai cười nghe xa
xăm' (Quân bộ khúc), hoặc 'rượu vang đỏ máu chim mù/ai đem gan ruột
trùng tu tiếng người/tiếng cô hồn khóc trời ơi/nến đêm nguyệt tận thắp đồi cỏ
thiêng' (Cung tơ chiều).
3
Phù Hư lớn lên
trong cuộc chiến vừa qua, và hẳn cũng từng khoác áo lính. Bốn bài thơ viết về
đời lính 'Một chân giày', 'Quân bộ khúc', đặc biệt, 'Đồn sơn
yễm' và ‘Ngậm thẻ qua sông', theo tôi, tạo cho Phù Hư giọng thơ
rất riêng và chỗ đứng cũng rất riêng của một thi sĩ cầm súng. Trong thế kỷ
vừa qua, bỏ sang một bên vô số 'thơ cổ động’ được lưu hành mỗi bên chiến
tuyến hay mỗi miền đất nước, có lẽ đếm chưa đầy các ngón tay những thi phẩm
đúng nghĩa, ghi sắc nét và đầy xúc cảm về thân phận cùng nỗi niềm của người
lính Việt. Ngoài hình ảnh người lính thấp thoáng trong thơ Hữu Loan, Yên
Thao, Nguyễn Duy, v.v. và khá đông thi sĩ Miền Nam, ta cách riêng có Quang Dũng,
Hoàng Cầm, Nguyễn Bắc Sơn. Và nay có thêm Phù Hư với mấy bài thơ vừa được
chính thức lưu hành. Khác với vẻ hào hùng lãng mạn trong thơ Quang Dũng, tưng
bừng quyết chiến trong thơ Hoàng Cầm, đắng cay khinh bạc trong thơ Nguyễn Bắc
Sơn, người lính trong thơ Phù Hư cúi mặt cam đành; thân xác bị đẩy vào lửa
đạn mà tâm tư xa lạ với trận mạc, hờ hững với nguyên cớ chiến đấu, không than
oán cũng chẳng tự hào, cứ thế lầm lũi di hành, sẵn sàng cho phút giây định
mệnh, nhưng với tâm thức sáng suốt và phẩm cách của một con người, ‘âm
thầm đêm tối gào giữ giặc/nhanh đạn chuyền quanh chống tuyến đầu/gió núi rên
oằn băng tiếng pháo/mây tan đường trái phá qua sâu/… rượu hết từ khuya vắng
tiếng người/đêm lính trú buồn ham bếp lửa/nhìn nhau kể chuyện vẫn cười
chơi/tay hơ than khói khô da thịt/thuốc đốt từng khoanh dấu mặt người'. (Đồn
sơn yễm, 1972). Hoặc ‘buổi mới đến cau cao vừa nhú bẹ/em thẹn thùa tôi
tưởng thuở bình yên/tôi đâu hay em có nỗi hờn riêng/trông chinh chiến gọi hồn
chồng theo gió/một tháng tròn ngỡ như ngày thuở nhỏ/em là em mẹ là mẹ xưa’
(Ngậm thẻ qua sông, 1972)
4
Ở đây, tôi không
dám bàn về độ cao nghệ thuật của thơ Phù Hư trong 'Ngậm thẻ qua sông'
vì tôi nghĩ, giá trị của tác phẩm vốn nằm trong tự thân nó, và đường bay của
tác phẩm biến thiên theo độ rung của mỗi người khi đọc đi đọc lại cùng không
khí của mỗi thời đại. Điều tôi tiếc là hầu như Phù Hư đã ngưng tiếng thơ của
anh sau khi viết ra những bài chính trong tập này, có thể vì kể từ năm 1975,
đã xảy ra quá nhiều điều nghiệt ngã cho thơ và thi sĩ. Thế rồi, khi thơ gặp
vận mở để có mặt rộng rãi trên các tạp chí thì một chút mặt bằng trên kệ
trong nhà sách lại được trân quí hơn thơ, nên độc giả ít có cơ hội chạm tay
vào một tập thơ. Ước gì với thành quả của 'Ngậm thẻ qua sông', Phù
Hư có đủ hứng khởi cầm bút trở lại, đi tiếp con đường anh đã cho thấy rằng
thơ là đầu nguồn của sáng tạo và đổi mới ngôn từ, là hình ảnh của cảm xúc,
nhịp điệu của những giấc mộng trong tâm hồn và các thực tại giữa cuộc đời.
