Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 111 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ

1.111 - Thái Thủy
HẾT CẢI TẠO VẪN CHƯA HẾT TAI ƯƠNG
Nhà thơ tên thật Phạm Thái Thủy sinh 1937 tại Hà Nam. Sống ở Mỹ (2012).

Di cư vào Nam 1954, gia nhập nhóm Hiện Đại (tên tạp chí xã hội - văn nghệ do nhà thơ Nguyên Sa chủ trương) quy tụ văn nghệ sĩ miền Bắc di cư.

Trong thời gian này làm bài thơ “Lá thư gửi mẹ” được Nguyễn Hiền phổ nhạc năm 1955 nhiều người biết tiếng, bài thơ mô tả tâm tình của lớp người di cư vẫn hoài vọng một ngày về quê cũ miền Bắc:

“Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương.
……………………
Con về tằm đẹp lứa
Mẹ cười vun khóm dâu

Mái tranh nghèo vươn khói
Vườn thơm ngát hương cau…”

Nhưng làm thơ, làm báo không nhiều mà chủ yếu làm quan chức lớn trong ngành phát thanh trong đó có tham gia xây dựng chương trình tiếng thơ Tao Đàn hàng tuần trên Đài Phát thanh Sài Gòn.
Vì thế sau Giải phóng phải đi cải tạo 10 năm.
Năm 1986 được thả về. Đến lúc về nhà ở TPHCM mới ngã ngửa biết rằng trong thời gian qua vợ đã… bỏ đi lấy người khác! Dù vậy vẫn đành cắn răng chịu cảnh ở chung nhà cùng vợ và chồng mới (do còn trong thời gian quản chế phải cư ngụ đúng địa chỉ đã đăng ký từ trong trại cải tạo). Ngày ngày đi dạy kèm kiếm sống.

Năm 1990 mới tách ra ở riêng lấy vợ mới thì một tháng sau… bị bắt lại do có dính líu đến hoạt động đấu tranh đòi tự do dân chủ của bác sĩ Nguyễn Đan Quế.

Đến năm 1995 được các tổ chức nhân quyền quốc tế vận động trả tự do.

Qua năm 1998 cùng vợ sau đi Mỹ định cư, để lại mẹ già còn ở Hà Nội và 4 con ở TPHCM.

Nhưng vừa qua không bao lâu cả 2 vợ chồng gặp tai nạn giao thông, bản thân bị thương nặng (lòi ruột) may mà được cứu sống kịp thời.

Ra viện làm thủ tục bảo lãnh cho 2 con gái qua (2 con trai đã lập gia đình không đi) được một thời gian thì một con gái xin quay về lại TPHCM sinh sống.

Ngoài bài thơ “Lá thư gửi mẹ” còn làm một số bài thơ khác song rất ít phổ biến. Trước kia ở Sài Gòn chưa hề in tác phẩm mà qua Mỹ được Nguyên Sa đề nghị in cũng từ chối tuy còn lưu giữ khoảng 100 bài.

Phải chăng với hơn nửa đời người cuối đời gặp quá nhiều cảnh ngộ truân chuyên vừa bất lực vừa cay đắng cùng cực như thế từ thời cuộc đến đời riêng, bây giờ thấy thơ – nhất là thơ của phần đời trước như kiểu “Lá thư gửi mẹ” – chẳng còn ý nghĩa gì nữa?

1.112 - Thái Tú Hạp
CÓ DUYÊN VỚI ĐẠO PHẬT VÀ… HOA KIỀU
Nhà thơ Việt kiều Mỹ sinh 1940 tại Hội An. Sống ở Mỹ (2012).

Thời trẻ làm thơ và hoạt động thanh niên Phật giáo, là một huynh trưởng Phật tử.

Bị gọi nhập ngũ, nhờ là nhà thơ nên ra trường sĩ quan Thủ Đức được chuyển qua ngành tâm lý chiến phục vụ Quân đoàn 1 tại Đà Nẵng.
Vì thế sau 30.4.75 mang lon đại úy đi cải tạo.
Nhưng nhờ có vợ là Hoa kiều nên năm 1978 xảy ra chiến tranh biên giới Việt – Trung, bản thân bị liệt vào gia đình “nạn kiều” người Hoa nên được vợ nộp đơn xin bảo lãnh cho về sớm để chuẩn bị cùng vợ bị trục xuất qua Trung Quốc.

Tuy nhiên do thủ tục rắc rối chưa đi liền được, quá sốt ruột nên năm 1980 cả 2 vợ chồng “đi trước một bước”… vượt biên qua Mỹ.
Trên xứ sở mới tận dụng mối quan hệ với Phật giáo và Hoa kiều, chồng làm dịch vụ du lịch Hong Kong, Đài Loan; vợ làm hiệu trưởng trường tiểu học cho con em Hoa kiều đặt trong một ngôi chùa Phật giáo. Ngoài ra, cả 2 vợ chồng cùng chung sức dịch thơ Đường, tiểu thuyết Quỳnh Dao qua tiếng Việt.
Riêng mình vẫn tiếp tục làm thơ hoài niệm quê hương và quá khứ, in 2 tập “Chim quyên lạc ngàn” 1982 và “Miền yêu dấu phương Đông” 1995.
Đặc biệt hàng năm đều đứng ra tổ chức in đặc san Quảng – Đà văn thơ hải ngoại nhớ về cố huơng.

1.113 - Thanh Hải Vô Thượng Sư
“PHÁP MÔN QUÁN ÂM”
Giáo chủ đạo mới Việt kiều Pháp tên thật Trịnh Đăng Huệ (hay Đặng Thị Trinh) sinh 1950 tại Quảng Ngãi. Mang quốc tịch Pháp, sống ở Mỹ (2012).

Năm 1969 đi du học Anh tốt nghiệp cử nhân văn chương.
Năm 1972 qua Pháp học triết học.
Năm 1974 qua Đức làm thông dịch viên, lấy chồng bác sĩ Đức. Bắt đầu quan tâm nghiên cứu, chuyên tu đạo Phật.
Năm 1980 ly dị chồng qua Ấn Độ xuất gia theo hệ phái Phật giáo - Lạt ma Tây Tạng.

Năm 1983 qua Đài Loan tiếp tục tu học Phật giáo theo một vị sư VN, bắt đầu lấy pháp danh Thanh Hải. Đến năm 1989 tại đây chính thức lập đạo mang tên là “Quán âm pháp môn” còn gọi nôm na “Đạo bà Thanh Hải”. Tự phong mình là giáo chủ “Minh sư”, là “Phật hiện tiền” giáng thế đi rao giảng hành đạo khắp thế gian.
Được một thời gian thì Đài Loan cấm truyền đạo nên chuyển qua hoạt động ở Mỹ.

“Đạo bà Thanh Hải” có nội dung vay mượn từ đạo Phật (chủ yếu là từ đạo Thiền – Yoga An Độ) qua đó biến chế theo hướng dẫn dụ quần chúng bình dân. Gồm các điều luật tôn trọng ngũ giới, yêu cầu đệ tử phải ăn chay trường và ngồi thiền ít nhất hai giờ rưỡi mỗi ngày, áp dụng “phương pháp tâm ấn” để ngộ đạo… Luật lệ đạo khá thoáng, nhận cả nam đệ tử.

Có tính thực dụng cao kết hợp truyền đạo với tiếp thị, kinh doanh (trang phục đạo giáo màu mè bắt mắt như… diễn viên cải lương, bản thân có nhan sắc từng xuất hiện cả trên sàn diễn… thời trang!). Trong đó có cả quan điểm chống Cộng, tự nhận là “chiến sĩ chống Cộng hòa thuận, an toàn; đánh Cộng sản nhưng không giết người mà chỉ hoán cải họ”!
Cả Phật giáo hải ngoại lẫn Phật giáo VN đều bài bác cho là “ngoại đạo”, “tà đạo” muợn màu Phật pháp để mê hoặc tầng lớp dân mê tín nhằm trục lợi.

Tại VN đã có lệnh cấm truyền bá đạo này, một số tín đồ theo đạo bị bắt giữ ở Đà Lạt năm 2010.

1.114 - Thanh Lan
HAI GIAI ĐOẠN, HAI BỜ ĐỐI NGHỊCH
Ca sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Phạm Thái Thanh Lan sinh 1948 tại Vinh – Nghệ An. Sống ở Mỹ (2012).

Một nghệ sĩ đa tài cả ca hát lẫn đóng kịch, đóng phim nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Nghệ sĩ có trình độ hiếm có (học trường Pháp, tốt nghiệp ĐH Văn khoa) nên hát được ca khúc ngoại tiếng Pháp – Anh, còn tự tay viết nhạc, soạn kịch bản kịch nói, phim, làm thơ…

Trước 75 bắt đầu nổi lên từ phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, đóng kịch và phim nhiều (phim “Tiếng hát học trò”, “Lệ đá”, “Trường tôi”…). Từng qua biểu diễn thành công ở Nhật Bản.

Sau 1975 ở lại vẫn tham gia nhiều hoạt động nghệ thuật đều đặn, cả trình diễn sân khấu, thu đĩa lẫn đóng phim (phim “Ván bài lật ngửa”, “Vụ án hồ Con Rùa”, “Đằng sau một số phận”…).

Cuối năm 1993 được đi Mỹ dự buổi ra mắt phim của một Việt kiều đồng nghiệp cũ thì nhân đó bất ngờ xin “tị nạn” ở lại Mỹ luôn! Để lại con gái trong nước (còn chồng đã ly dị).

Nhưng qua Mỹ nhiều năm đầu gặp khó khăn trong hoạt động văn nghệ do bị các nhóm chống Cộng cực đoan hô hào tẩy chay, bị bêu rếu, bôi nhọ về đời tư vì tội từng tham gia cộng tác khá tích cực với Cộng sản ở VN.
Mãi đến 6 năm sau dần dần mới hòa nhập được với cộng đồng nghệ thuật hải ngoại để tiếp tục trình diễn, đóng kịch, phim và bây giờ còn tự tay viết kịch bản phim, dịch ca khúc Pháp ra tiếng Việt… Nhiều lần đi hát ở Châu Âu, Canada, Úc…

Năm 2002 in tuyển tập thơ của mình, cả thơ tiếng Việt và thơ tiếng Pháp – Anh.

Năm 2006 ra mắt hồi ký tiếng Anh. Qua đó tự chia đời hoạt động văn nghệ của mình ra 3 giai đoạn trước - sau 1975 và ở Mỹ, trong đó tâm sự hài lòng nhất là giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp mình, một sự nghiệp bao gồm hơn 500 bài hát ghi đĩa cả nhạc Việt lẫn nhạc Pháp, Anh, Ý, Nhật.

1.115 - Thanh Tuệ
40 NĂM NHÀ XUẤT BẢN AN TIÊM
Nhà xuất bản sách Việt kiều Pháp tên thật Trương Phúc sinh 1936 tại Quảng Nam – Mất 2004 ở Mỹ (68 tuổi).

Đại đức tu sĩ Phật giáo vào Sài Gòn thành lập Nxb An Tiêm trực thuộc Giáo hội Phật giáo VN năm 1965 với ý hướng in sách văn hóa, văn học nghệ thuật (cả sách dịch) của giới Phật tử (khác với Nxb Lá Bối cũng thuộc Giáo hội song chỉ chuyên in kinh kệ và sách nghiên cứu Phật học).

Sách An Tiêm dần được đánh giá cao vì nội dung sách đạt chất lượng cao, nghiêm túc từ những tác giả có trình độ, uy tín như đại thi sĩ Bùi Giáng, đại đức Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, chị em Phùng Khánh – Phùng Thăng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), dịch giả Bửu Ý, nhạc Trịnh Công Sơn…

Có công phát hiện, giới thiệu in tác phẩm đầu tay của Phạm Công Thiện, Sao Trên Rừng… Sách trình bày, in ấn đẹp.
Đến 30.4.75 An Tiêm đương nhiên tự động đóng cửa còn bản thân bị kẹt lại ở Sài Gòn.

Một thời gian sau vượt biên qua định cư ở Pháp, cởi áo tu sĩ hoàn tục và tiếp tục gầy dựng lại hoạt động của nhà xuất bản tại Pháp. Tuy gặp nhiều khó khăn, trở ngại song tương đối vẫn duy trì được truyền thống một thời của nhà xuất bản, in sách của các tác giả phổ biến ở nước ngoài như Nhất Hạnh, Hồ Hữu Tường, Bùi Giáng, Quách Tấn, Nguyễn Đăng Thục, Võ Phiến, ni sư Trí Hải…

Trong một dịp quay về lại quê hương, có dặn các tác giả thân hữu nếu có viết gì chưa in được thì cứ để dành đó một ngày không xa mình sẽ in cho.

Nhưng lời hứa chưa kịp thực hiện thì năm 2004 qua Mỹ liên hệ đặt cơ sở xuất bản ở đây nhằm chuẩn bị kỷ niệm 40 năm ra đời An Tiêm 1965 – 2005 không may bất ngờ mắc bệnh nặng qua đời trên đất khách quê người.

1.116 - Thanh Thương Hoàng
“VIẾT BẰNG MÁU VÀ NƯỚC MẮT”
Nhà báo Việt kiều Mỹ tên thật Nguyễn Thanh Chiêu sinh 1930 tại Nghệ An. Sống ở Mỹ (2012).

Di cư vào Nam 1954 ban đầu viết truyện ngắn và phóng sự chịu ảnh hưởng khuynh hướng tả thực xã hội của Vũ Trọng Phụng.
Sau dần chuyển qua làm chủ báo rồi thành quan chức ngành báo chí, từng làm Chủ tịch Nghiệp đoàn ký giả VN có công thành lập Làng Báo chí tại Thủ Đức (Sài Gòn).
Bởi vậy sau Giải phóng phải đi cải tạo 10 năm.

Trở về Sài Gòn đến năm 1999 nhờ giới báo chí quốc tế vận động mới được cho xuất cảnh qua Mỹ.

Trên đất Mỹ, quay lại nghề báo (ra tạp chí Đời năm 2003) với ý hướng đấu tranh chống Cộng. Hô hào nhà báo hải ngoại lưu vong: “Người viết văn viết báo thời đại này phải đau nỗi đau của dân tộc, phải đau nỗi đau của đất nước. Phải dùng máu và nước mắt của mình để viết về những nỗi đau đời đó. Nếu không thì nên làm nghề khác kiếm ăn!”

Bản thân mình thực hiện đúng như vậy, quay lại viết truyện ngắn như thời mới vào nghề nhưng bây giờ mang đậm dấu ấn thời cuộc “mất nước” qua nhiều tập truyện được xuất bản như “Khoảnh khắc và thiên thu” năm 1994, “Những nỗi đau đời” năm 2001, “Ông tướng tỵ nạn” năm 2005…
Nhưng không gây được tiếng vang đáng kể một phần có lẽ do không còn phù hợp với yêu cầu mới của thời đại, cả nội dung lẫn văn phong.

1.117 - Thích Chân Hỷ
TỰ THIÊU Ở MỸ
Tu sĩ Phật giáo Việt kiều Mỹ tên thật Lê Văn Vệ sinh 1929 tại Thừa Thiên Huế -- Mất 2003 ở Mỹ (75 tuổi).

Nguyên sĩ quan chế độ cũ sau 75 phải đi học tập.
Ra trại đi H.O qua Mỹ năm 1991 với vợ và 9 người con.
Bất ngờ chỉ một năm sau xin thí phát quy y với Đại lão hòa thượng Thích Tâm Châu trước 75 là Viện trưởng Viện Hóa đạo Phật giáo VN thống nhất ở Sài Gòn. Được ban cho pháp danh Thích Chân Hỷ với ý nghĩa niềm tin tôn giáo đem lại niềm vui thực sự (chân hỷ).
Phục vụ đạo pháp tại chùa Liên Hoa ở bang Bắc Carolina.

Nhưng sau 11 năm sống dưới cửa Phật lại đưa đến kết quả tự nguyện tự thiêu tại chùa vào rạng sáng ngày 24.12.2003 – đúng dịp lễ Giáng sinh của giáo dân đạo Thiên Chúa! - để lại di nguyện đây là hành động đấu tranh “đòi tự do tôn giáo” cho người dân VN ở trong nước.

1.118 - Thuận Thị Trúc
NỮ FULRO 2
Giáo viên sinh khoảng 1951 tại Ninh Thuận. Sống ở Ninh Thuận(1982).

Người dân tộc Chăm trước 75 là văn công tham gia dạy văn nghệ tại Trung tâm Văn hóa Chàm ở Phan Rang do Pháp thành lập lấy danh nghĩa viện trợ văn hóa cho chế độ VNCH.