5
Ghi chú: Phù Hư, tên thật Nguyễn
Đắc Ngân, sinh năm 1951 tại Hải Dương. Lúc nhỏ sống ở Huế. Từ năm 1972 định
cư tại Sài gòn cho đến nay. Thơ đã đăng ở các báo Khởi hành, Văn, Thời
tập, Đúng dậy, Mỹ thuật thời nay. (Ghi theo bìa tập thơ).
6
Mời đọc:
NGẬM THẺ QUA SÔNG
Phù Hư
thơm lửa hương
khoai tiếng hát rừng
ven thôn vừa ghé
buổi di quân
khói mẹ sau lều
cơm chín tới
nước em chè lá đậm
phèn sông
tôi đời trận mạc
xa quê quán
buổi ghé nương em
núp bóng nhà
em nhớ thương
chồng đóng đồn ải xa
lâu tin vắng trông
mòn đường xóm
tôi ở quá bên hông
nhà gió sớm
đợi giùm em tin
chinh chiến gởi về
đêm nay mưa em mắt
ngủ khuya
tôi lạnh gió tin
địch về vẫn thức
làng em ở gió Lào
qua rất độc
ngày mưa mùa khuất
núi mù sông
mẹ già mong một
mụn cháu đầu lòng
em nhắn gởi bao
lần tin vẫn biệt
ruộng vườn em
trăng sương ngày tháng Chạp
tôi gác đêm như
bóng người rình
tối nay đạn nổ nhẹ
mạn sông
sương mỏng quá
nhìn hoa ngàn con mắt
tôi giữa đêm nghe
mình như thất lạc
thương xóm nhà
biết nổ đạn vào đâu
đồng đội tôi ngủ
mệt thôn sâu
ngại làm động mẹ
ho vừa chợp mắt
tôi nương bóng nhà
trăng che khuất
ngồi co mình cho
bóng bớt riêng tôi
nhìn xa trăng định
trốn sau đồi
sông tiếng bạc dặm
buồn như tiếng cú
thức có khuya mới
nghe hồn bớt ngủ
mới hay trăng
tháng chạp úa quanh đời
nghe em thở não
mãi không nguôi
em thở đó hay gió
kêu mùa giá
nhà em ở miệt đông
xóm hạ
bên triền sông
không bến phải vắng thuyền
đầu trăng con nước
rất vô duyên
lên mấp mé vườn em
vai phơi áo
em rất nhỏ ngày
trông vào gánh gạo
mẹ thì già vồn cải
với nương rau
bước sau hiên vun
mẹ dây trầu
mùa tốt lá xanh
hồn tôi mới ghé
buổi mới đến cau
cao vừa nhú bẹ
em thẹn thùa tôi
tưởng thuở bình yên
tôi đâu hay em có
nỗi hờn riêng
trông chinh chiến
gọi hồn chồng theo gió
một tháng tròn ngỡ
như ngày thuở nhỏ
em là em mẹ là mẹ
xưa
tôi lêu nghêu lúc
đi sớm về trưa
cơm nửa buổi giữa
khuya kêu bụng đói
nhà thưa quạnh tôi
gượng vui chẳng nổi
mẹ thẫn thờ em heo
bóng trong sân
tôi trận mạc nhầu
không kể đến thân
sương nhiều lắm
trời không che nằm đất
em vẫn bảo tôi mái
tranh không chật
tôi cười xòa xó
xỉnh mãi đâm quen
tròn tháng rồi đây
nhớ không em
hôm từ biệt quanh
thôn nhà cửa khép
lúc quân đi chắc
em không hề biết
đội tôi ngùi ngùi
ngậm thẻ qua sông
còn tôi co ro lạnh
mãi gió đông
một lần cuối nhìn
nhà em đóng kín
tin chồng em chắc
chưa về đến bến
như tin tôi mấy
thuở gởi thăm nhà
cũng mấy năm rồi
biền biệt phương xa
em còn nhớ một lần
tôi ghé ở
thơm lửa hương
khoai vùi bếp cũ
hồn em xa lắm cũng
quanh đây.