Lấy chồng là một nhân vật uy tín trong cộng đồng Chăm nên được Pháp đưa cả 2 vợ chồng qua Campuchia rồi qua Pháp dự định sử dụng trong mưu đồ chính trị lập “Vương quốc Chàm” riêng ở cả VN lẫn Campuchia.
Nhưng thời cuộc ở miền Nam xoay chuyển ngoài ý muốn khi Mỹ nhảy vào thay chân Pháp nên người chồng sống đời lưu vong kéo dài vô vọng trên đất Pháp thất vọng sinh bệnh qua đời.

Chồng chết còn lại một mình bơ vơ nuôi 2 con nên năm 1973 được Pháp đưa về nước trở lại làm việc cho Trung tâm Văn hóa Chàm ở Phan Rang.
Sau 30.4.1975 một lần nữa được Pháp móc nối định đưa qua Pháp chuẩn bị cho một mưu đồ chính trị khác áp đặt vào VN, tuy nhiên từ chối thẳng vì đã có kinh nghiệm làm kiểu “chốt thí chính trị” rồi. Thay vào đó chấp nhận xin chuyển ra làm giáo viên: “Nếu có ai bảo tôi đem một ngày yên tĩnh hiện nay đổi lấy cả một cuộc đời danh vọng giàu sang từng nếm trải rồi tôi cũng xin từ khước thôi…”

1.119 - Tiêu Văn Tấn
ĐẠP XE ĐI TÌM MỘ LIỆT SĨ NHIỀU NHẤT
Bộ đội về hưu sinh 1947 tại Hà Nội. Sống ở Hà Nội (2011).

Năm 1964 nhập ngũ vào chiến trường Quảng Trị.

Năm 1972 bị trọng thương được đưa về hậu phương miền Bắc điều trị. Ra viện chuyển về làm ở Tổng cục Hậu cần đến 1992 về hưu.

Bắt đầu từ năm 1996 một mình lên yên xe đạp đạp vào Quảng Bình tìm mộ đồng đội liệt sĩ một thời đánh Mỹ. Hành lý mang theo giống y như một bộ đội thời chiến chỉ khác là bây giờ thêm nhiều loại thuốc cảm cúm, đau bụng đau mắt… phòng ngừa bệnh già.

Tìm được mộ nào – hay thông tin về mộ - thì báo tin về quê cho gia đình liệt sĩ biết.

Cứ thế đều đặn mỗi năm đạp xe tiếp tục cuộc hành trình dài đăng đẳng đó ít nhất 2 tháng vì sức khỏe tuổi già không cho phép song nghỉ ngơi ở nhà vẫn cặm cụi tìm kiếm thêm thông tin, nghiên cứu hành trình sắp tới. Mỗi chuyến đi chọn một tỉnh thành từ miền Trung lên Tây Nguyên đến miền Nam, qua cả Campuchia và Lào.
Kết quả trong hơn 15 năm qua tổng cộng đã tìm thông tin giúp quy tập được 1.677 mộ liệt sĩ đa số quê miền Bắc trong đó có 250 mộ ở Lào và 160 mộ ở Campuchia.

Có lần đang trên đường giong ruỗi xe đạp thì bị tai biến phải vào nằm viện 2 tháng. Nhưng khỏe rồi lại cột ba lô sau xe lên đường: “Khi nào chân không còn tha được thân mới thôi đi”!

1.120 - Tiffany Nguyệt
LẶN LỘI TÌM CHA TRÊN ĐẤT MỸ
Việt kiều Mỹ. Sống ở Mỹ (2012).

Bị cha Mỹ bỏ rơi về Mỹ trước 1975, ở lại cùng mẹ, lớn lên lấy chồng có con.
Năm 1990 cùng mẹ và chồng con được đi định cư Mỹ theo diện con lai.
Trên quê cha nhờ nhiều tổ chức, bạn bè tìm kiếm tông tích cha ruột bằng mọi cách.

Năm 2011 tìm được một cựu binh Mỹ cũng đang nóng lòng đi tìm tin tức một đứa con còn trong bụng mẹ mà ông để lại VN năm 1970, cả hai ngờ ngợ nghĩ rằng có lẽ là cha con thật nên quyết định đi thử AND để xác minh (lúc này mẹ đã mất nên mất “nhân chứng” quan trọng nhất). Nhưng thật thất vọng kết quả không phải!

Dù vậy mình vẫn xin nhận ông là cha nuôi vì “”Cháu khát khao có một người cha hơn bao giờ hết”.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

KHÁT VỌNG TÔI - NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO

nhỏ giọt tri ân lên đại dương
hơi thở ruộng đồng buông chùm lên tóc
chợ khuya vắng bóng con đò
sâu thẳm lòng đêm trượt dài xóm nhỏ

bôlêrô cũ mềm trên mắt
gió gợn phía không mùa
về bên cánh đồng chum
ban mai óng vàng sợi nắng

nhỏ giọt tri ân lên mặt hồ khát vọng
hoa điệp vàng lay giấc mơ trưa

chật chội trong mùa trăng cuối mùa gió nổi
chung chiêng giấc mơ phía cỏ hoang tàn
khát vọng hiến dâng lên tầng cơn sóng
trên dải ngân hà những cánh sao rơi

người đàn bàn búi tuổi mình lên tóc
vỡ giọt mồ hôi lênh láng tuổi trần
đất nứt đường chân trời sâu thẳm
khi chạm vào vỡ vụn những thanh âm

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM

TÍNH HIỆN THỰC VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO
TRONG THƠ TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM
QUA “THƯƠNG SƠN THI TẬP”