1972
|
Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013
ĐỌC " NGẬM THẺ QUA SÔNG " CỦA PHÙ HƯ - NGUYỄN ƯỚC
Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013
KHAI TRƯƠNG GÁC TRỊNH TẠI HUẾ
Một nhóm anh em văn nghệ sĩ Huế vừa sửa soạn căn nhà mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng sống tại số nhà 203/19 (Dãy nhà C khu tập thể) đường Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế.Không gian lưu giữ rất nhiều kỷ niệm một thời này được đặt tên là GÁC TRỊNH ,Tại đây nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác những ca khúc đầu tiên.
Nhân kỷ niệm 12 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Chương trình Phát triển Không gian Văn hóa của Tạp chí Sông Hương phối hợp với GÁC TRỊNH tổ chức buổi ra mắt GÁC TRỊNH với cuộc triển lãm tranh
một số tác giả bạn bè của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận, Đinh Cường , Bửu Chỉ và một chương trình âm nhạc đậm chất Trịnh, có sự tham gia biểu diễn của danh cầm guitar Trần Văn Phú và chất giọng đặc biệt của nữ ca sĩ Camille Huyền vào lúc 16 giờ 30 ngày 01/04/2013.
Cũng trong ngày 01/04/2013 nhiều hoạt động kỷ niệm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn diễn ra nhiều nơi ở thành phố Huế như quán cơm chay Thiện Đức, quán cà phê Bình An số 38/12 đường Tịnh Tâm có đông đảo người tham dự
Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013
NHÀ VĂN VÕ HỒNG QUA ĐỜI
Tác giả Hoài cố nhân, Một bông hồng cho cha, Vết hằn năm
tháng, Lá vẫn xanh, Thương mái trường xưa, Vẫy tay ngậm ngùi, Nửa chữ cũng thầy,
Vùng trời thơ ấu, Chúng tôi có mặt… sinh ngày 5-5-1921 tại làng Ngân Sơn,
xã An Thạch, huyện Tuy An (Phú Yên). qua đời ngày 31,3 2013 tại Nha Trang ,Khánh Hòa, hưởng thọ 92 tuổi
Từ năm 2006, do tuổi cao, ông đã có lần bệnh rất nặng phải nhập
viện cấp cứu và điều trị.
Nhiều tác phẩm của nhà văn Võ Hồng đã được trích giảng trong sách
giáo khoa văn cho chương trình trung học trước năm 1975. Sau năm 1975, văn
nghiệp của ông là đề tài cho nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ văn chương.
Văn chương của ông đề cao tình yêu quê hương thôn dã, tình cảm
gia đình, tình thầy trò, bằng hữu.
Theo website mang tên nhà văn Võ Hồng (http://www.vohong.de), thuở nhỏ Võ Hồng học ở
trường làng Ngân Sơn, trường phủ Tuy An, trường huyện Sông Cầu, rồi ra học
trường trung học Quy Nhơn (Bình Định). Năm 1940 học ban tú tài ở Hà Nội.
Dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, ông làm bí thư tòa tổng đốc 4
tỉnh miền Nam Trung Việt đóng tại Ðà Lạt. Trong thời kháng chiến ông cùng vợ dạy
học ở Trường trung học Lương Văn Chánh (Phú Yên), sau đó làm hiệu trưởng trường
này.
Năm 1953 ông bị bệnh xin nghỉ dài hạn. Năm 1954 đưa gia đình về
sống ở Ðà Lạt. Từ năm 1956 về sống ở Nha Trang, dạy học ở các trường tư thục và
nghỉ hưu năm 1982. Về văn nghiệp, tính đến nay Võ Hồng đã cho ra đời ngoài 8
tiểu thuyết và truyện dài, trên 70 truyện ngắn, nhiều tập tùy bút, bút ký, các
tập truyện viết cho thiếu nhi, hơn 40 bài viết, bài khảo cứu, phê bình…
Trong đó, truyện ngắn đầu tay Mùa gặt của ông được đăng
trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Hà Nội năm 1939 với bút hiệu Ngân Sơn,
khi ấy ông còn là một học sinh đệ tam niên (theo hệ giáo dục thời đó). Mãi đến
năm 1959 ông mới gia nhập làng văn với tác phẩm đầu tay Hoài cố nhân…
Sau năm 1975, trong một số tác phẩm của mình, Võ Hồng đã ký bút hiệu Võ An Thạch
hoặc Võ Tri Thủy…
Gia đình cho biết ông ra đi đột ngột và nhẹ nhàng trong giấc ngủ
trưa. Lễ khâm liệm lúc 8g sáng 1-4, di quan lúc 15g chiều 4-4 (24-2 âm lịch), an
táng tại nghĩa trang Suối Đá (xã Suối Cát, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa).
V.T. - PHAN SÔNG NGÂN (TT.O)
Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013
MỘNG - VÔ BIÊN
MỘNG
Đêm
rụng xuống
Đêm
êm êm
Gió
qua thềm
Trang
sách cũ
Lòng
như ngỡ
Thuở
hoa xưa
Hồn
đong đưa
Cười
vang nắng
Con
thuyền trắng
Giấy
học trò
Xếp
nho nhỏ
Bài
tình thơ
Hồn
mộng mơ
Miền
cổ tích
Đêm
trừ tịch
Ai
ngồi im
Gió
qua thềm
Lay
cỏi mộng.
Vô Biên
Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013
MẶT TIỀN NGHỆ THUẬT - VÕ CHÂN CỮU
Kỳ VI :
Cánh Chuồn Chuồn
Sau những tháng khô
hạn, cơn mưa bất chợt đã trở về. Ai nấy đều hân hoan khi trời cứu những vườn cà
phê sắp cháy khô. Nhưng hình như tất cả đều không thể biết những cánh chuồn
chuồn làm sứ mạng dự báo thời tiết bây giờ đang ở đâu !
Mấy tháng trước, khi tôi đến Mỹ, một người thân
quen là ông Nguyễn Hữu Nam, chủ nhân sản phẩm WEHG chiết xuất từ các loại thảo
mộc, đất hiếm đang ở Việt Nam đã điện thoại gặp. Ông muốn tôi đi thăm một trong
nhiều thung lũng cây trái mà ông xây
dựng ở vùng trung bắc California. Ông Nam đã lấy con chuồn chuồn làm biểu tượng
cho sự an toàn. Là một người yêu thơ, sau khi đi học rồi định cư ở nước ngoài,
ông nói rằng bây giờ thật khó kiếm ra những vần thơ lục bát hay. Nó giống như
những đôi cánh chuồn chuồn đang dần dần biệt dạng !