NGUYỄN PHƯỚC BẢO QUYẾN

Trong vườn hoa đầy sắc hương của văn học Việt Nam thế kỷ XIX, Tùng Thiện vương Miên Thẩm, hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng, là một cây bút tài hoa, một nhà thơ nổi tiếng. Tùng Thiện vương đã để lại cho đời một khối lượng trước tác khá lớn, văn cũng như thơ. Về thơ, chỉ riêng Thương Sơn thi tập cũng đã gồm đến chín tập(1 ) (khi khắc in bằng bản gỗ năm 1872 được gộp lại còn tám tập và chia thành 54 quyển với trên dưới 2500 bài thơ). Đây là tập thơ làm nên danh vị “thất Thịnh Đường”( 2) của Vương. Thương Sơn thi tập là tâm huyết của cả cuộc đời Ông Hoàng Mười; là thao thức, dằn vặt trong sâu thẳm của tâm hồn một con người luôn luôn suy nghĩ về bản thân cũng như thế giới xung quanh mình: nhân dân, đất nước. Một cách khái quát, có thể nói Thương Sơn thi tập là tập thơ chữ Hán có qui mô vào loại lớn nhất trong thế kỷ XIX. Qua hệ thống cấu trúc nội dung cũng như qua hệ thống đề tài, chủ đề, hình tượng và thể thơ, tập thơ đã kế thừa và phát huy được những giá trị nội dung cùng nghệ thuật truyền thống của văn học trung đại. Trong một số mặt, Thương Sơn thi tập có thể đối diện với thơ Đường, khẳng định khả năng sử dụng chữ Hán trong nghệ thuật văn chương của người Việt không thua kém gì người Trung Quốc.Và xét trong chiều sâu của nội dung phản ánh; của tư tưởng, tình cảm sáng tác, Thương Sơn thi tập là tiếng nói thiết tha của Tùng Thiện Vương trước những vấn đề lớn của quê hương, đất nước và của bản thân nhà thơ. Bên cạnh mảng thơ bộc lộ xu hướng muốn sống cuộc sống ẩn sĩ, nhàn tản, tiêu sái, xa lánh lợi danh là mảng thơ thể hiện lòng ưu thời mẫn thế, lo lắng cho tiền đồ của đất nước, dân tộc. Bên cạnh mảng thơ thể hiện ý thức bảo vệ trật tự phong kiến, ý thức tôn quân, trung quân là mảng thơ phản ánh hiện thực đen tối của thời đại, đất nước trước và sau khi bị thực dân Pháp xâm lượctrong đó nổi bật mảng thơ phản ánh cuộc sống cùng khổ bi đát bởi tai trời, ách nước; bởi chế độ quân chủ phong kiến; bởi bọn cường hào, ác bá và bọn tham quan ô lại với nỗi bất bình, phẫn nộ mạnh mẽ, với tấm lòng thương xót, thông cảm sâu sắc...
Mặc dù xuất thân là một vị hoàng tử sống trong quyến quí cao sang nhưng Tùng Thiện vương lại chọn cho mình một cuộc sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên và quần chúng lao động. Thấm nhuần ba nguồn tư tưởng Nho, Lão, Phật, mến mộ cách sống của các bậc hiền nhân cao sĩ trong rừng nho bể thánh, Vương thích cuộc sống vui thú với ruộng vườn; làm bạn với núi đồi khe suối, với sông dài trời rộng, với mây nước gió trăng để thưởng thức thú yên hà phong nguyệt. Do vậy Vương thường đi đây đi đó và càng đi Vương càng thấy nhiều sự việc mà một ông hoàng như Vương nếu không đi thì không thể nào hiểu biết và tưởng tượng ra được như ông từng tâm sự :
Sinh trưởng chốn quí sang
Đói cơm chưa từng biết
Mắt thấy thêm thê thiết …(*)
(Đêm lên đường ở Quảng Lộc)
Sinh trưởng phú quí trung,
Vị tằng giai cơ khách
Xúc mục bội thê thiết …
(Quảng Lộc dạ phát)
Mang tâm hồn Đỗ Phủ đời Đường, Tùng Thiện Vương đã phản ánh những điều “mắt thấy thêm thê thiết” ấy vào trong thơ mình và qua đó bày tỏ lòng xót thương vô hạn đối với nỗi khổ mà người dân phải chịu đựng.
Với tấm lòng nhân hậu, chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo, một lần, trong dịp thanh minh, đi tảo mộ, chứng kiến cảnh một người dân lặng lẽ ngồi khóc bên ngôi mộ mọc đầy cỏ dại nơi cồn hoang trong khe núi lúc màn đêm dần buông xuống, không ngăn được niềm xúc động, Vương đã ghi lại cảnh tảo mộ rất tội nghiệp của người dân ấy qua bài Tảo mộ hành (Bài hành tảo mộ) :
Cồn vắng chim bay, xuân, cỏ lục,
Mưa phùn rây, đêm tối người khóc
Một chén cơm tẻ, một bát canh …
… Giấy tiền lách tách, mây đen vần,
Nước mắt hòa vào khe nước gần.
Dòng khe lặng chảy trôi màu huyết,
Ngủ mãi trong mồ hồn chẳng biết.
Cạy rêu, nhổ cỏ, một mình về,
Ngoái đầu núi đêm lửa ma biếc. (*)
(Hoang khư điểu sí xuân thảo lục
Vi vũ như yên nhân dạ khốc
Nhất vu mạch phạn bán bôi canh …
… Chỉ tiền sách sách âm vân đê
Lệ lưu thiêm thủy chú tiền khê
Khê thủy vô thanh huyết lưu xích
Trủng trung trường miên bất tằng thức
Bát đài tiễn thảo hoàn độc qui
Hồi thủ sơn sơn dạ lân bích.)
Bài thơ tả rõ từng chi tiết mắt thấy tai nghe. Giữa cảnh mưa phùn, trong bóng hoàng hôn, một người ngồi khóc lặng lẽ bên một ngôi mộ nơi cồn hoang vắng vẻ với đồ cúng hầu như chẳng có gì : nửa bát canh, một chén cơm, một xếp giấy tiền ... Trước tình cảnh đó, nhà thơ tự hỏi không biết người chết ngủ trong mồ có buồn không. Cảnh cũng như người, thật buồn thảm, tội nghiệp! Và người chứng kiến cũng buồn không kém. Giọng điệu thơ, hình ảnh thơ gợi lên biết bao thương xót trong lòng người đọc thời ấy cũng như bây giờ.
Nhân dân lao động mặc dù đã phải làm lụng vất vả suốt ngày, suốt tháng, suốt năm nhưng cơm vẫn không đủ ăn, áo vẫn không đủ mặc. Hình ảnh người phu đẩy xe chở đất, đem bát mồ hôi đổi lấy bát cơm cũng đã được Vương ghi lại sinh động qua nét bút đầy trắc ẩn, xót thương trong bài Thổ xa dao (Bài ca xe đất) như sau :
Lạch cạch! Lạch cạch!
Đường đầy, xe chật.
Ngày hết, đêm tàn,
Tiếng xe không dứt ...
... Xe phóng nhanh, mồ hôi đẫm ướt,
Đêm mát còn hơn ngày nóng bức.
Ngẩng mặt nhìn trời xanh,
Máu đọng trong tròng mắt (*).
Cách kiệt ! Cách kiệt !
Mãn nhai xa triệt.
Nhật một, nguyệt một,
Xa thanh bất tuyệt…
… Xa như phong, hãn như tuyết,
Dạ lương do thắng trú chi nhiệt.
Ngưỡng nhất tác thương thiên,
Cao cao nhãn lưu huyết.
Và còn biết bao nhiêu người khác cũng khổ như thế từ người dân phu kéo gỗ trên rừng về xây lầu đài, cung điện phải chịu cảnh “Đá cào gai chích thân rách bươm,/ … Khí lạnh, hổ gầm, nước khe độc/ Ai chẳng có nhà, nhà thiếu ăn/ Khi đi tóc ngắn, về gầy rộc/ Năm ngoái hát hò, nay chỉ khóc – Hò dô ta” (Thạch tuần đãng thích sang mãn thân/ … Lam hàn hổ cao tuyền thủy độc/ Nhân thùy vô gia, gia bất túc/ Hành thời đoản phát, qui vô nhục/ Khứ niên thượng ca, kim thả khốc – Hô ta hồ) cho đến kẻ mò đãi vàng đầu sông ngọn suối “mình trần ngâm dưới nước/ rét cóng gần chết queo (Xích thân một tằng ba/ Đống tử cửu nại tô) để “chỉ mong đủ nộp thuế/ đâu dám mong phần dư” (Đản nguyện túc thường phú/ Yên cảm vọng kỳ dư – Kim hộ thán) nhưng “khốn khổ thay thuế thường khó chạy đủ, đành phải chịu huỷ tàn tấm thân hèn này; bẻ gãy cánh tay há không đau/ May ra được giảm nửa thuế – Lời than của gia đình mò đãi vàng” (Thường phú khổ nan túc/ Toại nhẫn tàn vi khu/ Ảo tý khởi phi thống/ Hạnh đắc giảm bán thu – Kim hộ thán) ... Tất cả những kiếp người ấy đều lâm vào cảnh “trống ruột, rau thay cơm/ cóng xương lửa thế áo – Nhà nghèo”(Hạo tràng sơ thế phạn/ Đống cốt hỏa vi y” – Bần gia). Tình cảnh đáng thương ấy đã đươc Tùng Thiện vương Miên Thẩm ghi lại rất chân thật và đầy xúc động trong thơ mình!
Bên cạnh nỗi khổ cực hàng ngày, nhân dân lao động, nhất là nông dân, còn phải thường xuyên lo lắng tai trời, ách nước. Hạn hán khiến người nông dân vất vả, khổ sở, lo đạp nước mong tưới cánh đồng cháy khô :
Rồng trốn năm nay mưa chẳng có
Nông dân đầm núi đều kêu khổ
Nước mắt dầm, thân đẫm mồ hôi
Tưới đất khô nguyện theo nước đổ … (*)
( Bài hành xe đạp nước)
(Kim niên quai long bất hành vũ
Sơn nông trạch nông các ngôn khổ
Lệ tuyền bị diện hãn mạn phu
Nguyện trục tào lưu chú tiêu thổ … )
(Thủy xa hành).
Đã thế mà lại còn bị cảnh“mới sáng sớm đã có thư lại đến thúc tô đòi tiền” (Tảo hữu thôi tô lại sách tiền – Thủy xa hành). Nhưng vẫn chưa hết khổ! Người nông dân còn phải khổ vì nạn sâu bọ phá hại mùa màng gây nên cảnh mất mùa, đói khổ. Bài “Miêu thương hành” (Bài hành lúa chết non) sau đây đã chỉ ra cảnh khổ của nông dân bị mất mùa vì thiên tai cùng niềm thương cảm của Vương đối với họ :
Ruộng cao hạn hán lúa khô quắt,
Ruộng thấp nước sâu không thấy đất ...
... Ruộng thấp hóa đầm sâu, vạn mẫu
Mạ xanh thước năm cấy không thấu
Ruộng cao đất nẻ hình mai rùa,
Suốt ngày trời thổi miết gió mùa.
Xoay trời chuyển đất ai làm được,
Ruộng thấp xin cho ruộng cao nước?(*)
(Cao điền miêu khô khổ vô vũ
Đê điền thủy thâm bất kiến thổ…
… Đê điền vạn mẫu vi trạch quốc
Xích ngũ thanh ương trừu bất đắc
Cao điền qui triệu tích công cung
Tận nhật xuy sát đông nam phong
Hồi thiên chuyển địa thục năng nhĩ
Đê điền khất dữ cao điền thủy.)
Éo le thay cho người nông dân! Làm ruộng cao thì khô hạn, làm ruộng thấp thì ngập úng. Sức người không điều chỉnh, chuyển hóa được sức trời vì phương tiện canh tác còn quá nghèo nàn lạc hậu đành phải đứng nhìn cây lúa chịu cảnh chết non để rồi phải chịu cảnh mất mùa, đói khổ. Đau xót biết bao!
Năm Tự Đức thứ 18 (1865 – năm Ất Sửu) do hậu quả thiên tai dẫn đến mất mùa suốt bốn tỉnh miền Trung từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi nên dân tình rất khốn khổ . Trước tình cảnh bi đát ấy, đa số người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi phải vượt đèo Hải Vân, dắt díu nhau ra Kinh đô kiếm sống. Nhìn thấy cảnh những người dân xứ Quảng tha phương cầu thực, lang thang đầu cầu cuối chợ, rách rưới, khốn cùng, Vương xúc động viết bài Lưu dân thán (Lời than của dân lưu lạc) :
Thân một người nửa sinh nửa tử,
Đi chẳng được mà dừng cũng khổ ...
... Quê cũ vừa qua lụt, hạn nghiệt,
Khắp nơi lúa xanh thành lúa lép.
Kho lương chẳng đủ cho quân dùng,
Phát chẩn nhiều nhưng bụng vẫn xép.
Vượt ải lên kinh đã hai tuần,
Gầy đét thân, rách bươm áo quần.
Kẻ chết bỏ xác vùi bụi gần,
Người sống rên bò muốn liệt thân.
Thương thay dân bốn huyện Quảng Nam!...(*)
Đọc bài thơ ta thấy thương cảm đến nghẹn ngào trước tình cảnh đói khổ của đồng bào ta trong thiên tai và ta càng cảm động biết bao trước tấm lòng thương xót đầy nhân hậu của nhà thơ. Những lời than thở trong bài thơ không phải chỉ vì mối động tâm bất chợt mà xuất phát từ một cõi lòng chan chứa yêu thương, một tâm hồn giàu lòng nhân ái, giàu thiện cảm với người dân nghèo, cảm thông sâu sắc nỗi khổ của họ.
Nhưng nào đã hết! Hết khổ vì hạn hán nhân dân còn phải khổ vì lũ lụt :
Tháng chín chưa rơi sương,
Lũ nguồn mồng bảy trương.
Mây mờ che nắng sớm,
Nước lớn ngập đồng nương … (*)
(Nước lụt)
(Cửu thu sương vị lạc,
Thất nhật thuỷ sơ qui.
Cự tẩm liên bình dã,
Trùng vân cốt thự huy …)
(Thuỷ)
Thế rồi có biết bao người chết trôi theo dòng nước lũ, biết bao kẻ thiếu đói kêu van! Chứng kiến cảnh ấy lòng Vương không dằn được nỗi xót xa, ái ngại :
Trôi chết, thấy, sầu muộn,
Đói kêu, nghe, xót thương.
Sao đành no ấm hưởng,
Ái ngại lệ buồn vương. (*)
(Nước lụt)
(Kiến sầu vô chửng nịch,
Thân thính hữu đề ky.
Hà ý cam ôn bão,
Hàm tình song lệ huy.)
(Thuỷ)
Hà ý cam ôn bão/ Hàm tình song lệ huy (Sao đành no ấm hưởng/ Ái ngại lệ buồn vương). Biết bao thương xót trong hai dòng thơ ấy !
Bên cạnh lũ lụt, hạn hán lại còn thêm dịch bệnh, lính thú ! Chính những tai ách này đã đẩy người dân trong xã hội thời ấy lâm vào cảnh “hết chốn nương thân” :
… Nông ngư hết sống, khổ cùng cực.
Ruộng mùa lúa chín thu vào kho,
Nước cóng, khó ngâm mình bãi trúc,
Năm canh còi rúc canh phòng hổ,
Đuổi cá tinh sương chống vịt mổ,
Chai cứng chân tay mong đủ no,
Như nhau, đói, rét đều chết bỏ.
Năm nay ma dịch hành ba lần,
Tối còn, sớm chết, tội nông dân.
Trẻ lớn, trẻ bé sung tự vệ,
Chài vợ, chài chồng cùng xuống mộ …
… Sớm muộn sẽ thành lính thú hết,
Chài con về gói xương chài chết. (*)
(Hết chốn nương thân)
(… Vi nông vi ngư khốn sinh lý,
Đạo điền cốc thục tận thâu thương.
Trúc chữ ba hàn nan nhập thủy,
Truyền canh cảnh hổ xuy ngưu giác,
Xung hiểu khu ngư xanh áp chủy,
Thủ túc biền chi vị phục mưu,
Khổ cơ, khổ hàn đẳng chi tử.
Kim niên dịch quỷ tam dộ hành,
Dạ thoại triêu lai nông bất sinh.
Đại nhi tiểu nhi lệ hương dõng,
Ngư phụ ngư phu dữ xuyên trũng.
Tảo vãn tiễn cánh cùng nhung tốt,
Ngư nhi qui lai lõa ngư cốt.)
(Cùng cư)
Vì sao lại phải có cảnh «chài con về gói xương chài chết »? Lý do là :
Năm kia rợ Tây đánh Quảng Nam
Quan quân thua trận máu thành đầm …
… Năm nay dụng binh khắp nam bắc,
Vạn đội quân chia đi đánh giặc …(*)
(Bán áo giấy)
(Nẵng tuế tây di phạm Quảng Nam,
Quan quân chiến bại huyết thành đàm.
… Kim niên dụng binh biến nam bắc,
Cấm quân vạn đội phân bình tặc …)
(Mại chỉ y)
Lính thú chết có người tìm được xác nhưng đa số không tìm được. Sau tin báo của quan quân về cung vua, họ phải tìm mua áo giấy để cúng cầu hồn cho người thân của mình nhưng nào mua được vì ai cũng cần áo giấy :
Đêm qua hịch báo về cung vua,
Già nửa chết tìm không thấy xác.
Xóm đông nhà tây lệ thảm tuôn,
Nhiều năm khởi binh càng đáng buồn
Cơm tẻ canh cá cũng khó gặp,
Xứ nào ham tiền bán áo luôn ?…(*)
(Bán áo giấy)
(Tạc tiêu vũ hịch báo Cam Tuyền,
Cường bán tử vong thi bất đắc.
Đông lân tây xá khốc thanh hy,
Tần tuế quân hưng ích khả bi
Mạch phạn ngư canh diệc nan ngộ,
Hà xứ cầu tiền mại chỉ y ?…)
(Mại chỉ y)
Và đây là hình ảnh người thiếu phụ làm nghề vàng mã không chịu bán áo giấy vì đang cần áo để cúng cầu hồn người thân chết mất xác :
Một gian nhà nát người trú thân,
Quần áo rách bươm, đầu bù rối,
Mặt đầy bụi bẩn buồn thanh xuân.
Giấy mỏng tầng tầng trắng toát đất,
Cắt thành áo phơi trưa nắng gắt
Nghề này hỏi chị lãi bao nhiêu
Nói chẳng ra lời, tuôn nước mắt …
… Người thân tôi có trong số ấy,
Không bán, áo này cần dùng tới,
Cầu trời tạnh ráo áo mau khô,
Kịp đến tối chuyển về âm giới.(*)
(Bán áo giấy)
(Nhất gian phá ốc trung hữu nhân,
Tệ bố già hình loạn bồng thủ,
Châu nhan trần cấu sầu thanh xuân.
Bạc chỉ tằng tằng loát bạch thổ,
Tiễn tác minh y bộc đình ngọ
Vấn cừ nghiệp thử lợi kỷ hà,
Khẩu bất năng ngôn lệ như vũ …
… Thiếp gia thân đảng tại kỳ nội,
Sự vật sở tu bất kỳ mại.
Nguyện thiên tình tể y tảo can,
Cập đáo hoàng hôn tống minh giới.)
(Mại chỉ y)
Tình cảnh của người dân sao mà tội nghiệp! Phải có một tấm lòng đồng cảm sâu sắc với tình cảnh của nhân dân; phải có một tình cảm gắn bó, yêu thương da diết với đồng bào mình mới có được những dòng thơ đầy xúc động như thế!
Rồi Tùng Thiện Vương đã không ngần ngại chỉ thẳng vào nguyên nhân gây nên tình cảnh nghèo đói, cùng khổ của người dân đen trong xã hội đương thời. Đó là nạn hà hiếp, đục khoét của bọn cường hào, quan lại. Xuất phát từ tư tưởng ái dân, Vương càng lên án, kết tội những kẻ hại dân hại nước ấy. Mượn chuyện đôi chim gõ kiến ăn sâu mọt trên cây đại thụ, Vương gay gắt lên án những kẻ sâu dân, mọt nước trong xã hội đương thời qua bài Trác mộc điểu (Chim gõ kiến):
... Bay vào cây đại thụ,
Chim trống chọn được cành,
Biết bao nhiêu sâu bọ.
Miệng thèm mặc sức ăn,
Ngàn vạn, ăn vô số.
Ăn no liền bay đi,
Chim mái tiếp vào đó.
Sâu bọ biết đâu nhờ,
Một đời hết cứu độ.
Mọt cây tội đã đành,
Đâu bằng mọt nước nọ. (*)
(Hùng lai chi thượng nhiễu
Thê đắc hảo thụ chi
Trùng đố bất vi thiểu.
Sàm khẩu tứ sở dục
Bách vạn cung nhất bão
Bão lai khước dương khứ
Thư lai phục như cố.
Xi xi diệc hà liêu
Nhất sinh bất năng độ
Đố mộc tín hữu tội
Hà như bỉ bang đố.)
Càng nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống, Vương càng xót xa trước nỗi khổ của dân lành trong xã hội mình đang sống. Người dân không chỉ phải chịu sưu cao thuế nặng mà còn bị nhiều khoản đóng khác nữa chẳng hạn như lệ phải nộp “tiền trầu cau” mỗi khi “có việc” đến cửa quan. Đến cửa quan là phải nộp tiền hối lộ mà để hối lộ, người dân phải cầm cố cả nhà, bán cả vợ. Tình cảnh bi thương đó đã khiến Vương chua xót, bất bình. Qua bài “Phù lưu tiền hành” (Bài hành tiền trầu) Vương cho ta thấy nỗi khổ của người dân lành trước sự nhũng nhiễu của bọn quan lại:
Sáng đã dâng tiền trầu
Tối lại dâng tiền trầu
Quan lớn có xơi trầu
Dân mới khỏi oan sâu.
Quan lớn trong nhà tiền mục bở,
Dân đen bán nhà, bán cả vợ.
Thân này tuy còn, nhà đã tan,
May thoát gông nghĩa vợ chồng tàn.
Vợ bồng con nhìn chồng từ biệt,
Bên lộ nhai trầu nước mắt chan. (*)
(Triêu tiến phù lưu tiền
Mộ tiến phù lưu tiền
Đại nhân khiết phù lưu
Nãi tuyết tiểu nhân oan
Đại nhân đường trung tiền sách hủ(3)
Tiểu nhân mại gia hoàn mại phụ …
Thử nhân tuy tồn gia dĩ hưu
Gia tỏa hạnh thoát phụ nan lưu
Bảo nhi tạm lai dữ phu biệt
Lộ bàng đối khấp xan phù lưu.)
Người dân lành nghèo khổ đến hạng cùng đinh như người vác tre bán nuôi thân mỗi ngày cũng không khỏi bị hà hiếp, chèn ép, chiếm đoạt của cải … Xót xa trước cảnh ấy, Vương thác lời người bán tre nói lên nỗi oán hận của họ và rất đồng cảm với sự phản kháng trong nỗi đau bất lực của họ :
Ngày vác hai cây bán,
Tiền đủ nuôi bụng chán.
Trong cửa núi tre cao,
Ngoài cửa tiền chẳng trao.
Không nói xiết bao khổ,
Nói ra roi quất người lảnh đủ.
Ôi, than ôi!
Quay về chừ nước mắt chứa chan,
Từ rày về sau tre chẳng đẵn,
Đói nằm trong tre chết cũng đáng. (*)
(Bài hát bán tre)
(Nhật phụ lưỡng can trúc
Mại chi dĩ sung phúc
Môn nội trúc như sơn
Môn ngoại tiền bất hoàn
Bất ngôn nhất hà khổ
Ngôn chi trường tiên, thả tiên nhữ
Y, ta ta!
Qui khứ lai hề, lệ bàng đà
Tòng kim nhi hậu vật phạt trúc
Cơ ngọa trúc gian tử diệc túc.)
(Mại trúc dao)
Có thể nói, với những dòng thơ “tố cáo quan lại và cường hào đanh thép nhất trong thơ ông và có lẽ cả trong thơ ca thế kỷ XIX, Tùng Thiện vương quả là một nhà thơ hoàng tộc tiến bộ giữa thế kỷ XIX” (Lương An – Miên Thẩm, một nhà thơ hoàng tộc tiến bộ giữa thế kỷ XIX – Tạp chí văn học số 3 - 1981)
Chẳng những thương xót cho những cảnh đời khốn khổ của những người dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng trước nạn tham ô nhũng nhiễu của bọn quan lại, cường hào, Vương còn ngậm ngùi cho những cảnh đời phụ nữ bất hạnh trong xã hội thời ấy. Số phận đầu tiên mà Vương bày tỏ niềm xót thương đó là số phận của những người vợ có chồng phải đi chinh chiến nơi xa. Thông cảm sâu sắc nỗi buồn thương, mong nhớ của người cô phụ, Vương đã nhập thân thay lời người chinh phụ viết lên những dòng sầu thảm :
Từ lúc chàng đi khỏi,
Ngày đêm dáng tổn hao.
Nhớ chàng như lưới nhện,
Động đến ruột liền đau. (*)
(Từ lúc chàng ra đi)
(Tự quân chi xuất hỹ
Nhật dạ tổn dung quang
Tư quân nhược thù võng
Xúc xứ tiện hồi trường
(Tự quân chi xuất hỹ)
Bằng những lời thơ súc tích, Vương đã nói lên được nỗi niềm thương nhớ cũng như dung nhan hao gầy, tiều tụy của người cô phụ. Trong bài thơ có những từ được tác giả sử dụng rất gợi tả và cũng rất biểu cảm. Từ “tổn” ở câu hai càng làm tăng vẻ tiều tụy của dung nhan người vợ; từ “thù võng” ở câu ba – tơ nhện giăng màn – một hình ảnh ẩn dụ cho tơ lòng của người cô phụ, gợi người đọc liên tưởng đến nỗi nhớ thương vương vấn không nguôi của người chinh phụ một mình một bóng chốn khuê phòng.
Cùng dòng cảm xúc trước nỗi buồn khổ của người cô phụ Vương còn có thêm bài Kim tỉnh oán (Nỗi oán nơi giếng vàng) :
Mỹ nhân soi bóng giếng vàng,
Thấy nơi đáy nước dung nhan phai tàn.
Phòng không chẳng dám về nằm,
Bóng ngô trăng chuyển sầu càng khó vơi. (*)
(Mỹ nhân chiếu kim tỉnh
Tỉnh để hoa nhan lãnh
Không phòng dạ bất qui
Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.)
Với những hình ảnh thơ giàu chất ước lệ của thơ Đường, bài thơ lột tả được nỗi buồn xót của người thiếu phụ phòng không gối chiếc khi mùa thu về, trăng thu lạnh, lá ngô đồng lung lay cùng bóng nguyệt, rụng dần theo gió heo may hiu hắt làm giá buốt trái tim cô đơn mòn mỏi đợi chờ ... Người đẹp soi mình trong bóng nước để rồi nhìn thấy nhan sắc của mình “càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha” (Tản Đà – Thề non nước) bởi vì chồng còn đang phải chinh chiến ở nơi xa ... Bài thơ gợi nhớ đến tâm trạng người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn qua bản dịch tương truyền của Đoàn Thị Điểm :
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như rứt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
Ý tứ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ của Đặng Trần Côn cũng như của Tùng Thiện vương, tất cả đầu toát lên niềm thương cảm sâu xa trước nỗi cô đơn, buồn nhớ của người cô phụ.
Bên cạnh niềm thương xót cho số phận những chinh phụ là nỗi xót thương cho kiếp đời của những cung phi trong chốn thâm cung. Có thể kể ra đây bài cung từ viết về nỗi sầu chiếc bóng của các cung phi ở chốn cung Tần:
Chọn múa mời ca những cửa ai,
Cuốn rèm Tương ngóng đợi xe ngài.
Sâu sâu thượng uyển trưa rồi tối,
Ba sáu xuân xanh hết một đời. (*)
(Bài cung từ nhà Tần)
(Trưng ca tuyển vũ á thùy gia,
Độc quyển Tương liêm vọng đế xa
Thượng uyển thâm thâm triêu phục vãn
Xuân phong tam thập lục niên hoa.)
(Tần cung từ)
Bằng nét bút gợi cảm, trữ tình đầy phong vị Đường thi của thể “cung từ”(1), bài thơ là niềm thương cảm đối với người cung nữ sống trong cung A Phòng trên đất Hàm Dương của vua Tần ngày trước, khắc khoải đợi chờ cho đến khi tuổi xuân đã tàn. Ba mươi sáu mùa xuân qua đi, nàng kiên nhẫn đợi chờ. Biết bao lần cuốn rèm ngóng đợi xe vua tới ban cho ân sủng nhưng hết “trưa rồi tối”, hy vọng đã trở thành tuyệt vọng vì xe của nhà vua vẫn mãi mãi không đoái hoài. Biết bao người đẹp chôn vùi nhan sắc trong chốn tiêu phòng, tắt lửa lòng giữa nửa chừng xuân. Bài thơ nghe như một tiếng thở dài sầu muộn khắc khoải không nguôi.
Thương cho số phận của những cung phi sống héo hắt trong cung cấm từ thời Tần xa xưa phải chăng Vương muốn mượn chuyện cũ để nói lên lòng thương xót của mình đối với các cung phi, mỹ nữ trong cung cấm triều đại đương thời?
Nhìn chung lại, qua thơ “ông hoàng Mười” ta thấy hiện lên một xã hội trong đó người dân phải chịu nhiều khổ đau không chỉ bởi tai trời ách nước; bởi bọn cường hào, ác bá; bởi bọn tham quan, ô lại mà còn bởi nạn tuyển mỹ nữ làm cung phi của chế độ xã hội phong kiến đương thời … Tất cả những sự việc, những tình cảnh, những nỗi niềm ấy đã được nhà thơ hoàng tộc ghi nhận và diễn tả với tất cả lòng ưu ái, cảm thông cùng với nỗi chua xót, bất bình của mình. Từ đó có thể nói Tùng Thiện vương đã thể hiện qua thơ mình khuynh hướng hiện thực rõ nét và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Xét trong hoàn cảnh xã hội quân chủ chuyên chế thời bấy giờ, cá nhân xuất thân là một hoàng tử rồi là một hoàng đệ, một hoàng thân mà đã dành một mảng không nhỏ trong tác phẩm của mình cho những vần thơ giàu tính hiện thực và tính nhân đạo như thế, quả thơ Tùng Thiện vương là một hiện tượng hiếm có trong văn học thời phong kiến rất đáng để cho chúng ta trân trọng và yêu mến.