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao là nắng, bay vừa thì
mây…
Đây chỉ là hai câu nói có vần vè, tưởng như
ai làm cũng được. Nhà văn, dịch giả Trịnh Y Thư mà tôi chơi từ thuở là học trò
cùng tập làm thơ sáu tám, trong tập tạp văn mới vừa in (Chỉ Là Đồ Chơi) cũng
ghi nhận “những nhà thơ gốc Việt còn trẻ ở nước ngoài bây giờ chẳng mấy người dùng
thể này nữa”. Những gì quý báu từ thiên nhiên đều sẽ ngày càng cạn kiệt. Thời
đại tin học, giấy in dần trở thàng mặt hàng không cần thiết nhiều nữa. Nó phải
biến hình cho hữu dụng là để dùng lau tay ! Riêng tôi lại thấy vô hình vô ảnh
những âm thanh, vần điệu ráp nối và tan biến nhanh sau các màn hình. Ngắn ngủi
và hư ảo. Như có, như không. Nhưng những câu thơ có thể lưu lại, được in, chép
và gửi cho nhau, nhiều nhất vẫn là những câu lục bát. Không phải vì nó là điệu
thơ độc quyền, đặc thù của người Việt đâu. Nhiều nghiên cứu cho thấy cách gieo
vần theo yêu vận của các câu đã được khá nhiều dân tộc vùng Đông Nam Á sử dụng,
làm nên nhiều tục ngữ, ca dao và các thể văn hát chèo, hát nói…(Sổ tay của nhà
văn Võ Phiến còn ghi lại nhiểu bài ca theo thể lục bát của người Chăm Nam trung
bộ , và của cả dân tộc Bru ở Quảng Trị). Người Nam bộ đã tiến tới biết dùng câu
sáu ở trên, câu tám ở dưới khá nhuần nhuyễn để hô “thai” hoặc diễn giải chuyện
kể. Bà con gọi đó là cách “nói thơ”-như “thơ Trần Minh Khố Chuối”, “thơ Lâm
Sanh-Xuân Nương”…Nhưng “lục bát” đến nay vẫn là một thể thơ riêng biệt. Nó được
đúc kết có quy luật từ các âm từ bằng, trắc; cách gieo vần; đối chữ đến những
câu phá thể…Thoát thân từ ca dao và dựa vào ca dao, hồn lục bát in sâu vào long
người để khơi động cảm xúc, mở tầm liên tưởng. Nên nếu ai đó muốn phủ nhận hồn
thơ lục bát; chưa biết tôi luyện qua cách gieo vần sáu-tám mà đã dám tự nhận là
mình “hiện đại”, thì không chừng đây là những người thích “nổ”.
Hiện
sinh
Tới tận hôm nay, sự tìm kiếm, đổi mới trong
sử dụng kết cấu ngôn từ để làm mới bài
thơ lục bát vẫn đang được tiếp tục. Ghi nhận có lẽ từ thập niên ’60 thế kỷ 20,
sau sự bùng phát của thể thơ tự do, các nhà thơ đã tìm cách phả làn hơi mới lên
linh hồn thơ lục bát.
·
Cung Trầm Tưởng
Núi
nhớ
Chiều
đầu sông ngóng cuối sông
Quê ai một rẻo lau bồng lẻ loi
Nước nguồn cuốn lá nguồn trôi
Thừng côi cút buộc thuyền côi cút bờ
Bơ vơ này níu bơ vơ
Kia mây núi vấn mây chờ nẻo mây
Nhớ khôn nguôi với dặm dài
Trước sau cách một miên trường
Còn chong đèn nhỏ lửa giường nhớ nhung
Nhớ vời một thoáng chân dung
Bao giờ hết được Vô Cùng thì thôi
Thuyền soi nước cũng bồi hồi
Núi kiên tâm vấn mây ngồi để tang
Chim tha thế kỉ bộn bàng
Chiều về trọ nghỉ nóc hoàng hôn cao
Nao nao sóng bóng thuở nào
Dặt dìu nước tỏ tường sao đậm đà
Quê ai một rẻo lau bồng lẻ loi
Nước nguồn cuốn lá nguồn trôi
Thừng côi cút buộc thuyền côi cút bờ
Bơ vơ này níu bơ vơ
Kia mây núi vấn mây chờ nẻo mây
Nhớ khôn nguôi với dặm dài
Trước sau cách một miên trường
Còn chong đèn nhỏ lửa giường nhớ nhung
Nhớ vời một thoáng chân dung
Bao giờ hết được Vô Cùng thì thôi
Thuyền soi nước cũng bồi hồi
Núi kiên tâm vấn mây ngồi để tang
Chim tha thế kỉ bộn bàng
Chiều về trọ nghỉ nóc hoàng hôn cao
Nao nao sóng bóng thuở nào
Dặt dìu nước tỏ tường sao đậm đà
Nhà thơ Du Tử Lê cho rằng : “Cung Trần Tưởng không chỉ đi tiếp con đường
lục bát Huy Cận, mà họ Cung còn đẩy vận hành của một chu kỳ lục bát tới chỗ rốt
ráo của nó…Đem lục bát ra khỏi bóng rợp của giai đoạn lục-bát-kể chuyện, kéo
dài mấy trăm năm, kể từ khời điểm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du…” Chỗ “rốt
ráo” được ông giải thích là “những không
gian, ngữ cảnh, ngữ nghĩa mà trước đó lục bát không hề có”(theo dutule.com 2-9-2012).