NPBQ
--------------------------------------------------------------------------------------------
Chú thích
(1 ) Đó là : Nhĩ hinh, Bắc hành, Ngộ ngôn, Hà thượng, Mô Trường, Bạch Bí, Minh Mạng cung từ, Bạch Bí tục, Mãi điền. Khi khắc in Minh Mạng cung từ được gộp chung vào Bạch Bí nên còn tám tập.
(2 ) Trích từ hai vế đối mà người đời đã vinh danh bốn nhân vật nổi tiếng về văn thơ thời ấy : “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”. (Siêu, Quát = Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát nổi tiếng về văn; Tùng, Tuy = Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương nổi tiếng về thơ thời ấy).
(3) Mượn ý từ câu thơ trong bài Thương trạch (Ngôi nhà đáng buồn) của Bạch Cư Dị ở đọan : Chủ nhân thử trung tọa / Thập tải vi đại quan / Trú hữu xú bại nhục / Khố hữu quán hủ tiền (Nhà chủ ngồi trong đó / Mười năm làm đại quan / Thịt thừa trong bếp thối / Tiền chứa ở kho tan).
(*) Bản dịch thơ của tác giả từ nguyên văn chữ Hán của thơ Tùng Thiện Vương.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( kỳ 14) -VÕ CHÂN CỬU

Vói Tay…
Tảng đá quăng xuống dòng suối tạo nên tiếng thác. Tôi đã nghe tiếng chảy ấy bao ngày, nhưng chẳng thể 2 lần vọng lại một thanh âm…

Ý trên của một triết gia thời cổ đại, ai cũng được nghe khi học năm Đệ nhất (lớp 12). Câu văn triết học có thể gợi nên nhiều tứ thơ. Nhưng khi câu không bắt nguồn từ cảm xúc thì bài thơ có khi thành xơ cứng, chơi chữ.
Cảm xúc, hoặc cảm hứng bắt nguồn từ đâu ? Có người giải thích nó là sự mặc khải hay đốn ngộ (như nguồn gốc tôn giáo). Nhà phê bình dung dị hơn gọi đó là độ “chín”. Mà để…chín, mọi sự đều phải qua… nấu; với cây trái là thời gian. Nhiều bạn thơ cho rằng như vậy không nhất thiết chờ ý tưởng triết học mới. Cuộc sống gần gũi biết bao điều. Cái đẹp vốn có sẵn. Tự bản năng là tình mẹ, lòng yêu quê hương, là khát khao tình yêu nam nữ.

Đẹp ngoài ẩn ngữ ?
Tập thơ Ngã Tư & Vầng Trăng của tôi in năm 1990 có nhiều bài trước 1975. Trước tiên, nhiều người nói thích nhất là bài lục bát 6 câu “Cảm Ơn” :

Anh làm thơ cảm ơn em
Cảm ơn cái dáng dịu hiền em đi
Cảm ơn đôi mắt thầm thì
Cảm ơn mái tóc đôi mi biết buồn

Cảm ơn đôi vú em tròn
Để đêm trái đỏ chin vườn chiêm bao


Dễ thuộc nhất là 2 câu cuối. Tôi nghe kể là trong một đêm thơ bất ngờ (không có mặt tác giả) ở Quy Nhơn , cô diễn ngâm và các bạn nữ nghe xong hai câu này đều…che miệng cười. Có phải vì “đôi vú” đã trở thành một từ cấm kỵ ? Hay vì câu thơ chưa hay, từ ngữ không diễn tả được cái đẹp mà bao nhiêu người đi trước đã phải dùng ẩn ngữ ? Miền cao nguyên tôi đang sống, những đàn ông dân tộc Mạ vẫn vang lên câu “nói thơ” mà nhiều nhà nghiên cứu nhất định nó gốc gác của thể thơ lục bát :

Chuốt mũi tên nhắm bắn trái cam
Anh thấy cái vú em tròn, anh muốn ôm hun !

(Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, nguồn cội thơ lục bát không nhất thiết phải là 2 câu sáu/tám chữ. Từng câu có thể “biến thể” so với quy định, nhưng khi gieo thì thì âm chữ cuối của câu 6 phải vần với chữ thứ 6 (đôi khi có thể linh động với chữ thứ 4) của câu 8. Khi “nói thơ” người đâu tiên đưa ra (hoặc chỉnh sửa từ một câu nói ) một tứ thơ, có vang âm từ ngữ hợp nhịp điệu, thì nói là thơ. Kẻ bắt chước, không có ý tứ hay từ ngữ nào gợi xúc cảm mới, thì nó chỉ là…vè).
Ra tới đảo Cù lao Ré (đảo Lý Sơn), tôi cũng đã từng nghe các bà vợ dân chài kể chuyện ngày xưa từng “hát thơ”, như hai câu:
…(Chớ) Chiều chiều con chong chóng nó quẫy cái đuôi
Anh nói thường em (thì) anh sít lại, (chớ) sao lại ngồi ngó lơ…
(con chong chóng tức con sao biển). Lối gieo vần và cách dùng hình tượng ấy khiến nhiều người làm thơ tự hào là “có học” hôm nay cũng đành phải thua. Sự so bì xin nhường lại cho những nhà thơ “cách tân”.

Tiếng chưa từng nói
VHMN giai đoạn trước 1975 có ai kế thừa những tinh hoa dân gian ấy hay không ? Có “nhà” nổi tiếng làm những bài mang âm điệu ca dao nhưng thật ra chỉ là một loại vè. Trên căn gác nhỏ ở đường Trương Minh Giảng, một bữa buồn tình, Vũ Hữu Định muốn chọc mọi người khi anh “khoe” đã làm được mấy câu thơ lục bát rất mới, rất”hiện thực”:
Vợ tôi mặc áo ca rô
Có hàm răng trắng điểm tô răng vàng !
Anh hài hước nói rằng làm như vậy đâu thua gì cách Nguyễn Bính đã diễn tả: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn…
Tất cả đều bật cười khoái trá. Tôi liền “họa” thêm mấy câu cho thành bài, cho trọn nghĩa:
Vợ tôi ăn nói dịu dàng
Quanh năm chỉ biết làm tàng với tôi.
-Thôi đừng nói nữa em ơi
Nồi cơm đã chín, ta ngồi vô. Ăn !
Nguyễn Bính dùng chữ và miêu tả nôm na mà thành thơ vì ông đã “chín” trong cái hồn quê ?

Nhà thơ Trúc Thông ở Hà Nội là tác giả tập sách “Văn Chương Ngẫu Luận” xuất bản năm 2002. Ông cho rằng: “Đều đều, lẻ tẻ hay vồng lên, cương lên, người đọc thơ đều chán như nhau. Thi ca “ăn” ở những phát giác độc đáo, chớp lên từ những cao trào chân thực cảm xúc”. Sách dành nguyên bài “Một Cách Nở Hoa” để tán thán bài thơ “Lót Dạ” chỉ có 2 câu của anh Khổng Vĩnh Nguyên, một nhà thơ “nông dân thứ thiệt” đang ở Bình Định:

Nắng nung rẫy cát khoai sùng
Con ăn lót dạ một vùng quê hương.

Người làm thơ này đã cho in tập thơ đầu tay “Thắp Lại Niềm Tin” từ năm 1973 ở Quy Nhơn. Tôi biết rõ anh và miền quê ấy. Sinh năm 1956, năm đó anh chưa hề đi lính, nhưng đã mượn vần lục bát để diễn tả nỗi lòng của một ai đó:

Mai Anh Giải Ngũ
Mai anh giải ngũ về rừng
Dựng nhà đốt rẫy, lưng chừng nỗi vui
Đưa em từ dưới miền xuôi
Lên đây thôi hết sụt sùi nhớ thương
Ở đây không có con đường,
Xuống trần gian chỉ một vườn trái xanh
Nghe oanh giục giã trên cành
Nắng hồng lớp lớp bên mành em giăng
.

Lời thơ chất phác, hiền hậu quá. Làm ra được câu thơ, phải từ cảm xúc trước cảnh ngộ, tình đời, chứ không nhất thiết bản thân mình đã trải qua. Cảnh thực mà người thơ đã trải qua, khi được diễn tả bằng ngôn ngữ thực lại có sức lay động, trong một bài thơ khác:

Em bỏ ta
Em bỏ ta lại một mình
Nắng khô gốc rạ chút tình bay xa
Ta ngồi nghe bóng chiều tà
Bỏ quên cơm nguội mẹ già rưng rưng
Mẹ già nhìn cơn gió rừng
Gió lang thang đắng, gió lừng khừng bay
Em xa ta xa đời này
Một mình ta dựa hàng cây ven đường !

Nhiều người cho rằng “Gió lang thang đắng, gió lừng khừng bay” mang hình tượng lạ quá, hay quá. Nhưng nếu nhà thơ chỉ hoàn toàn quẩn quanh trong “lũy tre làng”, trong những đường cày, nước lũ xưa cũ thì liệu hồn thơ có còn phát tiết tinh anh ?

Nhà thơ Đặng Tấn Tới trước đó đã trả lời câu hỏi này để rời cõi tình yêu thơ mộng để đi vào cái đẹp cao xa của cõi “Tâm Thu Kinh”:

Những Câu Thơ
Những câu thơ dội vài ba câu hỏi
Trời thơ kia sao vời vợi như không
Mây nước nọ có vì đâu bước mỏi
Qua lại hoài đầu núi, cuối nguồn sông

Những câu thơ căng xuống mộng tơ lòng
Tay phù phép em chạm vào giây phút
Ta vẫn hiểu sầu vui còn cao vút
Một khuya nào ai giải nghĩa trăng trong

Mười lăm hay mười sáu em đong
Tròn và sáng rằm chưa nguôi ước vọng
Ánh mắt làn môi đủ vang dội sóng
Giọt trùng dương chan chứa biết bao dòng
…..
Thơ là tiếng kêu, bàn tay vẫy gọi
Khi gió mây bay, nước chảy quên bờ
Chẳng là gì cũng rất đỗi nên thơ
Chim hót tự nhiên tiếng chưa từng nói…

( Thi tập Trúc Biếc)

Mắt Xanh
Câu thơ hay thường đến rất ngẫu nhiên, nhưng là “tình” đã chín. Có lẽ nhờ vậy mà có người suốt đời chỉ làm dăm ba bài, nhiều lắm là vài mươi bài, nhưng lại “để đời” !
Có thể xem đó là “của trời cho”. Anh Nguyễn Dương Quang ở tác giả bài thơ “Đêm Cuối Năm Viết Cho Má” công nhận điều đó. Anh làm thơ rất ít, không dám nhận mình là thi sĩ, chỉ làm thơ chép tăng bạn bè chơi. Vậy mà bài thơ trên lại khá nổi tiếng, được nhà phê bình Đặng Tiến trích khi viết bài tựa cho Tuyển tập “Thơ Miền Nam Thời Chiến” do Thư Quán xuất bản ở Hoa Kỳ :

“Hình như cây súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng xót xa không

Nguyễn Dương Quang vừa leo xe từ Đà Lạt xuống thăm “Sơn Núi” rồi vô thăm tôi. Anh kể: khoảng năm 1969 anh đóng quân ở quê nhà Phan Rí. Chàng sĩ quan trẻ hay mơ mộng này lại…mê một cô nữ sinh mới 15 tuổi ở một nhà hàng xóm. Anh làm quen và nắm được bàn tay cô gái. Để cách ly, cha mẹ cô nữ sinh tức tốc gửi con lên một nhà bà con ở cao nguyên Đức Trọng đi học . Nguyễn Dương Quang buồn quá, bèn làm hai câu thơ:

Vói tay cao hết sức mình
Níu cao nguyên xuống để nhìn thấy em !

Anh đem đến cho nhà thơ Phạm Cao Hoàng đang dạy học gần nơi anh ở để khoe. Phạm Cao Hoàng xem qua, hết lời khen và xúi: Ông làm thơ được quá ! Làm tiếp nữa đi ! Cuối cùng, sau nhiều năm, Nguyễn Dương Quang cũng cưới được người đẹp ấy.

Hai câu thơ trên cũng trùng “ý” với câu thơ mà Khổng Vĩnh Nguyên làm sau này:

Thương em nhón gót nhìn qua núi
Em đến em đi rất một mình


Những lời thơ chân thật như vậy không nhiều. Và để nó lọt và “mắt xanh” của người biết nhìn ra cái hay thì phải nhờ vào “duyên”. Đây cũng là cõi tình chân mà tôi xin nhắn gửi.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN HUẾ : SÔNG HƯƠNG HUYỀN ẢO SEN HỒNG HOA ĐĂNG

Sông Hương những ngày này thật huyền ảo với bảy đóa sen rực sáng tượng trưng cho bảy bước đi thanh tịnh của Đức Phật trong tuần lễ Phật đản tại Huế. Mỗi đóa sen cao 3,2m, rộng 7,5m.

Hàng ngàn cột đèn hoa đăng chạy dọc bờ bắc sông Hương, hắt bóng xuống dòng Hương lấp lánh, huyền ảo.

Cánh sen cao 2m, rộng 1,8m làm bằng vải hồng lụa, được đặt trên bảy chiếc bệ lớn nâng nổi bởi hàng chục chiếc thùng phuy, thắp sáng đến khi kết thúc đại lễ vào ngày 5-5 (15-4 âm lịch).

Lễ thắp sáng bảy đóa hoa sen trên sông Hương đã diễn ra từ 28-4, mở màn tuần lễ Phật đản tại Huế.