Nếu ghi nhận là có một “trường phái lục
bát Cung Trầm Tưởng”, tôi nghĩ là không cần thiết. Nhưng cách sử dụng nhịp điệu
linh động (có khi là 3/3 hoặc 4/4 trong câu) hoặc hình tượng những câu lục bát
gợi lên mà Cung trầm Tưởng là người có công mở ra, mãi sau đó vài chục năm sau,
vẫn được nhiều người làm thơ vận dụng.
·
Du Tử
Lê
Trở lại Houston
Nhờ em tôi biết cuộc đời
Biết mưa còn ở trên môi tháng, ngày
Nhờ em chim mới biết... bay
Ngang qua cổ tích. Thả đầy hạt kinh
Biết mưa còn ở trên môi tháng, ngày
Nhờ em chim mới biết... bay
Ngang qua cổ tích. Thả đầy hạt kinh
Nhờ em tôi mới biết mình
Đã mang tuổi mẹ, thọ hình lỗi cha
Đã mang tuổi mẹ, thọ hình lỗi cha
Nhờ em trời lợp mái nhà
Đất di truyền nhớ thương hoa lên cành
Nhờ em thác ngủ đầu ghềnh
Như tôi được chết hiền lành trong em.
Đất di truyền nhớ thương hoa lên cành
Nhờ em thác ngủ đầu ghềnh
Như tôi được chết hiền lành trong em.
Một nhà thơ thuộc thế hệ trẻ hơn cũng
thành công khi sử dụng âm hưởng lục bát mới.
·
Nguyễn
Tất Nhiên
Mưa lăn
trên kiếng cửa
Tình đau về với ta buồn
Buồn ta cũng tạt như nguồn mưa đông
Mắt em có thấm lạnh hồn?
Mưa ta có lệ ngoằn trên kiếng đời ?
Tháng mười một, gió, thấp trời
Là ta ủ dột lòng mùi khóc ai
Hỡi người như chuyện mây bay
Cám ơn em bỏ thiên tài tang thương!
Tình đau về với ta buồn
Buồn ta cũng dịu như sương đầu ngày
Hiên người ẩm giọt mù mai
Thì sương vắn đẫm sầu dài mấy trăng...
Em ngồi em lạnh bàn chân
Tình hay ho thuở dằn lòng ngó ra!
Ngày chiều phất vạt mưa qua
Cám ơn em đã lệ sa kiếng ngoài ...
Ơn người cứ phụ lòng ai
Ơn đời sống một đề tài khổ đau !
Buồn ta cũng tạt như nguồn mưa đông
Mắt em có thấm lạnh hồn?
Mưa ta có lệ ngoằn trên kiếng đời ?
Tháng mười một, gió, thấp trời
Là ta ủ dột lòng mùi khóc ai
Hỡi người như chuyện mây bay
Cám ơn em bỏ thiên tài tang thương!
Tình đau về với ta buồn
Buồn ta cũng dịu như sương đầu ngày
Hiên người ẩm giọt mù mai
Thì sương vắn đẫm sầu dài mấy trăng...
Em ngồi em lạnh bàn chân
Tình hay ho thuở dằn lòng ngó ra!
Ngày chiều phất vạt mưa qua
Cám ơn em đã lệ sa kiếng ngoài ...
Ơn người cứ phụ lòng ai
Ơn đời sống một đề tài khổ đau !
Với bài thơ này, nếu chịu khó đọc và thưởng thức theo từng khổ 4
câu như một bài tứ luyệt, người đọc có thể phát hiện thêm về sự vi diệu kỳ lạ
của thể thơ lục bát.