Tuần lễ Phật đản Phật lịch 2556 tại Huế sẽ có diễu hành thuyền hoa trên sông Hương; lễ tắm Phật và rước phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm; chánh lễ Phật đản Phật lịch 2556 tại chùa Từ Đàm.

Tuần lễ kết thúc bằng lễ hội hoa đăng tại khu vực Nghinh Lương Đình cầu cho quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Bảy đóa sen rực sáng trên sông Hương tượng trưng cho bảy bước đi thanh tịnh của Đức Phật
Chạy dọc bờ bắc sông Hương là hàng ngàn cột đèn hoa đăng, hắt bóng xuống dòng Hương huyền ảo

NGUYÊN LINH ( TTO )




Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

DÀNH TẶNG RIÊNG NGƯỜI - HOÀNG THỊ THIỀU ANH

Đó là buổi chiều
Lung linh cơn mưa bất chợt
Hàng sầu đông lặng lẽ thả lá vàng
Gặp lại anh
Sau bao ngày cách biệt
Xứ người

Chợt thấy trong lòng mình đổi khác
Thắc thỏm đợi chờ luyến nhớ vu vơ
Cơn mưa ơi sao thật nhiều bong bóng
Cho em đếm tháng ngày đã bỏ lại sau lưng

Em vẫn nhớ nhớ nhiều anh ạ
Khoảng trời kia em dành tặng riêng người
Em vẫn yêu,yêu hoài miền kỷ niệm
Của chúng mình
ngày đó. . .
yêu nhau

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 110 )

NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


1.101 - Phan Văn Tư
MẢNH ĐẠN NẰM TRONG PHỔI 36 NĂM
Nông dân sinh 1952 tại Vĩnh Long. Sống ở Vĩnh Long (2008).

Không chỉ một mà tới 2 mảnh đạn nằm trong phổi 36 năm do năm 1972 đi phát cỏ làm ruộng thì bị trúng nhiều phát đạn vào ngực không biết từ đâu, của “phe” nào. Được đưa đi cứu cấp, chạy chữa xem như lành rồi.

Nhưng không ngờ thực ra vẫn còn 2 mảnh đạn nằm sâu trong phổi không bị phát hiện. Mãi đến năm 2008 bản thân thấy bỗng nhiên hay đau ngực và ho ra máu mới đi khám bệnh chụp X-quang, bác sĩ viện quân y mới tìm ra 2 “thủ phạm giấu mặt” này. Được tiến hành giải phẫu an toàn.
1.102 - Phi Nhung
HOÀI NIỆM ĐỜI MỒ CÔI
Ca sĩ Việt kiều Mỹ tên thật Phạm Phi Nhung sinh 1972 tại Pleiku. Sống ở Mỹ (2012).

Trước 75, mẹ lấy chồng Mỹ nhân viên dân sự sinh ra mình rồi cha bỏ về nước để lại 2 mẹ con bơ vơ. Sau đó mẹ lấy chồng khác người Việt sinh thêm 5 con.

Năm 2000 mới 11 tuổi thì mẹ bị tai nạn qua đời nên 6 chị em phải qua sống nương nhờ nhà ông ngoại bà ngoại, riêng mình phải bỏ học ra ngoài đi làm thuê việc lặt vặt lấy tiền nuôi đàn em khác cha.

Đến năm 1989 một mình đi Mỹ theo diện con lai.

Trên đất Mỹ bắt đầu làm nghề lao động chân tay vất vả để sống còn từ quét dọn vệ sinh, bồi bàn đến may vá, tiếp viên nhà hàng. Có tìm người cha Mỹ nhưng vẫn biệt vô âm tín.

Theo đạo Thiên Chúa nên có tham gia hát trong dàn đồng ca nhà thờ nhờ hồi trươc thường quen hát ru em ngủ. Qua đó ngẫu nhiên được 2 đàn chị ca sĩ Hươg Lan và Trizzie Phương Trinh phát hiện thấy mình có giọng hát khá tốt nên hết lòng dìu dắt (bắt đi học thanh nhạc bài bản đàng hoàng), giúp đỡ cho bước vào nghề ca hát.

Từ năm 1993 dần có tiếng tăm trình diễn sân khấu, thu băng đĩa ăn khách và cả đóng phim nữa, có chỗ đứng trong làng ca sĩ hải ngoại.

Nhờ hát được cả tân nhạc lẫn cải lương, giọng ca buồn có nét riêng và đặc biệt chất trữ tình dân quê chất phát mà thật thà từ tiếng hát đến phong cách biểu diễn (mặc áo bà ba, đội nón lá…): “Tôi cũng thấy mình quê trong bản chất không thay đổi được. Lắm khi cũng tự an ủi thì quê cũng hay chứ có gì mà phải suy nghĩ!”

Nhưng ấy chính là “thương hiệu” của cô, gần giống như Hương Lan vốn là thần tượng thủa nhỏ của mình.

Làm được bao nhiêu tiền đều dành dụm gửi về nuôi các em, xây nhà cho các em ở Pleiku.

Năm 1998 trở lại quê hương lần đầu tiên, lên Pleiku thăm mộ mẹ và ông bà ngoại. Những lần về sau bắt đầu trình diễn sân khấu được nhiều người ái mộ.

Năm 2007 gặp một sự cố đời tư (bị lừa tiền, người yêu bỏ rơi…) làm suy sụp tinh thần phải nghỉ hát ba năm, còn tính đi tu nữa tưởng đã mất hết tất cả. May mà sau đó được bạn bè, đồng nghiệp động viên an ủi mới gượng dậy được để tiếp tục sự nghiệp.

Đến nay vẫn chưa lấy chồng để toàn tâm toàn ý lo cho các em. Không chỉ thế, còn nhận thêm 13 trẻ mồ côi làm con nuôi xây nhà ở Bình Phước cho ở chung.

Như một sự hoài niệm về thời thơ dại cùng các em phải sống đời mồ côi: “Tôi không nghĩ mình làm được điều gì lớn lao mà thấy đây là việc mình cần làm thôi. Cuộc sống của tôi vất vả nhưng cũng gặp được những tấm lòng thì mới có được ngày hôm nay.”

1.103 - Phương Hồng Ngọc
MỘT LẦN HỤT ĐI PHÁP
Ca sĩ Việt kiều Pháp sinh 1964 tại Cần Thơ. Sống ở Mỹ (2012).

Trước 75 là nữ ca sĩ chuyên hát phục vụ thương bệnh binh VNCH trong phong trào “Em gái hậu phương”. Lấy chồng là diễn viên kịch nói Ngọc Đức sinh 2 con.

Sau 75 tiếp tục ở lại TPHCM đi hát sô ở các tỉnh.

Cha là người Việt lai Pháp (ông nội lính Pháp viễn chinh lấy vợ Việt rồi ở lại VN luôn) nên năm 1977 gia đình được phép về Pháp lại nhưng lúc đó mình đang đi hát xa nhà hay tin về không kịp nên đành phải ở lại.

Đến năm 1982 mới được cha bảo lãnh cùng chồng con qua Pháp.

Tại Pháp may mắn được đi hát phục vụ kiều bào nên sống cũng tạm được. Nhưng hạnh phúc gia đình lại đổ vỡ, ly dị chồng rồi lấy chồng khác cải đạo Công giáo, sinh thêm một con gái. Theo chồng mới chuyển qua Mỹ sinh sống.

Từ năm 2001 thường xuyên về VN vì chồng có công việc đầu tư kinh doanh ở TPHCM. Nhân đó tham gia nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ đồng bào nghèo, trẻ em khuyết tật nạn nhân chiến tranh…

1.104 - Ronald Humphrey
LÀM GIÁN ĐIỆP CHO CỘNG SẢN VN
Nhà báo Mỹ sinh 1936 tại Mỹ. Sống ở Mỹ (2012).
Trong chiến tranh VN từng làm phóng viên ở VN, từ đó lấy vợ VN sinh 4 con.

Trước 1975 trở về Mỹ thì VN giải phóng nên vợ con bị kẹt lại TPHCM. Tiếp tục làm trong ngành báo chí ở Phòng Thông tin Mỹ, viết bài thể thao cho báo The Seatle News. Lấy vợ Mỹ rồi ly dị.

Năm 1987 bị FBI bắt giữ cùng với Việt kiều David Duong (Trương Đình Hùng, con của Trương Đình Dzu một chính trị gia đối lập chế độ Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu trước đây) vì tội gián điệp tuồn tài liệu mật về chính quyền Mỹ lấy từ Phòng Thông tin Mỹ cho cộng sản VN. Qua sự móc nối của Đại sứ VN ở Liên Hiệp Quốc và Đại sứ VN tại Pháp.

Ra tòa năm 1982 biện hộ sở dĩ làm việc này để “trao đổi” với phía VN đáp lại bằng cách cho vợ con qua Mỹ đoàn tụ với mình. Lãnh án 15 năm tù.

Tuy nhiên sau đó được giảm án ra tù sớm. Và vợ con ở VN cuối cùng cũng được qua Mỹ đoàn tụ.

1.105 - Sơn Nam
NHÀ NAM BỘ HỌC “CHẬM MỘT CHUYẾN ĐÒ”
Nhà văn tên thật Phạm Minh Tài sinh 1926 tại Kiên Giang – Mất 2008 ở TPHCM (83 tuổi).

Từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở quê nhà Rạch Giá, có lúc làm tỉnh ủy viên ở Phòng Văn nghệ Xứ ủy Nam bộ dưới quyền ông Võ Văn Kiệt (sau này là thủ tướng chính phủ thời Đổi mới).

Nhưng 1954 không đi tập kết mà ở lại Kiên Giang rồi 1955 lên Sài Gòn bắt đầu theo nghiệp viết văn, viết báo.

Đang làm báo thì do từng có quá trình hoạt động cùng cộng sản đánh Pháp nên bị chính quyền Ngô Đình Diệm đưa vào sổ đen là thành phần bị nghi “thân Cộng”, vì vậy năm 1960 bị bắt giam ở nhà tù Phú Lợi tại Bình Dương.

Tuy nhiên sau khi điều tra kỹ thấy không có dấu hiệu “Việt cộng nằm vùng” gài lại miền Nam nên 18 tháng sau được thả về. Thực tế không hề nghe nói được Cộng sản giao nhiệm vụ gì ở miền Nam hoặc do bị “mất liên lạc” (?) nên không có hoạt động chống chính quyền.

Chỉ thấy từ đó tiếp tục viết báo chuyên tâm khai thác mảng đề tài lịch sử, văn hóa, phong tục, sinh hoạt dân Nam bộ mà bản thân mình gắn bó từ nhỏ (bút danh lấy họ Sơn là họ của bà mẹ nuôi người Khmer Nam bộ) qua sáng tác chủ yếu ký, truyện ngắn và bài khảo cứu. Nội dung gần gũi với cuộc sống người nông dân Nam bộ tay lấm chân bùn nghèo khó từ đời này qua đời khác: “Tôi là một đứa con có hiếu với dân ở dưới.”

Tất cả bài báo, sách in đều nói chuyện đời xưa đời nay chung chung với mục đích đề cao nền văn học dân tộc, văn hóa dân gian, văn hóa Nam bộ tránh đề cập đến vấn đề chính trị. Đồng thời giữ vững tư cách một “nhà báo tự do”, “nhà văn độc lập” không chạy theo chế độ VNCH cũng không tỏ ra thiên Cộng rõ ràng.

Lần lượt in nhiều tác phẩm giá trị: Sáng tác gồm “Hương rừng Cà Mau”, “Chim quyên xuống đất”, “Hình bóng cũ”, “Bà Chúa Hòn”…; khảo cứu có “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”… Văn phong độc đáo rặt chất Nam bộ dân dã mà tinh tế, sâu sắc.

Là người cầm bút chuyên nghiệp hoàn toàn sống bằng nhuận bút nên cảnh sống khá vất vả với gánh nặng gia đình nuôi vợ con. Bản thân người gầy còm đen đúa “xấu xí” giống hệt nông dân nghèo suốt đời chỉ đi bộ (không biết đi xe máy, có đi thì nhờ người khác chở) lang thang cả ngày ngoài đường lê la nơi này nơi nọ tìm chi tiết, đề tài, cảm hứng từ cuộc sống để viết. Từ đó có biệt danh “Nhà văn đi bụi”, “Ông già đi bộ”!

Sau 1975 gặp lại các đồng chí, bạn bè cũ một thời kháng chiến chống Pháp nhưng không được chế độ ưu ái vì xét ra chẳng có công trạng gì trong thời đánh Mỹ, nếu không nói là có khi còn bị nghi kỵ “hợp tác” với chế độ Sài Gòn! Bởi thế đã bị loại khỏi bộ “Từ điển Văn học” 2 tập đồ sộ in năm 1984, một thời gian dài vẫn nằm ngoài Hội Nhà văn VN!

Với thân phận “nửa nạc nửa mỡ” không phải Việt Cộng nằm vùng mà cũng không dính líu chế độ cũ nhiều thành ra như một thành phần nửa vời dở khóc dở cười. Đặc biệt về gia cảnh vợ con nheo nhóc càng gặp khốn khó hơn khi không có báo để viết kiếm sống nữa. Cả tủ sách làm tài liệu viết lách, nghiên cứu cũng bị vợ đem… bán ve chai! Khiến đôi khi không tránh khỏi ngậm ngùi rằng “Con người ta có khi chỉ chậm một chuyến đò, số phận đã đổi khác rồi!”

May mà còn cố nhân Võ Văn Kiệt bấy giờ là Bí thư Thành ủy TPHCM thông cảm thỉnh thoảng giúp cho cứu đói.

Cứ thế cho đến thời Đổi mới mới dễ thở hơn, bắt đầu từ việc năm 1990 được đạo diễn Pháp J. Arnaud trân trọng mời làm cố vấn về mặt lịch sử – phong tục cho bộ phim truyện “Người Tình” (phỏng theo truyện vừa của nhà văn nữ Pháp M. Duras thời trẻ từng sống ở Sài Gòn) quay năm 1991 ở TPHCM. Rồi được Bí thư Võ Văn Kiệt cấp nhà.

Từ đó được trân trọng mời tham gia các hoạt động lễ hội truyền thống, văn hóa dân tộc vùng đất phương Nam. Và viết báo, viết sách tiếp tục sự nghiệp phát triển văn hóa Nam bộ. Với một loạt tác phẩm: “Người Sài Gòn”, “Gia Định xưa”, “Bến Nghé xưa”, “Tục lệ ăn trộm” (khảo cứu); bổ sung truyện ngắn cho tập “Hương rừng cà Mau” (tổng cộng 66 truyện), “Một mảnh tình riêng”, “Dạo chơi”, “Hồi ký” (4 tập, sáng tác)…

Được một nhà xuất bản ở TPHCM mua bản quyền toàn bộ tác phẩm (hơn 40 đầu sách). Một truyện ngắn trong tập “Hương rừng Cà Mau” được đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh thực hiện năm 2004 sau đó đoạt nhiều giải thưởng cả trong lẫn ngoài nước.

Đường đời thăng tiến khá hơn nhiều nhưng cuộc đời riêng vẫn lận đận chuyện nhà không êm xuôi mát mái tới mức phải rời khỏi nhà đi sống nhờ ở một nhà văn hóa cấp quận cho đến cuối đời. Xui xẻo nữa năm 2007 bị tai nạn phải nằm liệt trên giường 2 năm trời đến khi qua đời không còn viết lách gì được nữa.

Thật lạ khi cả 2 nhà “địa phương học” hàng đầu cả nước – Sơn Nam nhà “Nam bộ học” và Nguyễn Văn Xuân nhà “Quảng Nam học” - đều phải trải qua một cuộc đời gian nan vất vả vì miếng cơm manh áo dưới cả 2 chế độ trái ngược nhau, đến cuối đời nếu có đền bù vật chất được đôi chút cũng không hưởng thụ được mấy! Thật là “số khổ” như người đời thường chép miệng thương cảm.

Được tôn vinh là nhà Nam bộ học kiệt xuất hiếm có nhưng sau khi mất chỉ có một nhà lưu niệm tại Mỹ Tho do cô con gái sống tại đây tự đứng ra lập nên trong khi lẽ ra TPHCM nơi ông ngụ cư cũng là nơi thành danh hoặc quê hương Kiên Giang phải làm việc này.

1.106 - Sơn Nguyễn
CẢI ĐẠO LÀM MỤC SƯ
Tu sĩ Tin Lành Việt kiều Mỹ tên cũ Nguyễn Sơn sinh tại VN. Sống ở Mỹ (2009).

Sau 75 vượt biên qua Mỹ.

Học ngành điện toán ra trường hành nghề thành công.

Năm 1995 bị tai nạn ô tô làm hôn mê sâu suốt 2 tháng, một phần cơ thể bị liệt. Trong thời gian đó, người thân đã mời một giáo đoàn đạo Tin Lành ở địa phương đến cầu nguyện thường xuyên cho mình vượt qua được cơn nguy hiểm.

Kết quả cuối cùng được cứu sống, tỉnh dậy rồi tập luyện hồi phục. Từ đó mang ơn giáo đoàn nên tình nguyện cải đạo từ đạo Phật qua đạo Tin Lành luôn.

Ban đầu tham gia hoạt động trong các chương trình truyền giáo, xã hội của giáo đoàn. Dần dà tu học trở thành mục sư từ năm 2009 phụ trách giáo dân Việt kiều ở một quật hạt thuộc bang Florida.

1.107 - Tạ Chí Đại Trường
LẬN ĐẬN SỬ GIA
Nhà sử học Việt kiều Mỹ sinh khoảng 1944 tại Khánh Hòa. Sống ở Mỹ (2012).

Cha là cựu tỉnh trưởng Bình Định nhưng sau đó chuyển qua đối lập chính quyền Ngô Đình Diệm.

Bản thân tốt nghiệp thạc sĩ sử ĐH Văn khoa Sài Gòn. Trong thời gian này bắt đầu viết bài về nghiên cứu tiền cổ VN rồi qua các đề tài sử học chuyên biệt trên tạp chí Bách Khoa được đánh giá cao với quan điểm dân tộc độc lập không theo trường phái nào với nhiều phát kiến độc đáo, sâu sắc qua lối viết hấp dẫn.

Năm 1964 bị gọi đi sĩ quan Thủ Đức, sau đó nhờ chuyên môn sử học nên được rút về bộ phận quân sử thuộc Bộ Quốc phòng VNCH. Tiếp tục phát triển viết báo, viết sách chuyên đề sử học.

Năm 1970 tác phẩm “Lịch sử nội chiến VN 1771-1802” được tặng giải thưởng quốc gia chế độ cũ.

Chuẩn bị làm luận án tiến sĩ thì Giải phóng 30.4.1975. Mang lon đại úy nên đương nhiên phải đi cải tạo. Trong lúc đó về mặt chuyên môn, cuốn “Lịch sử nội chiến VN 1771-1802” bị chế độ mới cộng sản “cấm” vì quan điểm đề cao triều Nguyễn mà “chê” triều Tây Sơn vốn được cộng sản ca ngợi là anh hùng khởi nghĩa nông dân chống phong kiến áp bức.

Ra tù, năm 1984 đi Mỹ diện H.O.

Trên đất Mỹ trong 10 năm đầu hầu như đành đoạn tuyệt với nghiệp sử gia để lo bôn ba làm đủ các nghề để kiếm sống đến độ có lúc đổ bệnh luôn.

Khi cuộc sống dần ổn định mới có thì giờ quay lại với nghề sử học. Lần lượt in các cuốn “Những bài dã sử Việt”, “Thần, Người và đất Việt”, “Sử Việt, đọc vài quyển”, “Người lính thuộc địa Nam Kỳ” (luận án tiến sĩ)… Có cộng tácvới Trung tâm nghiên cứu VN ở Mỹ biên soạn công trình “Lai lịch người Việt tị nạn”....

Năm 1992 trở lại quê hương trong bầu không khí Đổi mới, bước đầu làm quen với giới sử học tiến bộ miền Bắc (gặp nhà sử học quá cố Trần Quốc Vượng). Trở về viết cuốn “Một khoảng VNCH nối dài” năm 1993 và “Việt Nam nhìn từ bên trong” (viết chung với Nguyễn Xuân Nghĩa) năm 1994.

Sau đó nhiều lần về lại, chứng kiến một số sách viết ở Mỹ được in lại tại VN từ năm 2000, riêng cuốn nặng ký nhất “Lịch sử nội chiến VN1771-1802” đến năm 2007 mới tái bản trong nước.

Cũng vì thế bị giới chống Cộng hải ngoại phê phán “thân Cộng, bài Quốc gia”!

Năm 2010 gửi kiến nghị đến Quốc hội VN công nhận Nghĩa trang Quân đội VNCH (Nghĩa trang Biên Hòa) là Chứng tích lịch sử vì “Chế độ nào cũng qua, chỉ có đất nước là tồn tại”, ký dưới là “cựu sĩ quan VNCH”.

Một kiến nghị muộn màng hầu như bất khả thi bởi trước đó vào năm 2006 chính quyền VN đã quyết định chuyển quyền quản lý nghĩa trang này từ Bộ Quốc Phòng qua cho tỉnh Bình Dương, dân sự hóa nó (thân nhân được tự do thăm viếng, tu sửa) đổi tên thành Nghĩa trang Bình An (ghép tên tỉnh Bình Dương với tên huyện Dĩ An trực thuộc).


1.108 - Tạ Tỵ
“ÔNG TỔ” HỘI HỌA LẬP THỂ CHỌN CHẾT TRÊN QUÊ HƯƠNG
Họa sĩ Việt kiều Mỹ sinh 1922 tại Hà Nội – Mất 2004 ở TPHCM (83 tuổi).

Thuộc thế hệ họa sĩ tiên phong của hội họa VN, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng các danh họa Bùi Xuân Phái, Lương Xuân Nhị, Văn Cao. Sau đó cùng tham gia kháng chiến chống Pháp.

Nhưng năm 1954 không ở lại miền Bắc mà theo dòng người di cư vào Nam.

Sống ở Sài Gòn, trở thành sĩ quan quân đội VNCH ngành tâm lý chiến.

Trong thời gian này tích cực sáng tác mở đường cho khuynh hướng vẽ tranh lập thể theo trường phái đại danh họa Tây Ban Nha Pablo Picasso tạo nhiều tiếng vang trong nước và quốc tế. Sau đó chuyển qua khuynh hướng hội họa trừu tượng. Còn vẽ ký họa rất tài hoa. Được xem là họa sĩ có tranh bán đắt giá nhất thời này.

Ngoài ra còn làm thơ, viết truyện, bút ký, kịch nhưng không đạt thành tựu bằng hội họa.

Ngày Giải phóng mang lon trung tá chiến tranh chính trị nên phải đi cải tạo. Sau khi được trả tự do đã vượt biên qua Mỹ năm 1982.

Trên xứ người tiếp tục vẽ trong đó có tác phẩm mang dấu ấn thời cuộc “Những mảnh đời tị nạn”.

Năm 2002 quyết định quay về nước an dưỡng tuổi già được 2 năm thì qua đời.

Cả Bảo tàng Mỹ thuật VN lẫn Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM đều mua và lưu giữ tranh của ông trong đó có bức “Cất cánh” vẽ năm 1972 được xem là bức sơn dầu lớn nhất bảo tàng.

1.109 - Tạ Văn Hinh
CHỮ “NHẪN”
Doanh nhân sinh tại Hà Tây. Sống ở Hà Tây (2008).

Đi bộ đội vào Nam chiến đấu ở Tây Nguyên, bị nhiễm CĐDC mà không biết,

Sau chiến tranh xuất ngũ về Hà Nội làm công nhân công ty. Lấy vợ sinh 5 con đều mắc bệnh trầm kha lúc đó mới biết là do di chứng từ chất độc này. Đứa con đầu lòng mới 2 tháng tuổi đã bỏ bố mẹ ra đi, 4 đứa còn lại thì 2 em bị bệnh động kinh kèm chứng bại liệt teo cơ và 2 em trí óc chậm phát triển.

Dù vậy vẫn cắn răng chịu đựng tìm cách làm ăn vươn lên mới có tiền lo cho đàn con bệnh tật. Từ đó quyết định xin nghỉ làm công nhân quay về làng lập hợp tác xã tự mình làm chủ mới có điều kiện phát huy hết khả năng và giấc mơ ấp ủ. Tự tay viết một chữ “Nhẫn” thật lớn dán lên tường trong phòng khách lấy đó làm lời nhắc nhở, động viên mình luôn cố gắng kiên trì nhẫn nại chấp nhận giấu nỗi buồn con cái để giữ vững tinh thần đấu tranh với số phận vượt lên hướng về tương lai tươi sáng hơn.

Học tập kinh nghiệm các mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ thành công thời kỳ này mới đưa hợp tác xã chuyển nghề từ nghề làng truyền thống chuyên đan lát bò cót qua nghề đan mây tre lá hợp thời hơn. Hồi đầu dân làng chưa quen nên gặp khó khăn, vất vả nhưng vẫn kiên trì nỗ lực dần dà tự khắc phục, cải tiến nâng cao tay nghề làm ra sản phẩm bán chạy có thu nhập ổn định cho hơn 300 công nhân. Hợp tác xã được nâng cấp lên thành doanh nghiệp tư nhân.

Từ hoàn cảnh bản thân đã tập hợp trẻ em khuyết tật ở địa phương về truyền nghề miễn phí rồi thu nhận vào làm.

Tất cả thành công quy vào một chữ “Nhẫn” là bí quyết sống rút ra từ nỗi đau riêng chua xót phận người: “Hoàn cảnh gia đình mình như thế, nếu không nhẫn nại chắc tôi đã buông xuôi mọi thứ từ lâu rồi.”

1.110 - Tap Van Pham
NHÀ BÁO BỊ ĐỐT CHẾT
Nhà báo Việt kiều Mỹ tên cũ Phạm Văn Tập sinh 1939 tại VN – Mất 1987 ở Mỹ (48 tuổi).

Đến Mỹ sau 1975 do cha bảo lãnh nhưng mẹ và 2 em gái còn ở lại. Năm 1981 vợ lập ra tạp chí “Mai”ở California, chồng làm chủ bút.

Tuy báo này chỉ chuyên về văn nghệ giải trí nhưng năm 1987 chủ bút lại chủ trương không đăng quảng cáo cho các tổ chức chống Cộng, ngược lại cho đăng thông tin các công ty ở Canada làm dịch vụ chuyển tiền và du lịch về VN. Có lẽ vì lý do đó mà tòa báo đã bị phe phái chống Cộng ném bom xăng vào trụ sở báo bốc cháy khi ông đang ngủ nên bị ngộp khói chết.

Sau đó tổ chức “Diệt Cộng Hưng quốc Đảng” (VOECRN) gửi thư đến báo Người Việt công khai thừa nhận mình là thủ phạm đốt toà báo nhưng không hiểu sao cảnh sát Mỹ vẫn nói điều tra… không ra thủ phạm!

Báo “Mai” vẫn tiếp tục ra do bà vợ và con gái điều hành.

(Còn tiếp)


Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

MẮC LƯỚI - TRẦN DZẠ LỮ



Đi đâu rồi chẳng thoát
Khỏi cái lưới tình em
Ít quên mà nhiều nhớ
Hình bóng người trong tim…

Có phải anh nợ em
Đã từ muôn kiếp trước?
Có lìa xa một bước
Cũng quay quắt trong hồn!

Hết sáng đến chiều hôm
Cứ thương con mắt ấy
Mắt như ai thắp đèn
Lung linh buồn đến vậy ?

Đi đâu rồi cũng thấy
Màu tím của lan rừng
Bên hồ đời lồng lộng
Khi gọi em là cưng!

Đi đâu cũng rất cần
Một trái tim độ lượng
Anh-sông hồ khắp chốn
Đâu thấy ai bằng em ?

Nên chi khi mắc lưới
Anh không hề ăn năn
Lưới cũng là võng mới
Mình ru tình trăm năm…

Trần Dzạ Lữ
( Sàigòn tháng 4 năm 2012)

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

ANH ĐI ... - PHAN LỆ DUNG



Anh đi từ hôm qua
Con đường lặng lẽ
gió thổi từ phía chân trời
Hoa khế lưa thưa rơi giữa thinh không.

Anh đi từ hôm qua
Trời mưa
Hoàng hôn đông đặc
Trái táo lăn trên chiếc bàn cũ kỷ
Chiếc nhẫn cỏ ướt
Nụ cười búp bê nhàu nát và chú mèo hoang
Ngoài kia bước chân mùa thu lạc lõng.

Còn gì nữa.
Tôi mơ ngày gặp lại
Ôi,biết bao giờ.

Gió thổi những hạt mưa phất phơ trên tóc.
Tôi đi tìm anh
Tìm mưa
Chiều ơi.

CHẮP TAY DÒNG ĐỜI ( KỲ 13 ) - VÕ CHÂN CỬU

Lá Cỏ và Sao Lạp

Sài Gòn-chốn ngựa xe xô bồ, tới nay vẫn là vùng đất của dân nhập cư. Mỗi giai đoạn, diện mạo văn học của nó đều tiêu biểu cho sự tổng hợp.
Những người nghèo vào Sài Gòn thường kiếm sống bằng chạy xe ôm, làm thợ hồ hay phu khuân vác. Nếu hỏi anh bỏ quê vô đây làm gì, mọi người dễ nghe câu trả lời: để làm thơ ! (giọng người từ Quảng Nam đến Phú Yên thường phát âm chữ thuê thành “thuơ”).
Chuyện tiếu lâm nêu trên cho thấy những miền đất khắc nghiệt thường sản sinh ra nhiều người làm thơ (Thực tế khá nhiều người có tài, đã thành danh). Tình hình đó nay đã khác. Có thể do khá nhiều nhà lãnh đạo khi có công danh muốn chứng tỏ mình thuộc dòng…văn hiến, nên sáng tác nhiều thơ, dễ nhất là theo lối…Bút Tre. Cấp dưới xum xoe, xưng tụng, riết thành “phong trào”. Để hủy diệt một giá trị tinh thần, cách hay nhất là đánh đồng nó với đầy dẫy những sản phẩm tầm thường. Chế độ tự do xuất bản ở xã hội tư bản khiến mỗi nhà xuất bản phải tự bảo vệ thương hiệu của mình, chỉ in ra những tác phẩm đáng đọc, không nhằm vào mục đích thu “quản lý phí”. “Tác giả tự xuất bản” có thể tạo ra dư luận nếu tác phẩm có giá trị văn học.
Văn học Miền Nam (VHMN) chỉ tồn tại có 21 năm đã sản sinh ra nhiều cây bút-dù thuộc phái “viễn mơ” hay “hiện thực”- nhưng đều có tính cách riêng. Các nhà làm văn học sử sẽ tổng hợp các điều kiện xã hội, nguồn tư tưởng thời đại để phân tích ra các xu hướng sáng tác. Hạnh phúc tình yêu và cõi vĩnh hằng-bất tử vẫn là 2 ngã hướng tới của những người làm ra cái đẹp nghệ thuật. Nhưng VHMN giai đoạn này, có thể do sự sống và cái chết quá liền kề, tất cả đều ngắn ngủi nên 2 lĩnh vực trên gần như có sự pha trộn. Cái đẹp tầm thường có thể là sự linh thiêng, cứu rỗi. Ngôn ngữ diễn đạt trong thơ, đã có những nhịp điệu tìm kiếm riêng.

Qua Vùng Chiến Tranh
Ta nghe chính tại nơi này
Năm rồi trận đánh phơi thây hàng ngàn
Bây giờ cây mởn lá xanh
Gió xôn xao thổi cỏ tranh ngập đầu
Máu xương dấu tích còn đâu
Còn trơ lô cốt bên cầu bỏ hoang
Gạch vôi lở loét rêu phong
Tường xiên xiên ngã theo dòng thời gian.
(Sưu tập của VCHC)

Ca tụng thân xác
Trần Đức Uyển, người khởi đầu làm thơ từ nhóm Tạp chí Văn nghệ (sau này ông nổi tiếng hơn với bút hiệu Tú Kếu làm thơ trào phúng) từ giữa những những năm 1960 đã ghi nhận sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh, điều mà Nguyễn Bắc Sơn sau này xem đó là “như một trò chơi”. Trước tình cảnh đó, một số cây bút trẻ có xu hương đi vào “tìm sự giải thoát”. Trước tiên là cái đẹp của tình yêu, có khi pha chút “tưởng tượng thân xác”. Nguyễn Tôn Nhan, vào 1970 sau khi ngắm “Áo Ai Bay Trên Lầu Cũ” và ồ lên “Trăng cổ lâu ồ trăng cổ thi/Người ơi cho nhớ chút xiêm y”, đã xúc cảm quẩn quanh hơn:
Chỉ Có Lá Cỏ Là
Chỉ có lá cỏ là
Rỉ máu năm mười ba
Chỉ có cô tiểu thoa
Là rên năm mười tám

Chỉ có em là đáng
Xỏ mũi anh suốt đời
Chỉ có cỏ lá ơi.
(Tuần báo Khởi Hành)
Cùng với Nguyễn Tôn Nhan, Đặng Tấn Tới từ vùng đất Bình Định bày tỏ sự say đắm với hình tượng này (về sau hai người trở thành sui gia) :

Chơi Lá Cỏ
Em về chơi lá cỏ
Hát mấy ngõ thanh xuân
Ta vào trong hội mừng
Quên hết màu sinh diệt
(Thi tập Trúc Biếc, 1971)
“Lá cỏ”, biểu tượng cho thiên nhiên thuần khiết hay sức sống căng đầy của các nàng thiếu nữ ? Biểu tượng tình yêu gắn liền với sự sinh tồn, biểu tượng của thân xác và cách sống hiện sinh thâm nhập từ các tư tưởng triết học của thời đại đã được các thi sĩ diễn tả. Một nhà thơ khác là Hoa Tưởng Dung, (bút danh chỉ xuất hiện đôi lần trên vài tạp chí) bày tỏ cụ thể hơn về khoảng cách giữa hữu hạn và vô hạn:

Thiên tinh
Không ai hay biết
Ta là hương thơm
Sống còn hủy diệt
Trong làn gió vương !