Nhà phê bình Thụy Khê cho rằng “thơ Cung Trầm Tưởng thường có giọng buồn,
nhưng là giọng buồn nguyên thủy, gợi nỗi cô đơn hiện sinh khi con người nhận
thức lại chính mình”.
Giải
thoát
Lớp sau Cung trầm Tưởng, tất nhiên cũng đều
gặp “nỗi cô đơn hiện sinh”. Cách “giải thoát” của mỗi người tất nhiên khác
nhau. Như Phạm Công Thiện lại hướng tới cõi sâu thẳm của tâm linh. Cái đẹp có
khi lại “hòa quyện” với cảm xúc của “đạo” (với nhà thơ khác, có thể là “đạo khả đạo phi thường đạo”).
Phạm Công Thiện hồi tuổi 20 đã có những câu hay như:
Rắn trườn vỡ trứng chim rừng,
Tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
Khuya buồn tủi nhục môi em
Mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
Tiếng ru chin đỏ điện thờ
Hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu
Tay còn ôm giữ tình yêu
Tôi về phố động những chiều hư vô…
( Ngày sinh của Rắn, bài 9)
Sau
nhiều năm phiêu dạt nhiều nước, khi tuổi đã xế chiều, Phạm Công Thiện vẫn sử
dụng thể thơ lục bát diễn tả những bất ổn trên đường về cõi đạo:
·
Phạm
Công Thiện
Đi
1/
Đã đi thì đã đi rồi
Thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu
Hạ phương ngày tháng bể dâu
Sắt son tình cũ, phượng cầu túy hương
Có còn gì nữa mà thương
Buổi trưa nằm ngủ thấy nường năm xưa
2/
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô lieu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Đại Huyền biến ngưỡng triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch hào
Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim.
(Thi tập Trên Tất Cả Đỉnh Cao Là Lặng Im-2009)
Đưa nhiều từ ngữ mang âm thanh lạ, hoặc
quá chuyên môn vào thơ, bài lục bát có khi bị “hẫn hụt”. Đó có lẽ là lướng
vướng trong người của một Phạm Công Thiện “triết gia”, và một Phạm Công Thiện
“nhà thơ”! Những nhà thơ nghiêng về tâm linh vẫn phải tự mình giải tỏa lướng
vướng này.
Nhớ lại, hồi 11 năm sau ’75, gặp tình
huống đó, tôi cũng phải tự mình “khơi thông qua những vần lục bát:
·
Võ
Chân Cửu
B’Lao
Tôi về hỏi lại rừng cao
Bóng mây năm cũ hôm nào còn bay
Chiều lên nắng tắt theo ngày
Ánh trăng như thể ngàn tay ai cầm
Tôi về gởi mộng xa xăm
Đàn xưa đã lạnh tiếng trầm bỗng rơi
Tôi về hỏi một mình tôi
Đường hoa vàng thể như lời em trao
Tôi về hỏi lại rừng cao
Đừng quên em nhé nghìn sao tiếng thầm !
(1986)
Trút
bỏ
Nhiều người đọc nói rằng thơ lục bát, dù
mang tinh thần và khuynh hướng cổ điển hay tư duy “hiện sinh” vẫn không thể
tránh khỏi sự rang buộc của những âm điệu ngọt ngào-xuôi tai. Như vậy phải khơi
mở những chân trời mới cho nó. Người bạn cùng thời đã cùng tôi chia sẻ nhiều
đắng cay và những trói buộc của thời thế là Nguyễn Tôn Nhan. Sau khi chuyển
sang lãnh vực nghiên cứu Hán tự và văn chương cổ, ông đã bất ngờ tung ra một
hình thức mới: “Lục bát ba câu”. Tưởng niệm 2 năm ngày ông về cõi tịnh độ, vào
đầu năm 2013 gia đình thi sĩ đã tập hợp, in ra thi tập “Lục bát ba câu” mà ông
sang tác từ 1996 trở về trước. Tất cả các bài đều không mang tựa đề.