Không ai hay biết
Tình cờ! Tài năng !
Vừa mới thoảng đến
Công trình đã xong !

Không ai thấu rõ
Tài trí tuyệt vời
Chờ bao lầm lỡ !

Không ai tỏ hay
Thời gian vú bày
Giữa hai áo ngủ !

Thơ lúc này có xu hướng mang hình thái tư duy của triết học . May mắn là khúc cuối bài thơ xác định được “cái đẹp” sẽ là sự cứu rỗi cho mỗi người như kết luận của một số triết gia. “Cái đẹp” không nằm ngoài thân xác. Một giáo sư triết học nổi tiếng lúc này cũng cho in hẳn một cuốn sách về đề tài này: Ca Tụng Thân Xác.

Mong manh “Sao Lạp”
“Quên hết màu sinh diệt” bằng đường “ca ngợi thân xác” có khi là sự chạy trốn không thành. Nhà thơ có khi vì chiến tranh và xã hội vây hãm nên đã tự mình tìm vào nẻo thần bí nào đó. Tôn giáo, có khi là một cứu cánh, nhưng với người làm thơ, tôn giáo lại đậm màu tư duy về cõi vô cùng. Phạm Phú Hải, một người làm thơ lặng lẽ ở Đà Nẵng, không gửi in báo nào ghi lại cảm thức ấy như sau:

Chùa Phổ Đà Nẵng
Lạnh mùa thu ở trong núi đá
Có con cá nhỏ chết bên cầu
Có con chim nhỏ vì vui qúa
Cũng chết bên cầu ấy bữa xưa

Có gã thư sinh lên núi đá
Hỏi thăm đường đến chốn bất lai
Trăng khuya úp mở sa ngàn lá
Bướm đã đàn đàn chấp chới bay

Có lão tiều phu trong núi đá
Mười năm say hương quế quên về
Lều dựng gió đẩy rung mái gió
Một bầu cổ nguyệt chảy tràn khuya

Trăng khuyết xuôi, trăng tròn, trăng khuyết ngược
Bứt tháng, hái ngày, phơi khô năm
Năm khô, rau mới đùn rau cũ
Sợi sợi án ngời vô lượng quang

Xuất định bốn bề sương giọt giọt
Con chim xưa sống lại bên cầu
Tiều lão mặt trời vai tịch tịch
Mặt trời rơi xuống giữa dòng sâu

Chẳng đến đâu, chẳng từ đâu đến
Con chim ngày cũ hót inh rừng
Một cầu lặng ngắm hai dòng nước
Một chảy xuôi đông, một ngược nguồn

Không ở đâu, không đâu chẳng ở
Cá hồi dương lội ngược chiêm bao
Cầu gãy hai bờ xương tương ngộ
Trùng phùng từ hội đất chiêm bao

Mùa thu núi đá lạnh vô cùng

(Bản thảo gửi VCHC, 1972)

Nhiều nhà phê bình lúc này gán ghép những nguồn thơ mang dấu vết “suy tư” nói trên vào dòng thơ Thiền. Có thể ảnh hưởng của triết học Phật giáo lúc này lan tỏa rộng. Nhiều người lại nói rằng “thơ Thiền”, trong cách biểu hiện, phải gần với một “công án”, nên cho rằng đó là dòng thơ “tâm linh”. Thực ra, để thành thơ, thì nó phải mang hoặc xuất phát từ cõi tâm linh-trừ những “nhà dùng thơ” dùng văn vần vào mục tiêu “phục vụ” hay rao giảng. Nhìn rộng ra, trong VHMN từ những năm 1950 đã có nhiều người đi theo khuynh hướng. này. Như Thạch Trung Giả, nhà nghiên cứu và là một thầy giáo nổi tiếng ở Nha Trang qua bài “Đàn Sao Lạp”:

Đàn rơi tiếng trầm
Sao rớt từng không
Sao không còn tăm
Đàn dư tiếng dội
Gieo trong lòng đàn
Sao trên Đại Hoàn
Đàn trong U Để
Lạp kia se sẽ
Hồng rung ngập ngừng

Phải chăng cẩm âm
Vào trong tiếng lạp.

Giữa bất an của đời sống hiện thực, dòng thơ tâm linh giúp con người nhận ra thế giới vi diệu và kỳ diệu, đáng sống hơn. Những dòng thơ khác, nếu thực là thơ, sẽ tác động đến tâm hồn ra sao ?

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

SAU CHIẾN TRANH - NGUYỄN MIÊN THẢO

Khi những người chiến thắng hân hoan đi khắp phố phường
nói những điều tôt đẹp
Đó là những điều chính đáng đổi bằng máu xương
của những người đã chết

Cũng là lúc mà những người vô tội khác
Bắt đầu cuôc sống lầm than
Ông giáo sư thất nghiệp
suốt ngày đi ngoài đường dáo dát tìm trong vô vọng
một chiếc bóp hay vài đồng tiền đánh rơi của ai đó
Những cô gái hôm qua còn ngồi ở giảng đường đại học
Phải bán thân nuôi gia đình

Sự ly tán ,chia lìa, nghèo đói bắt đầu một cách khác
Trước và sau cuộc chiến không có gì khác nhau
Một sự hoán vị nỗi bất hạnh của người này thay cho người khác
Như đổi một chiếc áo
Ở đó bắt đầu những sự cưỡng đoạt mới
Chiến tranh cưỡng đoạt con người bằng cái chết
Hòa bình cưỡng đoạt con người bằng sự sống
Cái chết và sự sống chưa hẵn cái nào bất hạnh hơn
Đôi khi chết còn hơn sống

Tôi nghiệm ra mốt điều
Sự sống mỗi người đôi khi chỉ là áp đặt

Khi ra đời
Không ai có quyền chọn lựa ở nơi nào
Chọn lựa cha mẹ
Chọn lựa anh em
Chọn lưa miền nam,miền bắc
Nghèo hèn hay giàu sang
Thôn quê hay thành thị
Con trai hay con gái
Nhưng người ta có quyền chọn lựa cách sống của chính mình
Đó chính là điều tai họa
Là cái ác nẩy mầm
Là sự phản kháng
Là sự ngộ nhận về tự do
Là chân lý không chân lý

Sự đòi hỏi được ăn no,được sống giàu sang
Là điều chính đáng
Nhưng không phải là sự cướp đoạt của người khác
Đó là điều vô cùng giản dị
Nhưng sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra



Lòng tham và sự độc ác
Sau chiến tranh
Điều đó thường xảy ra

Người ta có quyền say sưa chiến thắng
Nhưng đằng sau nó
Sự vô luân luôn tiềm ẩn

Khi sự vô luân biến thành quyền lực
Trở thành niềm say mê của nhiều người
Điều đó thường xảy ra

Mục đích của chiến tranh
Mà những người yếu thế hơn chính là sự bình an
Thường được gọi là chính nghĩa
Nhưng sau chiến tranh
Thường khi là sự đổi khác

Sau chiến tranh
Chưa hẵn là hòa bình

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

EM ƠI , VỀ ĐÂU KHI NGÀY SẮP TẮT ! - CAO THOẠI CHÂU



Em đẹp như câu châm ngôn
Phủ lên tim tôi một lớp buồn
Và em đẹp như lời thề thốt
Thuở ban đầu trai gái phải lòng nhau

Tôi đi dò những bến sông sâu
Hỏi thăm từng kè đá
Tiếng róc rách trong đêm buồn bã
Con đò chiều vội vã sang sông
Vì sao em phủ một lớp buồn
Lên trái tim tôi có nhiều vết nứt

Tôi dò trong lùm cây bụi cỏ
Những kỷ niệm buồn rơi rớt hôm nao
Hỏi thăm từng cơn gió
Chiều thênh thang hỏi tiếng phi lao
Châm ngôn là những tiếng rì rào
Ngày chúng mình chia tay hôm ấy
Về đâu
Về đâu
Trước khi ngày sắp tắt

Tôi chờ em ở bến sông này
Tôm cá hiểu
Cây lá hiểu
Đàn sếu vòng vòng chia sẻ cùng tôi

Một mai nếu vỡ con thuyền
Tôi bám lấy rong bèo trên biển
Biển không phải là sông
Là chiếc ao nhà tắm ngày thơ ấu

Biển có sóng sầu lên cao vút
Như lúc hồn tôi nhớ châm ngôn
Trong tim tôi thánh thiện nỗi buồn
Như tiếng kinh cầu khi ngày tắt nắng
20-4-2012

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

CHUNG THÂN - NGUYỄN MIÊN THẢO

Em treo trái tim tật nguyền của tôi bản án tử hình
rồi đứng vỗ tay cười và bỏ đi biệt tích
Tôi thường trực với niềm hạnh phúc
hạnh phúc buồn
hạnh phúc nhớ
hạnh phúc cô đơn

Em giam cầm tôi trong niềm hoan lạc
cách nơi hành hình chỉ một bước chân
ở đó treo đầy hoa ly và cẩm chưóng
tuyệt không có một bông hồng

Em phán quyết rồi bỏ đi
bản án trở thành chung thân cấm cố
Tôi biết trái tim em không bao giờ yên ổn
ngày tôi trở thành tội đồ
của niềm hạnh phúc .

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

CAO HUY KHANH - VN HỒ SƠ HẬU CHIẾN 1975 - 2012 ( KỲ 109 )



NHỮNG SỐ PHẬN KỲ LẠ


1.091 - Nguyễn Hữu Hanh
CHUYÊN GIA KINH TẾ THẤT CƠ LỠ VẬN
Tiến sĩ kinh tế Việt kiều Mỹ sinh 1923 tại Huế. Sống ở Mỹ (2012).
Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Pháp.
Về miền Nam với tham vọng “phục vụ đất nước như là mục tiêu tối thượng của đời mình”. Lần lượt nắm giữ nhiều chức vị lãnh đạo kinh tế quan trọng từ thời Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu như Cố vấn kinh tế, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Tổng ủy viên đặc trách kinh tế – tài chính trong chính phủ…
Nhưng thực tế không cho phép làm được gì nhiều do tình hình chính trị miền Nam ngày càng rơi vào rối ren liên tục thay đổi chính quyền, nhân sự. Thất vọng, năm 1968 qua Mỹ lại làm cố vấn và chuyên viên cao cấp cho các tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF.
Tuy nhiên con đường sự nghiệp vẫn gặp trắc trở, năm 1981 xảy ra bất đồng quan điểm nên từ chức khỏi IMF.
Dù vậy vẫn còn nặng lòng với quê hương nên năm 1991 khi VN bắt đầu tiến hành Đổi mới liền quay về nước tìm cơ hội đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Nhưng 4 lần trở về từ đó đến năm 1994 một lần nữa vẫn không làm gì được do đụng phải cơ chế bảo thủ quan liêu bao cấp chưa kể thành kiến chính trị.
Đành tay trắng trở về Mỹ ở ẩn viết hồi ký “Câu chuyện đời tôi” in năm 2004.

1.092 - Nguyễn Hữu Hạnh
NGƯỜI PHÁT LỆNH ĐẦU HÀNG
Chuẩn tướng VNCH sinh 1923 tại Mỹ Tho. Sống ở TPHCM (2012).
Nguyên thuộc cấp của tướng Dương Văn Minh từ thời đi lính Pháp đến thời Ngô Đình Diệm.
Vì vậy, sau khi tướng Dương văn Minh đảo chính Ngô Đình Diệm rồi đến lượt mình bị nhóm “tướng trẻ” Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ lật đổ thì bản thân rơi vào bất mãn chế độ. Từ đó năm 1970 khi còn là đại tá ở Cần Thơ đã được Cộng sản móc nối làm cơ sở “nội gián” trước khi được thăng chuẩn tướng.
Năm 1974 về hưu.
Đến khi tướng Dương văn Minh lên nắm chức Tổng thống VNCH 2 ngày cuối cùng cuối tháng 4.1975 đã được gọi lại ra làm Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng quân lực VNCH. Từ đó đã tận dụng cơ hội vận động ông Minh chấp thuận “bàn giao” chính quyền cho Cộng sản.
Và đích thân mình lên Đài Phát thanh Sài Gòn đọc lời kêu gọi binh lính “hạ vũ khí” trước quân Cộng sản đang rầm rộ tiến vào Sài Gòn Thủ đô VNCH.
Sau đó dưới chế độ mới được đưa vào hàng ngũ “nhân sĩ” trong tổ chức Mặt trận Tổ quốc.
Một trường hợp là “kẻ phản bội” hay người thức thời giác ngộ Cách mạng như ông thầy đỡ đầu Dương Văn Minh để cho lịch sử công tâm đánh giá.

1.093 - Nguyễn Thành Tâm
HOA SEN CỨU ĐỜI CHẤT ĐỘC DA CAM
Lao động nghèo sinh 1995 tại Bình Thuận. Sống ở Bình Thuận (2012).
Vừa sinh ra đời đã bị dính di chứng CĐDC không biết từ ai từ đâu vì ngay sau đó đã bị cha mẹ bỏ rơi đem cho người cô nuôi nấng.
Lớn lên với cơ thể què quặt luôn mắc đủ thứ bệnh dai dẳng không khỏi, đầu óc lại không bình thường thuộc dạng tâm thần nhẹ.
Không học hành gì được nên không biết làm gì để kiếm sống. May mà sau đó ở địa phương rộ lên phong trào làm nghề gia công sơ chế hoa sen làm sản phẩm xuất khẩu như bóc vỏ sen, tách gương sen lấy hạt, moi tim sen… nghề đơn giản nên xin theo làm. Tuy sức khỏe không tốt, tâm thần không ổn định song được cái hiền lành chịu khó nên dần dà cũng làm được, không bằng ai nhưng ngày cũng kiếm được 40.000 đồng.
Cám ơn đời, nhờ “Phật độ” (hoa sen gắn liền hình tượng dân gian đức Phật) đã giúp mình không biến thành người vô dụng.

1.094 - Phạm Văn Tuấn
BỆNH VIÊM DA KHỚP XƯƠNG CẤP TÍNH
Người khuyết tật sinh 1979 tại Nghệ An. Sống ở Nghệ An (2012).
Cha bộ đội chiến đấu miền Nam trở về dính CĐDC nằm liệt một chỗ.
Còn bản thân mình đến 13 tuổi phát sinh di chứng hậu quả chất độc này khiến bị liệt nửa người, 2 chân không cử động được. Đi bệnh viện được chẩn đoán mắc bệnh hiếm viêm da khớp xương cấp tính khó chữa nổi, nó làm toàn bộ xương sống, xương cổ, xương tay cứng đờ không cử động.
Nằm viện một năm bác sĩ bó tay, đến lúc thể trạng sa sút không ăn uống được, toàn thân lạnh ngắt nên gia đình đành đưa về chuẩn bị lo hậu sự.
Không ngờ sau đó vẫn thoi thóp gượng dậy, sống cầm cự qua ngày trong cảnh nợ nần tiền chạy chữa bấy lâu. Dù vậy vẫn cố gắng tập đi xe lăn rồi đăng ký học lớp đồ họa và nhiếp ảnh ở TP Vinh. Qua đó được phát hiện có năng khiếu vẽ tranh.
Học xong quay về làng mở lớp dạy vẽ và chụp ảnh, trở thành “nghệ sĩ làng”.
Từ đó được một cô học trò nhỏ đem lòng yêu thương tình nguyện kết tóc xe duyên bất chấp bố mẹ ngăn cản đòi từ con. Rồi cũng sinh được một con trai đầu lòng.
Niềm vui sống được nhân đôi, mới đặt tên mới cho lớp học của mình là “Tuấn Hello” như một lời mời mở rộng vòng tay đón nhận cuộc đời, đón nhận mọi người đến với mình.

1.095 - Phan Khắc Từ
LINH MỤC CẤP TIẾN QUÁ ĐÀ
Tu sĩ Công giáo sinh 1941 tại Hải Phòng. Sống ở TPHCM (2012).
Trước 1975 làm phó xứ giáo xứ Vườn Xoài một giáo xứ lớn ở Quận 3 – TPHCM, nổi tiếng là linh mục tiến bộ thiên tả sát cánh cùng phong trào Thanh Lao Công (phong trào thanh niên hoạt động xã hội của Công giáo), cùng giới sinh viên chống chế độ Thiệu – Kỳ theo Mỹ. Hoạt động gắn bó với giới dân nghèo đô thị nên được tặng cho biệt danh “linh mục hốt rác”.
Trong thời gian này có tham gia hoạt động ngầm cho cộng sản, được kết nạp Đảng.
Vì thế sau 1975 trở thành linh mục “quốc doanh” làm trung gian giúp Nhà nước thành lập (kiêm giữ chức điều hành) Uy ban Đoàn kết Công giáo thân chính quyền độc lập với tổ chức Công giáo chính thống thuộc giáo quyền quốc tế Vatican. Từ đó vào Quốc hội 3 khóa liên tục, làm tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc.
Tất nhiên hoạt động thân Cộng đó bị giới Công giáo truyền thống phản bác, chống đối.
Nhưng bên cạnh đó, bị phê phán nặng nhất – đối với cả giới ngoài Công giáo - là vấn đề đời tư trong thời gian đầu theo cộng sản trước 75 đã… có vợ và… 2 con! Vợ là một sinh viên gốc Bến Tre gặp trong phong trào đấu tranh đô thị sau này mới biết là… đảng viên, sau 75 từng làm bí thư quận đoàn ở TPHCM (nên vụ “phá giới” này có thể do Việt Cộng “gài”?).
Vụ tai tiếng bị vỡ lở công khai năm 1986 từ phía người vợ “bí mật” khiến bản thân chỉ còn biết biện hộ qua loa rằng chẳng qua ấy chỉ là “phút yếu lòng” nhất thời, nay không còn quan hệ nữa (chỉ thỉnh thoảng có đi thăm con thôi). Rằng đã báo cáo với đức Hồng y sẵn sàng xin ra đạo nhưng… không được chấp nhận!

1.096 - Phan Kim Thịnh
CHỦ BÁO VĂN HỌC “TRUNG LẬP”
Nhà báo sinh khoảng 1938 tại Hà Nam. Sống ở TPHCM (2012).
Di cư vào Nam 1954 đến năm 1962 làm chủ nhiệm bán nguyệt san “Văn Học” nổi tiếng ở miền Nam tồn tại lâu nhất cho đến tháng 3.1975 ra được tất cả 202 số.
Dù trên danh nghĩa làm chủ nhiệm tạp chí này nhưng thực tế tờ báo trải qua 2 giai đoạn phát triển khác hẳn nhau. Giai đoạn đầu từ 1962 – 1968 (86 số) tờ báo ban đầu khai sinh từ phong trào sinh viên đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm nên thực chất nội dung báo do nhóm Dương Kiền (nhà văn, nhà thơ) thực hiện nghiêng về tính thời sự chính trị – xã hội – văn hóa theo xu hướng trí thức dấn thân với ý hướng xây dựng hòa bình cho một xã hội miền Nam tự do dân chủ tiến bộ không Cộng sản. Nhìn chung có giá trị thời sự và trí thức chân chính đáng kể. Trong giai đoạn này bản thân (và vợ, một nhà thơ) chủ yếu chỉ đóng vai trò quản lý.
Nhưng từ năm sau năm 1968 tình hình chiến sự Nam – Bắc leo thang khốc liệt không còn phù hợp với lý tưởng đó nữa mà lại bị chính quyền nghi kỵ nên nhóm Dương Kiền rút lui (một số thành viên bị động viên vào quân đội VNCH, một vài người khác lại ly khai vào bưng theo mặt trận Giải phóng miền Nam (*). Bấy giờ tờ báo mới thực sự do ông chủ nhiệm lâu năm nắm toàn bộ thay đổi hình thức (khổ nhỏ hơn) lẫn nội dung bây giờ mang tính chất văn học đại chúng, kiểu khảo cổ “tầm chương trích cú” qua loại chuyên đề văn hóa, văn học trong nước lẫn quốc tế, cổ điển đến hiện đại (các tác giả, tác phẩm, chủ đề sáng tác…). Từ đó không còn giữ được giá trị uy tín như trước, chỉ trở thành một dạng tài liệu giáo khoa bổ sung cho giới học sinh sinh viên.
Đáng chú ý là trong loại chủ đề tác giả văn học VN đã giới thiệu cả những tác giả của miền Bắc hiện tại như Nam Cao, Thế Lữ, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… chủ yếu về sự nghiệp thời Tiền chiến. Tuy nhiên đó cũng là một trường hợp “ngoại lệ” hiếm có dưới chế độ Thiệu – Kỳ “quân quản” miền Nam.
Sau 1975 vẫn ở lại TPHCM với một kho sách cá nhân sưu tầm lưu giữ từ lâu khá đồ sộ từng được sử dụng làm tài liệu thực hiện các chuyên đề báo Văn Học. Nay cũng rút từ đó ra để viết nhiều bài và in sách về các giai thoại, đời tư nhân vật lịch sử đã qua như cựu hoàng Bảo Đại, Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu)… Bài và sách (bút danh Lý Nhân Phan Thứ Lang) khá ăn khách trên báo và nhà xuất bản ngành công an.
Chẳng những vậy, năm 2006 còn làm một chuyến viễn du đất Mỹ thăm con ở bên đó, gặp lại bạn bè cũ thời làm báo Văn Học nói chung đều vui vẻ cả!
------------------------------------------------
(*) Riêng thủ lĩnh Dương Kiền ra làm luật sư, sau 1975 qua định cư Na Uy.

1.097 - Phan Lạc Tiếp
CHUYÊN GIA VỚT VƯỢT BIÊN
Việt kiều Mỹ công nhân ngành tàu biển sinh tại Sơn Tây. Sống ở Mỹ (2012).
Thiếu tá hải quân VNCH từng làm hạm trưởng tàu tuần duyên rồi về Bộ Tư lệnh Hải quân ở Sài Gòn làm trưởng phòng. Có viết và xuất bản vài tập truyện ngắn nên có lúc được giao nhiệm vụ tâm lý chiến hải quân.
Trong biến cố 30.4.75 lên tàu di tản qua Mỹ.
Sau đó nhờ có chuyên môn hải quân nên được nhận vào làm ở một hãng đóng tàu lương cao.
Cũng do có chuyên môn này mà năm 1980 tham gia vào Ủy ban Cứu nạn người vượt biên VN với chức vụ giám đốc điều hành chiến dịch trực tiếp đi theo các chuyến tàu vận động từ nước ngoài ra biển Đông nằm chờ vớt người vượt biển tị nạn chính trị. Chiến dịch kéo dài 10 năm, đến 1990 mới giải tán ủy ban sau khi có thỏa thuận Việt – Mỹ về chính sách H.O và O.D.P cho phép quân nhân, công chức chế độ cũ qua Mỹ định cư hoặc đoàn tụ gia đình kể cả ở các nước khác.
Trong thời gian này có viết và in các tập bút ký ghi dấu một chặng đường lịch sử với cuộc đời nhiều truân chuyên đã trải qua không chỉ mình mà còn biết bao người cùng thế hệ nữa.
Năm 1994 trở về quê hương lần đầu tiên, ra tận miền Bắc thăm quê cha đất tổ. Từ đó về lại Mỹ viết cuốn bút ký khác “Quê nhà 40 năm trở lại” với một cái nhìn thông cảm rộng mở: “Dù muốn hay không chúng ta đã lớn lên và bị cuốn hút vào chiến tranh. Xã hội chúng, đất nước chúng ta theo tôi là nạn nhân của thời cuộc với tất cả những oan trái, tang thương, chia lìa, khốn khổ…”

1.098 - Phan Lạc Tuyên
DƯỚI 3 MÀU ÁO
Nhà dân tộc học sinh 1928 tại Sơn Tây – Mất 2011 ở TPHCM (84 tuổi).
Năm 1951 học lớp sĩ quan VN đầu tiên thời vua Bảo Đại do Pháp đào tạo. Đến 1954 theo đội quân này vào Nam phục vụ chế độ Ngô Đình Diệm.
Gia đình Công giáo nên được chế độ này khá tin dùng, năm 1957 cho đi học Mỹ. Về nước gắn lon đại úy làm chỉ huy phó lực lượng biệt động quân, binh chủng tinh nhuệ thứ ba (sau nhảy dù và thủy quân lục chiến) mới được thành lập của VNCH đóng quân ở Tây Ninh.
Đặc biệt thời này có sáng tác bài thơ “Tình quê hương” nổi tiếng sau khi được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc: “Anh về qua xóm nhỏ/ Em chờ dưới bóng dừa/ Nắng chiều lên mái tóc/ Tình quê hương đơn sơ…”
Có tinh thần quốc gia chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài gia đình trị nên năm 1960 dẫn đầu một liên đoàn biệt động quân tham gia cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm do một số chỉ huy binh chủng nhảy dù khởi xướng (Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông…) nhưng bất thành nên rút về Tây Ninh vượt biên giới qua Campuchia tị nạn chính trị. Vợ con ở nhà bị bắt giam, vợ chịu không nổi sau thành ra tâm thần luôn phải đưa vào dưỡng trí viện thời đó.
Trên đất Campuchia tham gia viết báo, cộng tác với một tờ báo có khuynh hướng thiên tả. Từ đó được Mặt trận Giải phóng miền Nam móc nối gia nhập Mặt trận rồi năm 1963 đưa ra Hà Nội làm một đại diện giới chống đối chế độ NĐ Diệm.
Nhưng dưới chế độ cộng sản chính thống ở miền Bắc, không được tin dùng (không kết nạp Đảng) nên không sử dụng về mặt quân sự nữa mà cho ngồi không một thời gian. Mãi tới năm 1971 mới cho đi học ở… Ba Lan ngành khoa học xã hội!
Đến ngày 30.4.1975 từ Ba Lan về thẳng TPHCM chứng kiến người em ruột sĩ quan VNCH cũng là một nhà thơ – bút danh Phan Lạc Giang Đông – đi cải tạo 13 năm rưỡi (1994 đi Mỹ diện H.O, đã mất 2001).
Được biên chế vào làm việc ở phân viện Khoa học Xã hội VN cơ sở TPHCM do đã tu nghiệp ngành dân tộc học ở Ba Lan. Từ đó chuyên tâm vào nghiên cứu dân tộc học, tôn giáo VN với một số đề tài điền dã về dân tộc Chăm, Chân Lạp…
Cuối đời còn nghiêng qua nghiên cứu Phật học, đi thuyết giảng ở các chùa. Ba năm trước khi mất quyết định quy y – pháp danh Nguyên Tuệ - vào ẩn tu luôn tại một ngôi chùa nhỏ ở TPHCM với niềm tin cuối đời mới tìm thấy:
“Diệu pháp chân như trăng tỏa sáng
Vô thường Bến Nghé lững lờ trôi.
Chân Lạp, Chiêm Thành vô thường cả,
Trí huệ mây trôi nẻo cuối trời.”

1.099 - Phan Nghị
VUA PHÓNG SỰ XÃ HỘI CẢ 2 CHẾ ĐỘ
Nhà báo sinh 1925 tại Hà Nội – Mất 2004 ở TPHCM (80 tuổi).
Thời trai trẻ ở Hà Nội từng có mặt trong Trung đoàn Bảo vệ Thủ đô hơn 50 ngày đẩy lui quân Pháp năm 1945. Nhưng sau đó ở lại Hà Nội bắt đầu sự nghiệp làm báo viết phóng sự chuyên nghiệp.
Năm 1954 di cư vào Nam tiếp tục làm phóng viên chỉ chuyên viết phóng sự xã hội. Thời Ngô Đình Diệm từng bị bắt giam vì có quan điểm chống đối chính quyền.
Nhưng ấy chỉ là nhất thời chứ chỉ tập trung vào nghề nghiệp viết phóng sự xã hội dài kỳ đăng báo. Nổi tiếng với loại đề tài gai góc (tệ nạn xã hội), phong cách thâm nhập thực tế tại chỗ sống thực, cách viết có duyên, hấp dẫn. Được xem là “đệ nhất phóng sự Sài thành”.
Thỉnh thoảng cũng có nhảy vào địa hạt phóng sự chiến trường trong đó có thiên phóng sự “Đường mòn Hồ Chí Minh” lên tận Trường Sơn ăn ngủ để lấy tư liệu và cảm hứng.
Phong cách sống cũng thế – “sống như chính những gì đã viết” – là “dân chơi” kiểu giang hồ đầy vẻ bụi đời, vui vẻ, thoải mái, bộc trực.
Sau 30.4.75 vẫn ở lại và la fmột trong số ít nhà báo chế độ cũ được phép tiếp tục hành nghề (có lẽ nhờ sự hỗ trợ của người thân, bạn bè thời chiến đấu bảo vệ Thủ đô nay từ Bắc vào). Tất nhiên chỉ viết các phóng sự xã hội vô thưởng vô phạt không dính líu gì đến chính trị cho các tạp chí là chính (và bài dịch báo Pháp).
Nhưng từ đó cũng để lại phóng sự “Phở Sài Gòn xưa và nay” đáng kể hay nhất thời này vốn báo chí chỉ thiên về phóng sự “tô hồng” kém chất luợng, giá trị. Đến thời cởi mở hơn còn viết vài phóng sự về “Xóm liều” ở Hà Nội, cà phê ôm đất Sài Gòn cũ…
Ngoài đời vẫn giữ được phong độ “khứa lão” chịu chơi hơn 70 tuổi còn mang găng tay phóng mô tô chạy ào ào!
Qua đời bệnh già, để lại 6 con (2 gái ở nước ngoài).

1.100 - Phan Thế Phương
“THẦN” TÔM ĐẦM PHÁ
Cán bộ nông nghiệp sinh tại Thừa Thiên - Huế – Mất 1991 ở Huế.
Sau 1975 làm giám đốc Sở Thủy sản Thừa Thiên - Huế.
Với phong cách làm việc bình dị gần dân, từ năm 1985 đã tận tụy hết lòng hướng dẫn cho ngư dân vùng đầm phá Tam Giang (huyện Quảng Điền) khởi nghiệp nghề nuôi tôm giúp thoát nghèo giàu lên thấy rõ.
Năm 1991 đang công tác ở Phan Thiết thì được tin ngư dân Tam Giang sau vụ thu hoạch mùa tôm trúng lớn mở tiệc mừng công lớn mời về dự nên vội vã lên xe ra về. Không ngờ nửa đường gặp tai nạn chết tại chỗ!
Dân phá Tam Giang đã lập miếu thờ tôn xưng là “Thần”, là ông tổ khai sinh nghề nuôi tôm đầm phá mỗi năm đều làm lễ giỗ trang trọng.
(Còn tiếp)


Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

VỌNG - HOÀNG THỊ THIỀU ANH



Một nỗi buồn không tên
Làm lòng ta quặn thắt
Giọt mưa nào
chao chát
Rớt xuống đời
chênh vênh

Anh!
Cứ thế
Lặng im
Người trơ như phổng đá
Em !
Vô tình
Rữa nát
Trong anh ...

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

THƠ RỜI QUA TIN NHẮN - LÊ NGỌC THUẬN

1.
Buồn vô hậu nhớ vô chiêu
Rượu say say lại liêu xiêu với tình
Phải tâm vô bóng vô hình
Nên ta hồn vía lênh đênh phương nào
Suốt đời chân thấp chân cao
Bổn lai diện mục xới đào không ra
Phật trong ta vẫn là ta
Phật ngoài ta vẫn là ta yêu người
Phật không khóc Phật chỉ cười
Còn ta thì cứ làm người yêu em

2.
Nằm mơ thấy m.t
Ôm ni cô mà cười
Ta tưởng mình có vợ
Hóa ra còn độc thân

3.
Rượu cũng nhạt như trăng tháng hai
Lòng hư rối buồn đã man khai
Phố chợ xưa chừ không ai tới
Rượu nửa ly chừ ta đã say

4.
Ta yêu người trúng cung sát chủ
Nên cả đời xơ xác lôi thôi
Ôm đàn bà bốn phương tám hướng
Vẫn bóng hình xanh ngát vương phi

5
Cái đầu vô gia cư
Trái tim vô địa táng
Bạn bè đang bận yêu
Ta ngồi đây bí rị
Vô hậu buồn khó khăn