·
(Trang
28)
ôi
chao gió lạnh lọt song
đẩy con châu chấu bay vòng xuống khe
ngàn
muôn ảo giác dội về
·
(Trang
40)
hạt thưa mưa tạt xèo mành
con châu chấu đậu không đành chết tươi
hôm
nay lạnh thấu tim người.
Chỉ trong ba câu, lại bị trói buộc bởi
vần, nhịp của thể thơ, nên “lục bát ba câu” kho có thể so với sự vi diệu thoải
mái như thơ Haiku Nhật Bản, nên ở rất nhiều bài, Nguyễn Tôn Nhan như dùng để
đưa ra một “công án” thiền:
·
(Trang
130):
ba
câu làm mất ba giây
không ai tri ngộ thì quay về giường
trên
đầu sẵn sáng như gương.
Đi tìm cái mới là nghiệp dĩ muôn đời của
các nhà thơ. Nên Nguyễn Lương Vỵ từ 2005 đã cảm hứng làm ra “mười bài lục bát
hai câu rưỡi giỡn mặt Nguyễn Tôn Nhan lục-bát-ba-câu”:
·
Nguyễn Lương Vỵ
ba
câu nghĩ cũng hơi nhiều
mần hai câu rưỡi thử liều hòa âm
cù thằng câm…
*
thâm u cu gáy hột cườm
hồng lê nay đã chin hườm chúng em
đừng nói thêm!!!
( Phần phụ lục “lục bát ba câu Nguyễn
Tôn Nhan, trang 135)
Tới một tuổi nào đó, nhà thơ có thể dùng
ngôn ngữ và âm điệu để “giỡn”, nhưng để người đọc cảm và thấm được còn tùy
thuộc vào sức hút của bài thơ. Nói gì đi nữa, thể thơ lục bát vẫn chứng tỏ sự
biến đổi rất sinh động. Tạm kết thúc bàn luận về thể thơ cổ điển (mà từ bệnh
sính hình thức của xã hội, có nhiều người đang muốn phong nó trở thành “quốc
thi”), tôi xin phép được giới thiệu thêm một bài lục được trình bày “biến tấu”,
sắp xếp ra hình khối, như thể loại mà các nhà thơ coi trọng hình thức cho là
“mới”:
·
Tú Trinh
DU CA
Chiều
ai nhóm bếp củi ngo
khói lam đan sợi níu đò triền sông
người ngang dọc
mùa đi vòng
tìm về
chim ngói, cánh đồng reo ca.
Thương bờ cúc dại quanh nhà
huây hoai hương rạ len qua tuổi tình
hát khi ngồi với bình minh
chuông chùa hòa khúc yên bình từ tâm
hình như...
tha thiết trăng rằm
một lần thơ dại được cầm tay em.
Sương khuya gầy ảo dáng hiền
mẹ cho vóc hạc khắp miền lãng du
về gối đầu với mùa thu
hoang vu còn ấm lời ru nửa đời.
Quê ơi,
khao khát lở bồi
cắm sào cúi nhặt bóng tôi bên người.
Chiều
ai nhóm bếp củi ngo
khói lam đan sợi níu đò triền sông
người ngang dọc
mùa đi vòng
tìm về
chim ngói, cánh đồng reo ca.
Thương bờ cúc dại quanh nhà
huây hoai hương rạ len qua tuổi tình
hát khi ngồi với bình minh
chuông chùa hòa khúc yên bình từ tâm
hình như...
tha thiết trăng rằm
một lần thơ dại được cầm tay em.
Sương khuya gầy ảo dáng hiền
mẹ cho vóc hạc khắp miền lãng du
về gối đầu với mùa thu
hoang vu còn ấm lời ru nửa đời.
Quê ơi,
khao khát lở bồi
cắm sào cúi nhặt bóng tôi bên người.
Tôi tin rằng sắp tới nếu trút bỏ gánh
nặng về hình thức, sẽ có nhiều tập thơ lục bát hay được in ra.
(Còn tiếp)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



